Tải bản đầy đủ
VÍ DỤ MINH HỌA

VÍ DỤ MINH HỌA

Tải bản đầy đủ

Nếu hiệu suất là 93%, quá trình giao hàng ở mức 3 Sigma. Nếu cố gắng có
nhiều cải tiến bố trí hợp lý hóa nhân lực và phương tiện vận chuyển và đạt hiệu suất
cực tốt là 99,4% thì quá trình giao hàng ở mức 4 Sigma.
Nếu cửa hàng muốn đạt mức độ là 6 Sigma, cửa hàng phải đạt hiệu suất là
99,9997%. Sơ đồ dưới đây mô tả so sánh quá trình kinh doanh ở hai cấp độ Sigma.
Chú ý: ở đây là hệ số Sigma chỉ có ý nghĩa nếu tính theo một yêu cầu cụ thể
của khách hàng. Giả sử cửa hàng đang làm rất tốt ở mức độ 6 Sigma theo yêu cầu
của khách hàng là giao hàng trong khoảng (11 giờ 45 phút – 12 giờ 15 phút), nếu
khách hàng thay đổi yêu cầu mới là phải giao trong khoảng (11 giờ 55 – 12 giờ 5
phút) thì rõ ràng quá trình giao hàng của cửa hàng không còn ở mức 6 Sigma nữa.
Như vậy với phương pháp đánh giá Sigma ở trên đây nhà quản lý đã đạt được hai
mục tiêu là:
 Tập trung vào các yêu cầu của khách hàng trong kinh doanh (Voice of Customer –

VOC). Có rất nhiều cách đánh giá khác nhau trong công ty như đánh giá giờ công,
chi phí, doanh số ... thường được sử dụng nhưng không hề có liên quan gì đến yêu
cầu của khách hàng.
 Có phương pháp đánh giá hiệu quả của quá trình. Sử dụng thang đo Sigma, chúng

ta có thể đánh giá và so sánh các quá trình khác nhau, ví dụ như quá trình nướng
bánh và quá trình giao bánh.

11 giờ 45 phút

12 giờ 15 phút

11 giờ 45 phút

12 giờ 15 phút

Lỗi khuyết tật

Quá trình nhiều biến động, có nhiều

Biến động của quá trình được kiểm

bánh pizza giao cho khách hàng quá

soát, có ít bánh pizza giao cho khách

sớm và muộn. Mặc dù giá trị trung

hàng sai hẹn. Giá trị trung bình vẫn

bình vẫn trong giới hạn cho phép 11

trong giới hạn cho phép 11 giờ 45

giờ 45 phút đến 12 giờ 15 phút. Hệ số

phút đến 12 giờ 15 phút. Hệ số Sigma

Sigma rất thấp.

cao hơn.

4.2.

Ví dụ 2
Công ty của bạn quyết định đánh giá “quá trình” của mình để bắt tay vào công

việc với mục tiêu đảm bảo rằng hằng ngày bạn luôn bắt đầu làm việc đúng giờ.
“Đúng giờ” có nghĩa là bạn phải có mặt tại nơi làm việc chính xác vào lúc 8 giờ 30
phút sáng.
Giả định đầu tiên là bạn luôn luôn ra khỏi nhà vào lúc 8 giờ 12 phút. Cho nên
bạn biết rõ rằng bạn chỉ có 18 phút để có mặt đúng giờ tại nơi làm việc. Với tính
chất công việc của bạn, công ty chấp nhận giới hạn xê dịch về thời gian là ± 2 phút
(trước hoặc sau) 8 giờ 30 phút, tức là bạn bắt buộc phải có mặt trong khoảng thời
gian từ 8 giờ 28 phút đến 8 giờ 32 phút.
Điều đó đồng nghĩa với việc bạn phải thực hiện việc đi làm trong khoảng từ 16
đến 20 phút. Nói một cách khác yêu cầu chất lượng đối với thời gian đi được quy
định là 18 ± 2 phút.
Trong 6 Sigma người ta gọi giá trị 18+2 là USL (giới hạn kỹ thuật trên) và 182 là LSL (giới hạn kỹ thuật dưới).
Bước tiếp theo là bạn đánh giá xem trong thực tế bạn thực hiện công việc đi
lại hết bao lâu. Hiển nhiên là nếu bạn luôn luôn đạt chỉ tiêu 18 phút thì thật là tuyệt
vời nhưng thực tế luôn xảy ra các sự cố hay sự việc khác nhau làm bạn luôn bị chậm
hay nhanh hơn 18 phút.
Sau một thời gian ghi chép dữ liệu bạn nhận thấy rằng trong thực tế thời gian
đi làm của bạn đã đạt trung bình là 18 phút cộng thêm với độ lệch chuẩn là
 sigma
2,7 phút. Trên đồ thị phân bố chúng ta có đường cong thể hiện phân bố thời gian đi
lại của bạn.

Hai đường USL và LSL cho thấy giá trị giới hạn. Chúng ta có thể dễ dàng thấy
rằng khu vực nằm dưới đường cong và kẹp giữa giá trị 18 và sigma 20,7 là khu vực
thể hiện số liệu thực về thời gian đi lại của bạn. Có một phần đáng kể đường cong
nằm giữa giá trị USL (20 phút) và sigma (20,7). Rõ ràng là phải cải tiến tình hình,
phải đưa được giá trị dịch

vào bên trong giá trị các USL và LSL và cực tiểu giá trị
đường cong nằm giữa giá trị USL và sigma.
Điều này đồng nghĩa với việc giảm giá trị sigma. Tức là giảm các biến động tác
động vào quá trình như là phải bảo dưỡng xe ô tô thường xuyên để tránh các sự cố,
tránh các con đường hay bị tắc hoặc là bỏ thói quen dừng lại mua báo và thuốc lá
trên đường đi để tránh phải chờ đợi lâu ...
5.

SIX SIGMA VỚI CÁC HỆ THỐNG CHẤT LƯỢNG KHÁC
Six Sigma được xây dựng trên những yếu tố thành công của các chiến lược cải

tiến chất lượng trước đây và hợp thành những phương pháp độc đáo của riêng nó.
So với các hệ thống quản lý và cải tiến chất lượng khác, Six Sigma nổi bật với hệ
phương pháp giúp xác định căn nguyên của các vấn đề chất lượng cụ thể và giải
quyết các vần đề này. Six Sigma có thể thường được sử dụng để hỗ trợ, bổ sung các
hệ thống quản lý và cải tiến chất lượng khác.
5.1.

ISO 9001

Mục tiêu của ISO 9001
ISO 9001 là một Hệ Thống Quản Lý Chất Lượng bao gồm các tiêu chuẩn quản lý
chất lượng chuyên biệt cho các ngành cụ thể. Một Hệ Thống Quản Lý Chất Lượng là
một hệ thống có cấu trúc tổ chức, quy trình, trách nhiệm và nguồn lực được xác
định rõ ràng và dùng để đánh giá những nổ lực quản lý chất lượng chung. Chứng
chỉ ISO 9001 đảm bảo cho khách hàng của công ty rằng những hệ thống và thủ tục
chấp nhận được ở mức tối thiểu được áp dụng trong công ty để đảm bảo rằng
những tiêu chuẩn chất lượng tối thiểu được đáp ứng.
So sánh với Six Sigma
ISO 9001 và Six Sigma đáp ứng hai mục tiêu khác nhau. ISO 9001 là một hệ
thống quản lý chất lượng trong khi Six Sigma là một chiến lược và hệ phương pháp
dành cho việc cải tiến hiệu quả kinh doanh.
ISO 9001, với những hướng dẫn giải quyết vấn đề và ra quyết định, đòi hỏi có
một quy trình cải tiến liên tục nhưng không chỉ ra quy trình đó như thế nào trong
khi Six Sigma có thể cung cấp quy trình cải tiến cần thiết. Trong khi Six Sigma không
cung cấp một khuôn mẫu để đánh giá những nổ lực quản lý chất lượng chung của
tổ chức thì ISO 9001 lại có được điều này.
Kết hợp Six Sigma với ISO

 Six Sigma cung cấp một hệ phương pháp đáp ứng những mục tiêu cụ thể mà ISO đề

ra như:
 Ngăn ngừa khuyết tật ở tất cả các công đoạn từ thiết kế đến dịch vụ;
 Các kỹ thuật thống kê cần thiết để thiết lập, kiểm soát, kiểm chứng năng lực của quy

trình và
 Đặc tính của sản phẩm;
 Khảo sát nguyên nhân gây lỗi cho sản phẩm, quy trình và hệ thống chất lượng;
 Cải tiến liên lục chất lượng sản phẩm và dịch vụ.
 Six sigma hỗ trợ iso và giúp tổ chức đáp ứng được các yêu cầu của iso.
 Hơn nữa, iso là một phương tiện tuyệt vời giúp cung cấp tư liệu và duy trì hệ thống

quản lý quy trình trong đó có six sigma. Bên cạnh đó, việc đào tạo bài bản là cần
thiết đối với cả hai hệ thống nhằm đảm bảo cho việc triển khai thành công.
5.2.

Quản trị chất lượng toàn diện (TQM)
Mục tiêu của TQM
Quản Trị Chất Lượng Toàn Diện (TQM) là một hệ thống có cấu trúc giúp thoả

mãn các khách hàng bên ngoài lẫn bên trong và nhà cung cấp bằng cách hợp nhất
môi trường kinh doanh, việc cải tiến liên tục và những đột phá trong việc phát triển,
cải tiến và duy trì các chu trình trong khi thay đổi văn hoá của tổ chức. TQM nhắm
đến những nguyên tắc chất lượng được áp dụng rộng rãi và xuyên suốt một tổ chức
hay một nhóm các quy trình kinh doanh.
So sánh với Six Sigma
TQM và Six Sigma có một số điểm chung như sau:
 Một định hướng và tập trung vào khách hàng
 Một cách nhìn về công việc theo tổ chức quy trình
 Một tinh thần cải tiến liên tục
 Một mục tiêu cải tiến mọi mặt và mọi chức năng của tổ chức
 Ra quyết định dựa trên dữ liệu
 Lợi ích mang lại tùy thuộc vào tính hiệu quả của công tác triển khai.

Sự khác biệt chính giữa TQM và Six Sigma đó là Six Sigma tập trung vào việc
ưu tiên giải quyết những vấn đề cụ thể được chọn lựa theo mức độ ưu tiên có tính
chiến lược của công ty và những vấn đề đang gây nên những khuyết tật nổi trội,
trong khi TQM áp dụng một hệ thống chất lượng bao quát hơn cho tất cả các quy
trình kinh doanh của công ty.
Một khác biệt kế tiếp là TQM định hướng áp dụng các đề xướng chất lượng
trong phạm vi phòng ban trong khi Six Sigma mang tính liên phòng ban có nghĩa là
nó tập trung vào mọi phòng ban có liên quan đến một quy trình kinh doanh cụ thể
vốn đang là đề tài của một dự án Six Sigma.