Tải bản đầy đủ
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN

II. CƠ SỞ THỰC TIỄN

Tải bản đầy đủ

Đảng và Bác đã phát huy được sức mạnh to lớn của con người Việt Nam để
vượt qua muôn vàn khó khăn của những năm tháng bị đô hộ, của những thiếu
thốn và thử thách cam go trong cuộc chiến tranh lâu dài vô cùng khốc liệt đem lại
tự do cho dân tộc, đưa đất nước sang một trang mới , thời kì của hoà bình, độc
lập, tự do và phát triển.
Trong suốt thời kì đổi mới, Đảng ta đã hết sức coi trọng vấn đề con người
và chiến lược con người, đặt con người ở trung tâm của mọi sự phát triển. Đó là
tư tưởng tất cả vì con người, tất cả do con người – tư tưởng xuyên suốt thời kỳ
đổi mới và là một trong những nhân tố quan trọng làm nên thành tựu to lớn của
công cuộc đổi mới. Không lúc nào quên lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh, liên
tiếp các kì đại hội từ đại hội VI đến đại hội X, Đảng liên tục đề ra các chủ trương
chính sách lớn cho sự nghiệp phát triển con người, không những phục vụ đắc lực
cho việc phát triển đất nước mà còn nâng cao tầm vóc của người Việt Nam trong
thời đại toàn cầu hiện nay. Tại đại hội VI, Đảng đặt con người vào vị trí trung tâm
của chiến lược kinh tế xã hội , xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ
nghĩa xã hội. Trong văn kiện đại hội lần thứ VII của Đảng có viết: “Đẩy mạnh
hơn nữa sự nghiệp giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, coi đó là quốc sách
hàng đầu để phát huy nhân tố con người – động lực trực tiếp của sự phát triển” .
Đến Hội nghị Trung ương lần thứ 4 khoá VII, Đảng ta nhấn mạnh: “Con người là
vốn quý nhất, chăm lo hạnh phúc cho con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất
của chế độ ta”…Sau 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới, tại đại hội VIII, Đảng
ta đã đúc kết và khẳng định “ lấy việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ
bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”, Khẳng định này được cụ thể hoá thành
những quốc sách lớn sao cho phù hợp với quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá.
Khi công cuộc đổi mới đang đi vào chiều sâu, phải giải quyết những nhiệm vụ hết
sức to lớn và phức tạp thì Đảng ta chủ trương bằng mọi giá phải “khơi dậy trong
nhân dân lòng yêu nước, ý chí quật cường, phát huy tài trí của người Việt Nam,
14

quyết tâm đưa nước nhà ra khỏi nghèo nàn và lạc hậu bằng khoa học và công
nghệ”. Tiếp tục một cách nhất quán tư tưởng chiến lược con người của thời kỳ
đổi mới, đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định: xã hội ta là
xã hội vì con người và coi con người luôn luôn giữ vị trí trung tâm của phát triển
kinh tế, văn hoá và xã hội. Con người, trước hết là tiềm năng và sức mạnh trí tuệ,
tinh thần đạo đức là nhân tố quyết định và là vốn quý nhất của chúng ta trên con
đường xây dựng CNXH. Chính vì vậy đại hội IX chủ trương: chiến lược con
người phải nằm ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế- xã hội trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Các chủ trương của Đảng trong suốt thời kì qua đã được hiện thực hoá qua
các chính sách cụ thể về y tế, văn hoá , giáo dục …Với những nỗ lực không
ngừng, Đảng ta đã tạo ra một bước tiến dài trong quá trình phát triển con người
Việt Nam xã hội chủ nghĩa tiến bộ, dân chủ , toàn diện.

PHẦN II. THỰC TRẠNG CON NGƯỜI VÀ NHÂN CÁCH
CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI HIỆN
NAY
I. Ưu điểm
So với các dân tộc khác trên thế giới, dân tộc Việt Nam có nhiều điều kiện
địa lí tự nhiên thuận lợi nhưng cũng chịu nhiều đau thương mất mát do quá trình
đấu tranh với thiên tai, địch hoạ , lịch sử dân tộc Việt Nam là một chuỗi dài các
cuộc kháng chiến giành và giữ độc lập tự do cho dân tộc. Điều kiện hoàn cảnh
như vậy đã tôi luyện cho con người Việt Nam sớm có tinh thần yêu nước nồng
nàn, ý thức đoàn kết dân tộc, bản lĩnh kiên cường trước mọi khó khăn thử thách,
đức tính cần cù chịu thương chịu khó, sáng tạo và dũng cảm . Tinh thần đó đã ăn
sâu vào tiềm thức và trở thành truyền thống quý báu của con người Việt Nam
15

hiện nay. Với cái nền truyền thống vững vàng đó, cùng với sự lãnh đạo tài tình và
sang suốt của Đảng , trong giai đoạn đổi mới hiện nay, con người Việt Nam đã có
những bước phát triển vượt bậc Tình trạng nghèo đói giảm rõ rệt, chỉ còn xấp xỉ
12% theo chuẩn cũ và 20% theo chuẩn mới.Về thể lực và sức khoẻ, chiều cao
trung bình tăng trong lứa tuổi từ 6-17 tăng so với thập kỉ 80 là 4,68cm đối với
nam và 2,24cm đối với nữ. Tuổi thọ trung bình tăng gần 10 tuổi lên mức 71 tuổi.
Về giáo dục, 94% dân số(từ 15 tuổi trở lên) biết chữ, vượt xa tỉ lệ của các nước
đang phát triển cùng điều kiện , 100% trẻ em trong độ tuổi đến trường được đi
học, trình độ dân trí ngày càng được nâng cao, cơ sở vật chất cho giáo dục càng
luôn được đổi mới đáp ứng yêu cầu của xã hội . Về y tế , chính 100% trẻ em được
tiêm chủng, Việt Nam đã thanh toán xong các bệnh bại liệt , ho gà , sởi ở trẻ em ,
đây là một thành tựu to lớn được thế giới đánh giá cao , các cơ sở y tế đã về đến
tận xã đảm bảo công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân , đi cùng là
hiện đại hoá các cơ sở y tế tuyến trên, bắt kịp nền y học tiên tiến của khu vực và
thế giới Nhờ những thành tựu liên tục trong suốt 20 năm đó, chỉ số phát triển con
người của Việt Nam liên tục gia tăng , từ vị trí 120/177 năm 1995 lên 108 năm
2005 , Việt Nam trở thành điểm sáng về phát triển con người. Trong lĩnh vực đời
sống tinh thần , kể từ khi đất nước mở cửa và hội nhập , nhiều trào lưu của các
nền văn hoá bên ngoài, đặc biệt là văn hoá phương Tây du nhập vào nước ta ,
song hành cùng nền văn hoá truyền thống, bởi vậy nền văn hoá hiện tại cởi mở
hơn , hiện đại hơn và gần gũi hơn với các nền văn hoá phương Tây, con người
mới được xã hội bồi đắp thêm những phẩm chất mới , đó là tinh thần sáng tạo,
năng động, khát vọng làm giàu , là tinh thần quyết đoán , là sự tin , sự nhanh nhạy
trước những biến đổi của xã hội, nhu cầu hưởng thụ cũng cao hơn và phức tạp
hơn . Con người mới theo mục tiêu xây xựng của Đảng “phát triển cao về trí tuệ ,
cường tráng về thể chất , phong phú về tinh thần , trong sang về đạo đức” dần
được hoàn thiện.
16

II. Nhược điểm
Thành tựu chúng ta đạt được là rất lớn, tuy vậy khi nhìn thẳng vào thực tế
thì vấn đề con người vẫn còn nhiều điều đáng suy nghĩ, bởi so với trình độ phát
triển chung của thế giới, Việt Nam vẫn là một nước đi sau, do vậy trình độ giáo
dục y tế tuy có nhiều tiến bộ song vẫn ở tình trạng lạc hậu, công tác quản lí của
nhà nước có nhiều hạn chế làm cho các chủ trương của Đảng chưa thực sự đi vào
thực tiễn. Nền kinh tế thị trường tạo ra bước nhảy cho kinh tế nhưng cũng khoét
sâu hố ngăn cách giàu nghèo, tình trạng bất bình đẳng là khó tránh khỏi. Dấu vết
cuả nền kinh tế tiểu nông vẫn còn ảnh hưởng không nhỏ đến một bộ phận dân cư,
đặc biệt là vùng nông thôn , đó là tư tưởng tiểu nông , cục bộ , bảo thủ trì trệ, làm
ăn tản mạn, thiếu đầu óc tổ chức,thói quen tuỳ tiện bừa bãi,cùng tư tưởng “trọng
nông khinh thương”, bất hợp tác đã bám rễ sâu vào trong đời sống nhân dân, điều
này đã và đang trở thành một bước cản lớn đối với quá trình đổi mới của nước ta
bởi 70% dân số sống ở nông thôn .Các tư tưởng này còn len lỏi vào đời sống dân
cư thành thị, làm bộ mặt đời sống đô thị méo mó, mất đi sự thanh lịch bởi sự
thiếu ý thức , không tôn trọng các luật lệ chung.Chúng ta đã gia nhập hầu hết các
sân chơi chung của thế giới, do đó những tư tưởng của một nền sản xuất nhỏ lẻ
sẽ trở thành một bước cản vô hình cho quá trình tiến lên sản xuất lớn, kinh doanh
lớn đòi hỏi sự tôn trọng và hiểu biết, khả năng nhạy bén, tinh thần hợp tác ... .
Nền kinh tế thị trường phát triển mới 20 năm nhưng đã chi phối đời sống vật chất
và tinh thần của các tầng lớp dân cư, đặc biệt ở khu vực đô thị. Các nền văn hoá
phương Tây du nhập làm văn hoá truyền thống bị mờ nhạt, các giá trị đạo đức,
truyền thống đấu tranh của dân tộc bị lu mờ trước lối sống gấp gáp ,vô tâm,thờ ơ
ham hưởng thụ đến từ bên ngoài. Thêm vào đó, tư tưởng đồng tiền đang chi phối
cả cuộc sống trong gia đình và ngoài xã hội, vì đồng tiền mà các quan chức nhà
nước sẵn sàng tham nhũng của dân, làm xói mòn lòng tin của dân vào Đảng , vì
đồng tiền mà các quan hệ thân thiết gần gũi như anh em , vợ chồng, bạn bè…sẵn
17

sàng bị đổ vỡ nhanh chóng.Sự biến đổi to lớn, sâu sắc của đời sống kinh tế đã tác
động mạnh mẽ đến nhận thức và hành động của con người Việt Nam , đến lí
tưởng và đạo đức của họ, các chuẩn mực đạo đức dần thay đổi, theo một cuộc
điều tra xã hội học, con người Việt Nam từ chỗ coi trọng các giá trị chính trị -xã
hội chung sang coi trọng các giá trị vật chất , từ chỗ lấy con người xã hội tập thể
làm mẫu mực chuyển sang chỗ quá nặng nề về con người cá nhân, thậm chí cá
nhân chủ nghĩa.Từ chỗ coi đức làm gốc trong quan hệ nhân cách chuyển sang coi
nhẹ đạo đức. Thanh niên ngày nay năng động song lại không có lí tưởng vững
vàng, cao đẹp như thế hệ cha anh, tinh thần cách mạng dần bị lãng quên trong
giới trẻ, họ chưa ý thức được trách nhiệm xây dựng đất nước của mình để xứng
đáng với máu xương mà lớp lớp cha anh đã ngã xuống vì tự do cho dân tộc, tinh
thần dân tộc nhường chỗ cho tư tưởng cá nhân, lí tưởng xã hội chủ nghĩa mà
Đảng ta đang xây đắp gần như bị bỏ ngỏ, kết quả là sự chảy máu chất xám ra bên
ngoài luôn ở trong tình trạng đáng báo động bởi họ đã chọn nơi tốt hơn để cống
hiến, đất nước mất đi “tài nguyên” vô giá.Thanh niên ngày nay, họ tự tin với thế
hệ đi trước rằng mình là những con người của thời đại mới luôn nhanh nhạy và
năng động nhưng khi đứng trước bạn bè quốc tế, họ lại thể hiện “một sự tự ti vĩ
đại” họ thiếu niềm tin vào sự trỗi dậy của dân tộc, thậm chí còn có một bộ phận
thanh niên sa vào các tệ nạn xã hội , làm thoái hoá nghiêm trọng cả thể chất và
tinh thần, trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Dân tộc ta có truyền thống
hiếu học nhưng nền giáo dục phong kiến đang để lại những “di chứng” nặng nề
cho thế hệ thanh niên ngày nay nay, đó là việc học mang nặng tính lí thuyết, xa
rời thực tế, là tư tưởng bằng cấp, khiến thanh niên rơi vào tình trạng học tủ, học
để có bằng mà không có tinh thần sáng tạo vươn lên ,thụ động chấp nhận cuộc
sống hưởng thụ an phận, ngại va chạm thử thách. Điều này trở nên đặc biệt nguy
hiểm bởi thanh niên chính là những người chủ tương lai của đất nứơc , quyết định
vận mệnh dân tộc, nếu không có một lí tưởng cộng sản vững vàng , một thể chất,
18

tinh thần và trí tuệ khoẻ mạnh thì sự nghiệp phát triển đất nước đi lên con đường
xã hội chủ nghĩa khó thành hiện thực.

III. Nguyên nhân của những hạn chế
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, có thể kể đến các
nguyên nhân sau:
Thứ nhất, nền kinh tế nước ta tuy có những bước phát triển trong vài
năm gần đây nhưng vẫn đang là một trong những nền kinh tế kém phát triển, đại
bộ phận dân cư còn nghèo trong khi nền kinh tế thị trường đòi hỏi sự cạnh tranh
khốc liệt, do đó mối lo kinh tế làm con người bất chấp thủ đoạn gây ra những tiêu
cực trong xã hội và sự đi xuống của nhân cách.Bên cạnh đó, người lao động chưa
thực sự được gắn với tư liệu sản xuất làm cho tinh thần lao động cùng ý thức
tránh nhiệm chưa cao, nó làm giảm đi không những năng suất lao động mà còn
mai một cả phẩm chất cần cù chăm chỉ vốn có của nhân dân ta.
Thứ hai, nền kinh tế thị trường thay thế nền kinh tế tập trung quan liêu bao
cấp trước đây đã làm cho nền kinh tế phát triển sôi động, đất nước mở cửa hội
nhập và sự du nhập các nền văn hoá ngoại lai là điều khó tránh khỏi ,bên cạnh
những tích cực,có cả những mặt tiêu cực. Những mặt tiêu cực ấy bằng hình thức
này hay hình thức khác, chúng xâm nhập và tuyên truyền cho lối sống thực dụng
tư sản, chúng trực tiếp gặm nhấm ăn mòn những nguyên tắc đạo đức xã hội chủ
nghĩa, giá trị truyền thống của dân tộc , làm tha hoá con người.
Thứ ba, do công tác tuyên truyền giáo dục của Đảng còn có nhiều hạn chế,
và đi theo lối mòn, thời đại ngày nay khác hẳn so với thời đại kháng chiến 30 năm
trước, do vậy những phương pháp tuyên truyền không còn phù hợp với giới trẻ
giàu sự năng động, luôn khát khao những điều mới lạ. Đã có những lúc chúng ta
quá chú trọng đến vấn đề phát triển kinh tế mà sao nhãng vấn đề giáo dục tư
tưởng đạo đức, lí tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ, hậu quả là thế hệ trẻ ngày nay
thiếu hẳn một bầu nhiệt huyết với sự nghiệp cách mạng của Đảng, với con đường
19

đi lên của dân tộc.
Thứ tư , chúng ta bước ra từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu để hoà mình
vào sân chơi chung của thế giới, do đó những lề thói làm ăn , tư tưởng nông
nghiệp lạc hậu cũ kĩ len lỏi vào trong đời sống xã hội là điều không thể tránh khỏi
.
Thứ năm, đó là do ý thức của mỗi cá nhân trong xã hội, có thể nói người
Việt Nam rất anh dũng quả cảm khi đất nước có biến nhưng khi thời bình lại rất
an phận không dám đấu tranh với cái xấu của xã hội cũng như của chính bản thân
mình, nhất là trong điều kiện hiện nay, khi đất nước mới phát triển chưa được bao
nhiêu đã vội tự mãn với những thành quả đạt được, không trau dồi cố gắng.
Đó là những nguyên nhân quan trọng dẫn tới những mặt chưa tốt của con
người Việt Nam hiện nay

PHẦN III. CÁC GIẢI PHÁP
Đứng trước tình hình đó, chúng ta cần phải có những biện pháp thực sự
quyết liệt và hiệu quả, có thể nêu ra một số biện pháp sau:
Thứ nhất, cần đẩy mạnh và đẩy nhanh công cuộc phát triển kinh tế, đi đôi
với thực hiện các công bằng xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân. Trong sản
xuất cần lấy người lao động làm trung tâm, gắn người lao động với tư liệu sản
xuất, phát huy tinh thần dân chủ, sáng kiến của người lao động, qua đó rèn rũa
cho người lao động phẩm chất của giai cấp công nhân và của con người Việt Nam
hiện đại, năng động sáng tạo, cần cù thông minh, có tinh thần hợp tác và chia sẻ.
20