Tải bản đầy đủ
Quan điểm của triết học phương Tây về con người.

Quan điểm của triết học phương Tây về con người.

Tải bản đầy đủ

mỗi con người có một phần bản chất thiên thần và con người nên làm nhiều hơn
là nói, trong khi Platon cho rằng chỉ có những nhà thông thái , tầng lớp quý tộc
mới có nhân cách và là đỉnh cao của trí tuệ. Những quan điển về nhân cách ấy tuy
có đôi chút tiến bộ song vẫn mang nặng tính giai cấp, không lí giải được sự tác
động của đời sống xã hội và phẩm chất riêng có của từng cá nhân đến sự hình
thành nhân cách. Còn rất nhiều những triết gia, học trò hay những người theo
trường phái duy vật mộc mạc của Đêmôcrit hay duy tâm khách quan của Platôn
đưa ra những học thuyết khác về nguồn gốc con người , về linh hồn và thể xác ,về
nhân cách đạo đức nhưng có thể nói các học thuyết về con người của triết học Hi
Lạp cổ đại tuy đã có những nhận thức đúng đắn về vai trò và vị trí của con người
đối với thế giới , nhưng vẫn mang nặng tính mộc mạc thô sơ, bề ngoài trong cách
lí giải ở trường phái duy vật hay thần bí hoá , duy tâm hoá trong cách lí giải ở
trường phái duy tâm . Nhưng với những tư tưởng phong phú và rộng mở , mang
triết học con người Hi Lạp cổ đại xứng đáng là tiền đề cho các tư tưởng tiến bộ
thời sau.
Khác với sự phong phú trong triết học Hi Lạp cổ đại , nền triết học kinh
việnTây Âu thời kì trung cổ lại thể hiện một sự trì trệ và bảo thủ đến cực đoan ,
có thể coi đây là một bước thụt lùi khá xa so với triết học thời kì cổ đại , bởi
những giá trị tiến bộ bị chôn vùi trong khi những tư tưởng sai lầm lại được khai
thác triệt để phục vụ cho giáo lí nhà thờ. Nền triết học thấm nhuần tinh thần duy
tâm chủ nghĩa , coi khinh mọi tri thức phương pháp quan sát thực nghiệm chính
bởi vậy mà vấn đề con người và nhân cách dường như bị lãng quên . Con người
trong thời kì này dường như quá nhỏ bé trước đức Chúa , các triết gia-giáo sĩ thời
kì này quan niệm rằng Chúa sinh ra loài người , mọi số phận , buồn vui , sự may
rủi đều do Chúa sắp đặt , con người trở thành một sinh vật thụ động chỉ biết thờ
phụng Chúa ,nhân cách được đo bằng lòng tôn sùng Chúa , con người bằng lòng
chấp nhận cuộc sống tạm bợ trên trần thế , mong chờ được Chúa cứu rỗi ở thế
5

giới bên kia. Có thể nói đây là những tư tưởng thực sự kìm hãm sự phát triển của
con người, trở thành bước cản cho sự vận động và phát triển của xã hội cũng như
nền triết học Tây Âu. Phải đến thời kì Phục hưng và cận đại thì triết học mới thực
sự trở lại vị trí mà nó vốn phải có, với cái nền thực sự vững chắc là triết học Hi
Lạp cổ đại , triết học thời kì này đã kế thừa và phát triển hầu hết những giá trị mà
thời kì cổ đại đã sáng tạo ra, theo lẽ đó con người lại được đặt trở lại vị trí trung
tâm, không chỉ trong triết học mà còn trong thơ ca, hội hoạ. Thời kì này, những
phát minh khoa học về cơ học, về thiên văn học, sinh học đã mở ra một thế giới
quan mới cho con người, vai trò trí tuệ lí tính được đặc biệt coi trọng, con người
dần thoát khỏi những triết lí ru ngủ của nhà thờ dần đi đến nhận thức khả năng
làm chủ của cá nhân.Thời kì này, mối quan hệ giữa con người với thế giới lại trở
thành trung tâm của các quan niệm triết học. Nhờ làm chủ khoa học, con người
nhận ra thế giới là thế giới vật chất . Đặc biệt từ sau những phát minh trong ngành
sinh học, con người dần nhận ra nguồn gốc và đặc tính sinh vật của mình, không
còn con người thần thánh bí ẩn. Tuy vậy khi phát hiện ra điều đó, các triết gia lại
nhanh chóng đồng nhất bản chất sinh học thành bản chất chủ yếu của con người,
giải thích các hành vi của con người bằng các đặc tính sinh học, khiến ranh giới
giữa con người với con vật gần như bị xoá nhoà, không thấy được mặt xã hội
trong mỗi con người. Quan niệm siêu hình này bắt nguồn từ tính chất siêu hình
của khoa học thời kì đó.Tuy nhiên tư tưởng giải phóng con người khỏi những
giáo lí khắc nghiệt của nhà thờ , đưa trả con người lại vị trí trung tâm là một cống
hiến lớn lao của triết học thời kì trung cận đại.
Đến nền triết học cổ điển Đức thì nhận thức triết học về con người đã có
những bước tiến đáng kể, các trường phái duy vật và duy tâm đều đạt đến đỉnh
cao trong triết học của Hêghen (duy tâm) và Phoiơbăc(duy vật). Hêghen với thế
giới quan duy tâm cho rằng con người được sinh ra từ ý niệm bị tha hoá, tuy vậy
với hạt nhân hợp lí là phép biện chứng , ông đã trình bày một cách có quy luật hệ
6

thống về quá trình tư duy của con người , đồng thời khẳng định vai trò chủ thể
của con người đối với lịch sử đồng thời là sản phẩm của lịch sử Phoiơbăc kịch
kiệt phản bác học thuyếtcủa Hêghen, ông là người có thế giới quan duy vật triệt
để, do vậy ông khẳng định nguồn gốc và bản chất tự nhiên của con người, khi đề
cập đến vấn đề thượng đế, ông đã khẳng định không phải Thượng đế tạo ra con
người mà chính con người đã tạo ra Thượng đế của mình.Do vậy ông phủ nhận
mọi thứ tôn giáo và thần học về một vị thượng đế siêu nhiên, đứng ngoài , sáng
tạo ra con người, chi phối cuộc sống của con người. Tuy vậy Phoiơbăc vẫn mắc
phải hạn chế khi tuyệt đối hoá thuộc tính sinh học, tách con người ra khỏi hoàn
cảnh lịch sử, con người trong triết học Phoiơbăc là con người chung chung, phi
giai cấp. Tất cả những nhược điểm trên sẽ được khắc phục ở triết học Mác-Lênin
3. Quan niệm của triết học Mác-Lênin về con người và nhân cách con người
a. Đặc điểm và vai trò của con người
 Con người là thể thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội
Đã có ý kiến cho rằng toàn bộ học thuyết Mác là học thuyết đấu tranh
cho sự giải phóng và phát triển con người. Quả đúng vậy, có thể nói con người là
trung tâm của học thuyết Mác, tất cả những tư tưởng lập luận về thế giới vật chất
hay về xã hội đều với mục đích cao nhất là đặt con người vào đúng vị trí và vai
trò lịch sử của mình. Kế thừa có chọn lọc những tinh hoa trong tìm hiểu nghiên
cứu về con người của các nền triết học thời kì trước, cùng với sự tư duy sáng
tạo , thiên tài, các nhà kinh điển của triết học Mác đã khắc phục được những
nhược điểm trong các học thuyết nói về con người trước đây. Đứng trên lập
trường duy vật triệt để, cùng với phép biện chứng kế thừa từ triết học Hêghen,
triết học Mác xem con người không chỉ là một bộ phận của tự nhiên, không chỉ là
kết quả của sự tiến hoá cao nhất của tự nhiên và của sự phát triển xã hội, mà hơn
thế nữa con người chính là chủ thể tích cực của mọi hoạt động , là chủ thể thực sự
7

của các quá trình xã hội và là chủ thể sáng tạo duy nhất. Ở triết học Mác , con
người hiện lên đầy đủ với cả hai mặt sinh học và mặt xã hội cùng thống nhất và
có sự tác động qua lại , con người trước hết phải là một “ thực thể tự nhiên”, là
con người sinh học với tư cách là một bộ phận của giới tự nhiên, được sinh ra và
là kết quả cao nhất của quá trình tiến hoá tự nhiên , do vậy nó gắn bó chặt chẽ với
tự nhiên và chịu sự quy định của những quy luật của tự nhiên. Nói như Mác “ tự
nhiên là thân thể vô cơ của con người”, quan điểm đó bác bỏ hoàn toàn luận điểm
của chủ nghĩa duy tâm khi thần thánh hóa nguồn gốc của con người. Coi trọng
mặt sinh học của con người, coi nó như một tính tất yếu trong quá trình phát triển
loài người, nhưng Mac không quá tuyệt đối hoá mặt sinh học như chủ nghĩa duy
vật siêu hình. Chủ nghĩa Mác kịch liệt phê phán tư tưởng cho rằng cái giá trị nhất
ở con người là cái sinh vật , bản chất con người là bản chất sinh vật, còn những
thứ như tư tưởng tình cảm , ước mơ hoài bão …chỉ là thứ trừu tượng, mơ hồ,
không có ý nghĩa hiện sinh, bởi những tư tưởng như vậy sẽ đẩy tới việc giải quyết
vấn đề con người chỉ là sự thoả mãn về nhu cầu vật chất, bản chất của con người
đến gần với bản chất con vật, không thấy được vị trí chủ thể của con người đối
với thế giới. Con người sống, trước hết phải thoả mãn những nhu cầu về ăn ở, đi
lại, các điều kiện sinh hoạt diễn ra hàng ngày và phải đấu tranh để sinh tồn như
mọi động vật khác nhưng đó không phải là tất cả những điều làm nên bản chất,
nhân cách con người.C ái để phân biệt con người với con vật phải là ý thức, phải
là cái xã hội trong mỗi con người . Trước Mác, các nhà triết học cũng đã phân
biệt con người với con vật dưới nhiều góc độ có sức thuyết phục , Phranhklin cho
rằng con người khác con vật ở chỗ biết sử dụng công cụ lao động , Arixtot đã gọi
con người là một động vật có tính xã hội, Pascal nhấn mạnh đặc điểm và sức
mạnh của con người là con người biết suy nghĩ, các quan niệm trên đều đúng
nhưng chưa đủ vì chỉ nhấn mạnh một khía cạnh nào đó trong bản chất xã hội của
con người chỉ đến khi có quan niệm của Mác, bản chất con người mới được
8