Tải bản đầy đủ
Quan niệm của triết học Mác-Lênin về con người và nhân cách con người

Quan niệm của triết học Mác-Lênin về con người và nhân cách con người

Tải bản đầy đủ

của các quá trình xã hội và là chủ thể sáng tạo duy nhất. Ở triết học Mác , con
người hiện lên đầy đủ với cả hai mặt sinh học và mặt xã hội cùng thống nhất và
có sự tác động qua lại , con người trước hết phải là một “ thực thể tự nhiên”, là
con người sinh học với tư cách là một bộ phận của giới tự nhiên, được sinh ra và
là kết quả cao nhất của quá trình tiến hoá tự nhiên , do vậy nó gắn bó chặt chẽ với
tự nhiên và chịu sự quy định của những quy luật của tự nhiên. Nói như Mác “ tự
nhiên là thân thể vô cơ của con người”, quan điểm đó bác bỏ hoàn toàn luận điểm
của chủ nghĩa duy tâm khi thần thánh hóa nguồn gốc của con người. Coi trọng
mặt sinh học của con người, coi nó như một tính tất yếu trong quá trình phát triển
loài người, nhưng Mac không quá tuyệt đối hoá mặt sinh học như chủ nghĩa duy
vật siêu hình. Chủ nghĩa Mác kịch liệt phê phán tư tưởng cho rằng cái giá trị nhất
ở con người là cái sinh vật , bản chất con người là bản chất sinh vật, còn những
thứ như tư tưởng tình cảm , ước mơ hoài bão …chỉ là thứ trừu tượng, mơ hồ,
không có ý nghĩa hiện sinh, bởi những tư tưởng như vậy sẽ đẩy tới việc giải quyết
vấn đề con người chỉ là sự thoả mãn về nhu cầu vật chất, bản chất của con người
đến gần với bản chất con vật, không thấy được vị trí chủ thể của con người đối
với thế giới. Con người sống, trước hết phải thoả mãn những nhu cầu về ăn ở, đi
lại, các điều kiện sinh hoạt diễn ra hàng ngày và phải đấu tranh để sinh tồn như
mọi động vật khác nhưng đó không phải là tất cả những điều làm nên bản chất,
nhân cách con người.C ái để phân biệt con người với con vật phải là ý thức, phải
là cái xã hội trong mỗi con người . Trước Mác, các nhà triết học cũng đã phân
biệt con người với con vật dưới nhiều góc độ có sức thuyết phục , Phranhklin cho
rằng con người khác con vật ở chỗ biết sử dụng công cụ lao động , Arixtot đã gọi
con người là một động vật có tính xã hội, Pascal nhấn mạnh đặc điểm và sức
mạnh của con người là con người biết suy nghĩ, các quan niệm trên đều đúng
nhưng chưa đủ vì chỉ nhấn mạnh một khía cạnh nào đó trong bản chất xã hội của
con người chỉ đến khi có quan niệm của Mác, bản chất con người mới được
8

phản ánh đầy đủ và toàn diện, Mác nói “ có thể phân biệt con người với súc vật
bằng ý thức, tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì. Bản thân con người bắt đầu
phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh
hoạt của mình , như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất
của mình”. Con người trong quan niệm của chủ nghĩa Mác được nhấn mạnh đến
tính xã hội, đến vai trò lao động sản xuất, cải tạo tự nhiên, “con vật chỉ tái sản
xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái sản xuất ra toàn bộ xã hội”. Có nhiều ý
kiến cho rằng xã hội cũng xuất hiện ở các loài vật bởi chúng cũng có cuộc sống
bầy đàn tinh vi phức tạp, nhưng cần phải hiểu con vật thì chỉ hành động theo bản
năng, theo nhu cầu của riêng chúng, đảm bảo sự sinh tồn cho giống nòi, nó khác
xa xã hội con người bởi xã hội con người không chỉ là môi trường tồn tại của
từng thành viên, mà hơn thế nữa nó còn được liên tục phát triển bởi tác động của
từng cá nhân vào chính nó một cách có ý thức, như Mác nói “ xã hội sản xuất ra
con người với tính cách như thế nào thì nó cũng sản xuất ra xã hội với tính cách
như thế ấy”. Có thể nói , chỉ khi tồn tại trong xã hội, con người mới thể hiện bản
chất của mình, bởi con người cần đến xã hội ban đầu là do nhu cầu sản xuất vật
chất, nhưng trong quá trình sản xuất ấy con người sáng tạo ra đời sống tinh thần,
ngôn ngữ, tư duy và nhân cách thông qua giao tiếp với các thành viên khác , nói
cách khác con người hình thành bản chất người trong qúa trình giao tiếp với xã
hội , nếu không có quá trình này , con người không thể trở thành một con người
xã hội. Ngay cả bản chất sinh học của con người cũng không phải tồn tại bên
cạnh bản chất xã hội mà hoà vào quyện vào và tồn tại bên trong yếu tố xã hội.
Việc ăn ngủ, sinh hoạt hàng ngày của con người không đơn thuần chỉ là những
nhu cầu sinh học không hề bị ảnh hưởng, mà trái lại, nó thường xuyên bị tác động
từ yếu tố xã hội của con người đó như công việc hay các mối quan hệ. Do vậy có
thể nói yếu tố xã hội là thứ chi phối hàng đầu bản chất của một con người. Trước
Mác, triết gia duy vật xuất sắc của nền triết học cổ điển Đức Phoiơbăc cũng đã đề
9

cập đến bản chất xã hội của con người tuy vậy con người trong triết học của
Phoiơbăc bị tách rời hoàn toàn yếu tố xã hội, là con người chung chung, phi giai
cấp , không chỉ ra được quá trình phát triển liên tục của xã hội và con người, đánh
mất đi vai trò sang tạo to lớn đối với lịch sử cuả nhân loại. Thấy rõ hạn chế đó,
triết học Mác đã đưa con người vào trong chính hiện thực xã hội, vào trong chính
thực tiễn cuộc sống, kinh nghiệm của họ để tìm hiểu bản chất của con người, do
đó con người trong chủ nghĩa Mác là con người của hiện thực , của lịch sử cụ thể,
tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với cộng đồng, lịch sử. Trong bức thư gửi
Ăngghen phê phán quan niệm siêu giai cấp của Phoiơbăc về con người, Mác đã
viết “ Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân
riêng biệt . Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các quan
hệ xã hội”. Với câu nói bất hủ này, Mác đã đưa bản chất con người trở lại đúng vị
trí lịch sử vốn có của nó, đồng thời khẳng định bản chất con người không phải là
tổng số đơn giản các mối quan hệ, mà là “tổng hoà” các mối quan hệ xã hội , điều
đó có nghĩa bản chất con người được hình thành từ muôn vàn các mối quan hệ
đan xen, phức tạp, do vậy bản chất con người cũng là một phạm trù thực sự phức
tạp.
 Vai trò chủ thể của con người đối với lịc sử
Khi khẳng định con người với tư cách là một thực thể tự nhiên đặc thù, tồn
tại trong mối liên hệ và tác động qua lại khăng khít với các vật thể tự nhiên khác,
chủ nghĩa Mác cũng đồng thời khẳng định sức mạnh và khát vọng chinh phục là
đặc trưng tích cực về mặt tự nhiên của con người. Ăngghen khẳng định nhờ có
lao động mà con người từ vượn có thể tiến hoá được thành người, nhưng có thể
chính khát vọng chinh phục thế giới đã đưa con người trở thành chủ thể sáng tạo
không ngừng của thế giới. Con người vẫn là sản phẩm của quá trình tiến hoá lâu
dài của tự nhiên, lịch sử song quan trọng hơn tất cả, con người lại luôn luôn là
chủ thể của chính lịch sử - xã hội, Ăngghen nói “Thú vật cũng có một lịch sử
10

phát triển dần dần của chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng. Nhưng lịch sử
ấy không phải do chúng làm ra và trong chừng mực mà chúng tham dự vào việc
làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng ta không thể biết và không phải do
ý muốn của chúng. Ngược lại, con người ngày càng cách xa con vật, hiểu theo
nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lại càng tự mình làm ra lịch sử của
mình một cách có ý thức bấy nhiêu”, Lenin cũng khẳng định “Lực lượng sản
xuất hàng đầu của thế giới là người công nhân, người lao động”. Như vậy, với tư
cách là một thực thể xã hội có ý thức, con người lao động tác động vaò thế giới tự
nhiên , cải biến thế giới tự nhiên, điều này khác con vật ở chỗ con vật chỉ dựa vào
những điều kiện những điều kiện có sẵn của tự nhiên, phụ thuộc hoàn toàn vào tự
nhiên để sinh tồn trong khi con người thông qua hoạt động phong phú của mình
làm chuyển biến thế giới tự nhiên, sinh động thế gới tự nhiên , bắt tự nhiên phục
vụ lợi ích của mình , tái tạo lại một tự nhiên thứ hai theo mục đích của mình. Với
một bộ óc thông minh cùng khát khao chinh phục,con người từng bước làm chủ
tự nhiên , thông qua đó thúc đẩy xã hội của mình phát triển. Mác nói “ Toàn bộ
cái gọi là lịch sử thế giới chẳng qua chỉ là sự sáng tạo con người kinh qua lao
động của con người, sự sinh thành của tự nhiên cho con người”. Trong khi cải
tạo tự nhiên phục vụ lợi ích của mình, con người cũng đồng thời làm ra lịch sử
của chính mình, chúng ta đều biết mỗi cá nhân đều chịu tác động của xã hội, cuả
hoàn cảnh lịch sử, tuy vậy con người không phải là vật bị động đối với những tác
động ấy, trái lại từng cá nhân cũng tác động trở lại lịch sử xã hội, lịch sử xã hội là
lịch sử của chính bản thân con người. Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều
kiện cho sự tồn tai con người, vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ
mặt xã hội, thông qua hoạt động vật chất và tinh thần con người thúc đẩy xã hội
phát triển từ thấp đến cao, phù hợp với mục tiêu và nhu cầu do con người đặt ra.
Không có hoạt động của con người thì cũng không tồn tại quy luật xã hội, và do
đó không có sự tồn tại của toàn bộ lịch sử xã hội loài người.Tất cả những điều
11

trên thể hiện một cách nhìn mới, cách nhìn biện chứng, khoa học về con người,
tạo nên một bước ngoặt mang tính cách mạng trong lĩnh vực tư tưởng về con
người. Quan niệm của chủ nghĩa Mac đã xoá tan một cách triệt để lớp màn huyền
ảo , thần bí bấy lâu bao quanh con người, vạch ra bản chất đích thực, đầy sức
thuyết phục về con người .
b. Nhân cách và vai trò của nó trong đời sống con người
Nhân cách là một phần quan trọng trong mỗi cá nhân con người. Nó là bộ
mặt tâm lí , tổ hợp thái độ riêng, thuộc tính riêng biểu hiện bản sắc và giá trị xã
hội của cá nhân với tư cách là chủ thể của hoạt động, giao tiếp. Người ta sinh ra là
người nhưng nhân cách chỉ hình thành trong hoạt động giao tiếp, về thực chất, đó
là quá trình xã hội hoá cá nhân, tiếp thụ các giá trị văn hoá của gia đình, cộng
đồng, xã hội. Nhân cách có tính chất xã hội , đồng thời cũng mang tính cá biệt,
với những kinh nghiệm , nếp suy nghĩ tình cảm, hoài bão, niềm tin, định hướng
giá trị, tính cách riêng, tạo ra tính đa dạng của các cá nhân. Nhân cách biểu hiện
cái tôi của mỗi cá nhân. Mỗi hành vi của cá nhân đều in dấu ấn của nhân cách,
bởi suy nghĩ có ảnh hưởng trực tiếp đến hành động, một nhân cách tốt sẽ có
những hành động phù hợp giữa lợi ích cá nhân và cộng đồng, trái lại một nhân
cách xấu sẽ dẫn đến những hành vi đi ngược lại lợi ích và sự phát triển chung.
Với vai trò quan trọng như vậy, nhân cách đã rất được các triết gia từ cổ chí kim
chú ý. Triết học Mác khẳng định nhân cách không phải do bấm sinh mà có, nó
được hình thành và phát triển dựa vào các yếu tố sinh học, tư chất di truyền học,
sự tác động qua lại biện chứng của gia đình, nhà trường, xã hội và thế giới quan
cá nhân. Nhân cách là thế giới quan bên trong của từng cá nhân, tuy vậy nó cũng
mang tính lịch sử bởi thế giới quan của cá nhân cũng bị ảnh hưởng của tính chất
thời đại như vị trí lợi ích của cá nhân trong xã hội , khả năng thẩm định đạo đứcnhân văn và kinh nghiệm của mỗi cá nhân. Một xã hội tiến bộ chỉ có thể được xây
12

dựng bởi những con người có nhân cách tích cực và ngược lại, chỉ khi có một xã
hội tiến bộ thì những cá nhân mới có cơ hội bồi dưỡng và phát huy hết nhân cách
theo hướng tích cực, nâng cao vai trò chủ thể sáng tạo đối với tự nhiên và xã hội.
Do vậy trong sự nghiệp phát triển con người không thể xem nhẹ cả việc phát triển
xã hội lẫn giáo dục nhân cách.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN
 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh đối với
vấn đề con người và nhân cách con người
Thấm nhuần những tư tưởng cách mạng về con người của chủ nghĩa MacLênin, đồng thời cũng xuất phát từ truyền thống lấy dân làm gốc của dân tộc ta,
Đảng cộng sản Việt Nam và chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn khẳng định và nhất
quán với quan điểm con người là vốn quý báu và giữ vai trò quyết định trong sự
thành bại của mọi hoạt động, là sức mạnh nội sinh của dân tộc Việt Nam. Đặc
biệt ở chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta thấy một sự quan tâm lớn lao của Bác dành
cho con người. Trong tư tưởng của Người, con người luôn chiếm một vị trí chủ
chốt. Nhìn thấy vai trò và sức mạnh to lớn của con người, khi sinh thời Người rất
quan tâm đến chăm lo và bồi dưỡng thế hệ trẻ đặc biệt về tư tưởng đạo đức, kết
quả của sự bồi dưỡng ấy là một thế hệ thanh niên thời đại Hồ Chí Minh anh dũng
kiên cường, quả cảm, chính họ đã làm nên một trong những chiến thắng oanh liệt
nhất trong lịch sử, “vang dội năm châu, chấn động địa cầu” chiến thắng 30-4.
Người dành sự quan tâm đến con người bằng cả cuộc đời cách mạng của mình,
trong di chúc, Người cũng dặn lại “Đầu tiên là việc đối với con người”. Vậy là
“Khái niệm con người tựa hồ như đã mở ra và khép lại quá trình tư duy và hoạt
động của Hồ Chí Minh. Suốt quá trình ấy, vấn đề giải phóng dân tộc đem lại tự
do, hạnh phúc cho con người và xây dựng rèn luyện con người bao giờ cũng là
mục tiêu của hoạt động yêu nước và cách mạng Hồ Chí Minh”.Cũng nhờ quan
tâm đến lợi ích của nhân dân, đặt nhân dân làm mục tiêu phụng sự hàng đầu,
13

Đảng và Bác đã phát huy được sức mạnh to lớn của con người Việt Nam để
vượt qua muôn vàn khó khăn của những năm tháng bị đô hộ, của những thiếu
thốn và thử thách cam go trong cuộc chiến tranh lâu dài vô cùng khốc liệt đem lại
tự do cho dân tộc, đưa đất nước sang một trang mới , thời kì của hoà bình, độc
lập, tự do và phát triển.
Trong suốt thời kì đổi mới, Đảng ta đã hết sức coi trọng vấn đề con người
và chiến lược con người, đặt con người ở trung tâm của mọi sự phát triển. Đó là
tư tưởng tất cả vì con người, tất cả do con người – tư tưởng xuyên suốt thời kỳ
đổi mới và là một trong những nhân tố quan trọng làm nên thành tựu to lớn của
công cuộc đổi mới. Không lúc nào quên lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh, liên
tiếp các kì đại hội từ đại hội VI đến đại hội X, Đảng liên tục đề ra các chủ trương
chính sách lớn cho sự nghiệp phát triển con người, không những phục vụ đắc lực
cho việc phát triển đất nước mà còn nâng cao tầm vóc của người Việt Nam trong
thời đại toàn cầu hiện nay. Tại đại hội VI, Đảng đặt con người vào vị trí trung tâm
của chiến lược kinh tế xã hội , xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ
nghĩa xã hội. Trong văn kiện đại hội lần thứ VII của Đảng có viết: “Đẩy mạnh
hơn nữa sự nghiệp giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, coi đó là quốc sách
hàng đầu để phát huy nhân tố con người – động lực trực tiếp của sự phát triển” .
Đến Hội nghị Trung ương lần thứ 4 khoá VII, Đảng ta nhấn mạnh: “Con người là
vốn quý nhất, chăm lo hạnh phúc cho con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất
của chế độ ta”…Sau 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới, tại đại hội VIII, Đảng
ta đã đúc kết và khẳng định “ lấy việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ
bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”, Khẳng định này được cụ thể hoá thành
những quốc sách lớn sao cho phù hợp với quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá.
Khi công cuộc đổi mới đang đi vào chiều sâu, phải giải quyết những nhiệm vụ hết
sức to lớn và phức tạp thì Đảng ta chủ trương bằng mọi giá phải “khơi dậy trong
nhân dân lòng yêu nước, ý chí quật cường, phát huy tài trí của người Việt Nam,
14