Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VÀ HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG CẤP NƯỚC KHU VỰC ĐỈNH BÀ NÀ.

CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VÀ HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG CẤP NƯỚC KHU VỰC ĐỈNH BÀ NÀ.

Tải bản đầy đủ

Thuyết minh ĐATN

Nâng cấp, cải tạo hệ thống cấp nước khu vực đỉnh Bà Nà

1.2.2. Địa hình khu vực Bà Nà.
Bà Nà là một vùng đồi núi cao, với địa hình khá phức tạp, bị chia cắt bằng nhiều
khe suối nhỏ. Phía Tây Bắc có đỉnh khe Kha To cao 1038m ,khe Bao Cao 982m chạy
theo hướng Tây- Đông. Dãy Cà Nhông nối từ đỉnh khe Xương (1150m), theo hướng TâyĐông, tạo thành các khe suối chảy theo hướng Bắc-Nam.
Phía nam là ngọn núi Bà Nà (1482m), có hình dạng gần tròn, tạo nhiều khe suối ở 3
phía : Phía đông có những mảnh suối đổ ra sông Túy Loan, phía tây có các nhánh suối đổ
ta sông Vàng, phía nam các nhanh suối đổ ra sông Lỗ Đông, phía bác có một dòng sông
chính nói với đỉnh khe Xương của núi Cà Dong.
Địa hình Bà Nà- Núi Chúa khá phúc tạp, bị chia cắt mạnh theo chiều dài của sườn
núi, độ dốc sườn núi khá lớn- phổ biến từ 25 đến 350.
Với địa hình núi cao, dốc, lại bị chia cắt về 3 phía : băc, tây và đông bắc, nên chế
độ khí hậu ở đây khá đặc sắc và khác biệt nhiều với khí hậu các vùng trong cùng một vĩ
tuyến và cũng khác biệt khá nhiều so với khí hậu nội thành Đà Nẵng.
Bà Nà- Núi Chúa nằm về phía tây- tây nam Đà Nẵng nên có những đặc điểm chung
của khí hậu Đà Nẵng là cùng chịu ảnh hưởng của chế độ hoàn lưu, có cũng chế độ khí
hậu nhiệt đới gió mùa. Một năm có một mùa mưa và một mùa ít mưa, có một nền nhiệt
độ và bức xạ nhiệt cao. Tuy nhiên, đây là một vũng núi có độ cao trung bình trên 1000m,

Trang 2

Thuyết minh ĐATN

Nâng cấp, cải tạo hệ thống cấp nước khu vực đỉnh Bà Nà

riêng khu khai thác du lịch có độ cao gần 1500m, vì vậy chế độ bức xạ, nhiệt độ, mưa và
gió ở đây có nhiều điểm khác biệt so với khu vực đồng bằng ven biển của Đà Nẵng.
1.3 Hiện trạng hệ thống cấp nước khu vực đỉnh Bà Nà.
1.3.1. Trạm xử lý cấp nước .
Hiện có hai trạm xử lý nước với công suất xử lý mỗi trạm là 30m 3/h : Trạm Gia Long và
Trạm Miếu Bà.
1.3.2. Nguồn nước thô .
Nguồn nước thô 02 trạm xử lý nước cấp được lấy từ nguồn nước mặt từ 03 đập thuộc lưu
vực Suối Mơ lân cận gồm :
- Đập Gia Long : Diện tích vùng chứa 25x30=750m2,chiều cao đập 2.7m. Thể tích
điều hòa 2025m3. Công suất tính toán 50m3/ngđ.
- Đập Pháp : Diện tích 40x50=200m2, chiều cao đập 4m. Thể tích điều hòa 8000m 3.
Công suất tính toán : 150m3/ngđ. Tuy nhiên trên thực tế nếu 15 ngày không mưa thì
chỉ có thể áp cung cấp được 50m3/ ngđ.
- Đập Vọng Nguyệt : diện tích 30x50 = 1500 m2,chiều cao đập 1.8m . Thể tích điều
hòa 2700 m3. Công suất tính toán : 550m3/ ngđ. Tuy nhiên trên thực tế nếu 15 ngày
không có mưa thì chỉ có thể cung cấp được 400m3/ ngđ.
Việc sử dụng nguồn nước ngầm bổ sung cho nguồn nước thô xem ra khó khăn và chưa
được đề cập đến trong các nghiên cứu trước đây.
1.3.3. Mạng lưới phân phối .
Mạng lưới được kết nối bởi cả 02 trạm xử lý Gia Long và Miếu Bà và một hệ thống
nhằm đảm bảo an toàn dùng nước. Chất liệu ống nước sử dụng đa dạng : HDPE, PPR,
thép tráng kẽm. Ống trục chính sử dụng lớn nhât có đường kính D100 xem ra hơi bé so
với yêu cầu :
Việc kiểm soát lưu lượng tiêu dùng được thực hiện theo từng khu với các đồng hồ
đo đếm lưu lượng, số liệu đo đếm được thực hiện liên tục đến thời điểm hiện tại.
Bảng dưới đây cho thấy thông số đo đếm các điểm tiêu dùng tháng 8/2015 :
STT

TÊN CÔNG TRÌNH

m3/ngđ

m3/tháng

1

Khu tâm linh

12

372

2

Khu làng Pháp

231

7161

3

KS Morin

34

1054

4

Nhà hàng Morin

47

1457

5

Club + FEC

240

7440

GHI CHÚ
Đang xây dựng

Trang 3

Thuyết minh ĐATN

Nâng cấp, cải tạo hệ thống cấp nước khu vực đỉnh Bà Nà

6

Vườn hoa

32

992

7

Ga 2

7

217

8

Ga 3

7

217

9

Hầm rượu

7

217

10

Nhà hàng Dumer

27

837

11

Nhà Chùa

0

320

12

Ga 7

6

186

13

Ga 8

4

124

14

KS Debay

9

279

15

Hoàng Lan 1

68

2108

16

Hoàng Lan 2

22

682

17

Biệt thự Hoàng Lan

7

217

18

Lán trại công nhân

54

1674



19

M Galary

Đang xây dựng

20

Khu Lâu đài

Đang xây dựng

1.4. Hiện trạng khu vực xây dựng công trình.
1.4.1. Ví trí xây dựng lòng hồ- đập tràn dâng nước .
Khu vực dự kiến xây dựng hồ nước để cung cấp nước cho khu vực Bà Nà có địa
hình tương đối dốc : tuy nhiên tại vị trí dự kiến xây dựng nằm ngay ngã ba suối, có mặt
bằng tương đối rộng ; diện tích khoảng 500m2.
Cao độ tự nhiên khu vực lòng hồ từ + 783,0m đến + 784,0m ; tuy nhiên trong lòng
hồ có nhiều đá lăng , đá tảng có đường kính từ 1,0 đến 2,5m ; cao từ 0,5m đến 1,5m ; sẽ
chiếm hết dung tích hồ; vì vậy cần phải phá hết các hòn đá tảng đó để tăng dung tích hồ.
1.4.2. Vị trí xây dựng các trạm bơm và tuyến đường ống bơm .
Địa hình từ đỉnh Bà Nà đến vị trí dự kiến xây dựng hồ chứa nước và đập tràn có độ
dốc tương đối lớn; độ chệnh từ đỉnh Bà Nà ( đồi Vọng Nguyệt ) đến lòng hồ H= 514,0 m;
khoảng cách L=1500m ( đo trên bản vẽ chủ đầu tư cung cấp );
Dọc theo tuyến, hầu như không có vị trí nào có mặt bằng nằm ngang, độ dốc địa
hình >300 ; cây cối rậm rạp ; do vậy công tác thi công trên tuyên sẽ gặp nhiều khó khăn.
1.5. Dự báo nhu cầu sử dụng nước.
Với sự khan hiếm của nguồn nước, hiện tại, tại các thời điểm cao điểm, để đảm bảo
yêu cầu phục vụ nước cho khu vực trên đỉnh, kịch bản yêu cầu nhận viên lưu trú tại 02
Trang 4

Thuyết minh ĐATN

Nâng cấp, cải tạo hệ thống cấp nước khu vực đỉnh Bà Nà

nhà lưu trú Hoàng Lan không ở lại ban đêm trên đỉnh đã được áp dụng. Việc này ảnh
hưởng đến sự xác thực của chỉ số đo đếm lưu lượng tiêu dùng nước tại các thời điểm hiện
tại.
Các báo cáo sơ bộ từ Bộ phận Hạ Tầng- Công ty CP Dịch vụ Cáp treo Bà Nà cho
thấy việc gia tăng nhu cầu sử dụng nước từ 855m 3/ngđ lên 1645m3/ngđ khi đưa vào sử
dụng các hạng mục công trình của khu Làng Pháp, khu Lâu Đài và Khu M’Galary.
Các đánh giá về nhu cầu dài hạn so với kỳ tính toán 2017 chưa hề được đề cập. Từ
việc phân tích về biểu đồ sử dụng nước trong các tháng cao điểm, ngày cao điểm, giờ cao
điểm để xác định các hệ số K trong tính toán chưa được xem xét một cách tích cực như
một yếu tố quan trọng trong việc tính toán công suất xử lý nước các trạm xử lý, dung tích
bể chứa nước sạch, dung tích hồ ( hoặc bể ) chứa nước thô.
1.6. Mục tiêu đầu tư xây dựng.
Khảo sát hiện trường, thu thập số liệu thủy văn, dòng chảy trong khu vực, phân tích,
tính toán để xác định vị trí xây dựng một đập ngăn nước nhằm đảm bảo nguồn nước phục
vụ cho cấp nước cho toàn thể quần thể khu du lịch Bà Nà.
Nâng cấp, cải tạo hệ thống cấp nước cho khu vực đỉnh Bà Nà lên 2000m3/ng-đêm.

Trang 5

Thuyết minh ĐATN

Nâng cấp, cải tạo hệ thống cấp nước khu vực đỉnh Bà Nà

CHƯƠNG 2: TÍNH TOÁN CÁC ĐẶC TRƯNG THỦY VĂN

2.1. Nhiệm vụ tính toán.
 Tính toán lưu lượng dòng chảy đến ứng với tần suất P=95%.
 Tính toán lưu lượng dòng chảy lũ ứng với tần suất P=2%.
Tính toán cân bằng điều tiết nước để đảm bảo cung cấp nước.

2.2 Tình hình lưới trạm và quan trắc.

Hình 2. Bản đồ vị trí các trạm đo mưa và các biên tính toán.
2.2.1.Tài liệu khí tượng.
Trong vùng có các trạm đo khí tượng sau:
- Trạm khí tượng Đà Nẵng: Cách trung tâm lưu vực 15 km về phía Đông Nam. Có
đầy đủ các yếu tố khí tượng từ năm 1976 đến nay.
- Trạm đo mưa Hòa Trung: (đặt tại tuyến đập chính) nằm bên sườn phía Đông Bắc
có số liệu đo mưa từ 1982 đến nay.
- Trạm đo mưa Bà Nà: Có tài liệu mưa dài từ 1976 đến 1995. Trạm Bà Nà cách lưu
vực 6 km về phía Bắc, có lượng mưa tương đương với lượng mưa của lưu vực đo
được tại Hòa Trung. Bởi vậy có thể ghép tài liệu của Hòa Trung trong trường hợp
có ít tài liệu quan trắc.
Trang 6

Thuyết minh ĐATN

Nâng cấp, cải tạo hệ thống cấp nước khu vực đỉnh Bà Nà

2.2.2 . Tài liệu đo dòng chảy.
Tại khu vực Quang Nam – Đà Nẵng chỉ có 2 trạm thủy văn cơ bản Thành Mỹ trên
sông Cái và Nông Sơn trên sông Thu Bồn. Các trạm này cũng chỉ có tài liệu từ năm 1976
đến nay. Trên sông Tam Kỳ có 3 năm đo lưu lượng. Các lưu vực có tài liệu đo lưu lượng
đều có diện tích lưu vực lớn trừ trạm Tam Kỳ.
Trên sông Cu Đê, giáp với lưu vực Hòa Trung có tài liệu đo kiệt tại Cu Đê
(257km2) từ năm 1978 đến năm 1993 đáng tin cậy. Nhưng lưu lượng đo được không phủ
hết thời gian mùa kiệt.
2.3. Mô hình thủy văn phân bố tất định – mike she.
Mô hình MIKE SHE đã khẳng định được tính ưu việt của mình trong việc mô
phỏng chế độ thủy văn của lưu vực.
Cấu trúc của mô hình MIKE SHE thể hiện được hầu như tất cả các quá trình quan
trọng trong quá trình thủy văn lưu vực như bốc hơi, dòng chảy mặt, dòng chảy không bão
hòa, dòng chảy ngầm, dòng chảy trong kênh, và sự tương tác giữa các quá trình này. Mỗi
quá trình có thể được biểu diễn ở các cấp độ khác nhau như sự phân bố theo không gian,
theo các mục tiêu nghiên cứu của mô hình, và cơ sở dữ liệu. Các đặc trưng của lưu vực
có thể được thể hiện thông qua các ô lưới. Việc này sẽ tăng tính xác thực và sự linh hoạt
cho mô hình mô phỏng
 Kết quả mô hình tính toán:
- Mô hình được xây dựng trong 20 năm từ 01/01/1991 đến 31/12/2011 và mô phỏng
tất cả các yếu tố hình thành chế độ thủy văn của lưu vực.
- Kết quả lưu lượng được xuất theo ngày từ năm 1991 đến 2011, riêng năm 1990
dùng để làm ấm mô hình.
Hình 2.1.Kết quả mô phỏng đường quá trình lưu lượng đến tại các vị trí tuyến đập.

Trang 7