Tải bản đầy đủ
Giá trị nhờ thu XK tăng nhẹ qua các năm (trừ trường hợp năm 2015, giá trị nhờ thu loại giao dịch Gửi bộ chứng từ giảm 9,17 nghìn USD so với năm 2014). Giao dịch Báo có tăng nhẹ: năm 2015 đạt 66,75 nghìn USD, tăng 26,85%; trong năm 2016, giá trị nhờ thu Bá

Giá trị nhờ thu XK tăng nhẹ qua các năm (trừ trường hợp năm 2015, giá trị nhờ thu loại giao dịch Gửi bộ chứng từ giảm 9,17 nghìn USD so với năm 2014). Giao dịch Báo có tăng nhẹ: năm 2015 đạt 66,75 nghìn USD, tăng 26,85%; trong năm 2016, giá trị nhờ thu Bá

Tải bản đầy đủ

Chênh lệch
TT

1
2

Loại

Năm

Năm

Năm

giao dịch

2014

2015

2016

Phát hành
Thanh
toán
Tổng

114,89

2015/2014
Số
Tỷ lệ

Chênh lệch
2016/2015
Tỷ lệ
Số tiền
%

tiền

%

19,86

32,97

34,80

43,45

60,23

80,09

178,23

150,26

210,58 -27,97 -15,61

60,32

40,14

238,46

230,35

325,47

95,12

41,29

-8,11

-3,40

(Nguồn: Phòng kinh doanh TPBank Hà Nội 2014 – 2016)
Do điều kiện nền kinh tế trong nước cũng như nước ngoài giai đoạn 20142016 có nhiều biến động nên giá trị phương thức L/C NK tăng không ổn định. Đối
với phương thức L/C NK, TPBank Hà Nội vẫn đóng vai trò chủ yếu là ngân hàng
thanh toán.

Biểu đồ 2.4. Giá trị L/C nhập khẩu (2014 – 2016)

(Nguồn: Phòng kinh doanh TPBank Hà Nội 2014 – 2016)
Năm 2014, giá trị L/C phát hành đạt 60,23 nghìn USD, năm 2015 tăng nhẹ
lên mức 80,09 nghìn USD, năm 2016 đạt 114,89 nghìn USD. Như vậy so với năm
2015, giá trị L/C phát hành trong năm 2016 đã tăng 34,80 nghìn USD với tỷ lệ tăng
43,45%. Theo đó, giá trị L/C thanh toán cũng có sự thay đổi tương ứng. Năm 2014,
giá trị L/C thanh toán đạt 178,23 nghìn USD, năm 2015 giảm 27,97 nghìn USD (tỷ
lệ giảm 15,61%) so với năm 2014, năm 2016 có sự tăng vọt đáng kể: năm 2016 giá
trị L/C thanh toán đạt 210,38 nghìn USD, tăng 60,32 nghìn USD với tỷ lệ tăng
40,14% so với năm 2015. Sở dĩ có sự tăng mạnh này là do một lượng lớn L/C trong
năm 2015 được phát hành nhưng đến năm 2016 mới được thanh toán.
21



L/C xuất khẩu:

Bảng 2.7. Giá trị L/C xuất khẩu (2014 – 2016)
ĐVT: nghìn USD

Chênh lệch
T

Loại

Năm

T

giao dịch

2014

1
2

Thông báo
Thanh toán
Tổng

23,42
50,12
73,54

Năm

Chênh lệch

Năm

2015/2014
2016/2015
Tỷ lệ
Tỷ lệ
2015
2016
Số tiền
Số tiền
(%)
(%)
12,57 63,26
19,87 32,44
-3,55 -15,16
34,31 66,26
51,78 86,09
1,66
3,31
46,88 65,43
71,65 118,53
-1,89
-2,57

(Nguồn: Phòng kinh doanh TPBank Hà Nội 2014 – 2016)
Đối với loại giao dịch này, TPBank Hà Nội vẫn đóng vai trò chủ yếu là ngân
hàng thanh toán (tỷ trọng giao dịch thanh toán chiếm 68,15% trong năm 2014,
72,27% trong năm 2015 và 72,63% trong năm 2016).
Biểu đồ 2.5. Giá trị L/C xuất khẩu (2014 – 2016)

(Nguồn: Phòng kinh doanh TPBank Hà Nội 2014 – 2016)
Cũng giống như L/C nhập khẩu, hoạt động thanh toán L/C xuất khẩu trong
những năm qua cũng có sự tăng giảm thất thường. Năm 2015 giá trị L/C xuất khẩu
giảm nhẹ (giá trị giảm là 1,89 nghìn USD tương ứng tỷ lệ giảm 2,57%) so với năm
2014. Nhưng đến năm 2016, giá trị L/C xuất khẩu tăng lên đáng kể. Giá trị L/C
thông báo trong năm 2016 đạt 32,44 nghìn USD, tăng 12,57 nghìn USD với tỷ lệ
tăng 63,26% so với năm 2015; giá trị L/C thanh toán theo đó cũng tăng 34,31 nghìn
22

USD so với năm 2015. Đây là một thành công của ngân hàng trong việc thu hút
khách hàng đến giao dịch, duy trì ổn định thanh toán hàng xuất khẩu.
2.1.4. Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt động thanh toán quốc tế tại
NHTMCP Tiên Phong - chi nhánh Hà Nội
Bảng 2.8. Tổng hợp chỉ tiêu định lượng
ĐVT: triệu VND
Chỉ tiêu

2014

2015

2016

Doanh thu TTQT

27.428

34.627

46.815

CP TTQT

26.128

32.377

44.315

LN TTQT

1.300

2.250

2.500

Tổng DT

165.600

171.200

203.800

Tổng LN

25.900

25.000

34.000

1. DT TTQT/Tổng DT (%)

16,56

20,23

22,97

2. CP TTQT/DT TTQT (%)

95,26

93,50

94,66

3. LNTTQT/Tổng LN (%)

5,02

9,00

7,35

+ Chuyển tiền

47,26

53,23

57,15

+ Nhờ thu

27,58

27,29

21,76

+ TDCT

25,16

19,48

21,09

4. Tỷ trọng từng phương thức
(%)

(Nguồn: Phòng kinh doanh TPBank Hà Nội 2014 – 2016)
Tỷ trọng doanh thu TTQT trên tổng doanh thu không ngừng tăng qua các
năm. Năm 2014 tỷ lệ này là 16,56% thì đến năm 2015 tăng lên 20,23% và năm 2016
đạt 22,97%. Điều này cho thấy TTQT đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong

23

hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Doanh thu của ngân hàng không chỉ đến từ
hoạt động truyền thống (tín dụng) mà còn đến từ hoạt động TTQT.
Chỉ tiêu chi phí TTQT so với doanh thu TTQT: Chỉ tiêu này đang ở mức rất
cao (khoảng 95%). Điều này cho thấy ngân hàng đang chưa có kế hoạch chi phí hợp
lý, hoặc cũng có thể do TPBank là một ngân hàng mới nên chi phí ban đầu cho hoạt
động TTQT là tương đối lớn. TPBank đang không ngừng nâng cấp quy trình về
quản lý và sử dụng chương trình Message Route (MR) để luân chuyển điện SWIFT
trong hệ thống ngân hàng; chi phí tìm kiếm khách hàng; chi phí marketing… chiếm
tỷ trọng rất cao trong cơ cấu doanh thu. Trong tương lai, khi ổn định được các khoản
đầu tư ban đầu, TPBank cần có kế hoạch doanh thu – chi phí hợp lý, giảm tỷ lệ này
ở mức tối thiểu.
Do chi phí TTQT khá cao nên lợi nhuận từ hoạt động TTQT của TPBank Hà
Nội là những con số khá khiêm tốn. Năm 2014, tỷ lệ lợi nhuận từ hoạt động TTQT
trên tổng lợi nhuận ngân hàng là 5,02%. Sang năm 2015, tỷ lệ này đạt 9,00% (tăng
3,98% so với năm 2014). Tuy nhiên đến năm 2016, tỷ lệ này giảm còn 7,35%. Sở dĩ
có sự sụt giảm này là do tổng lợi nhuận ngân hàng và lợi nhuận từ hoạt động TTQT
đều tăng nhưng tốc độ tăng của tổng lợi nhuận lớn hơn tốc độ tăng của lợi nhuận
TTQT. Điều này chứng tỏ hoạt động TTQT của TPBank chưa hiệu quả. TPBank
chưa có kế hoạch phát triển bền vững ngành dịch vụ tiềm năng này.
Về cơ cấu tỷ trọng của các phương thức thanh toán trong hoạt động TTQT
của TPBank Hà Nội: Chuyển tiền vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất (khoảng 55%), nhờ
thu và tín dụng chứng từ chiếm tỷ lệ tương đương nhau (khoảng 22%). Nguyên nhân
của vấn đề này là do TPBank là một ngân hàng mới nên TPBank chưa tạo được
tiếng vang cho các doanh nghiệp XNK tin tưởng để tiến hành giao dịch, do đó uy tín
của TPBank trên thị trường ngân hàng quốc tế còn nhiều hạn chế nên các hợp đồng
ngoại thương có giá trị lớn thường được mở tại các ngân hàng có uy tín như: VCB,
Techcombank, HSBC…
Nhìn chung, qua một số chỉ tiêu phân tích trên, ta có thể nhận thấy hoạt động
TTQT tại TPBank Hà Nội giai đoạn 2014 – 2016 đạt mức trung bình khá. Nguyên
24

nhân chính là do TPBank là một ngân hàng mới nên chi phí ban đầu phục vụ hoạt
động TTQT là khá cao. Hơn nữa, TPBank cũng chưa có một lượng khách hàng nhất
định, công tác marketing và tìm kiếm khách hàng tiềm năng còn gặp rất nhiều khó
khăn. Trong thời gian tới, ngân hàng cần có sự quan tâm đúng mức đến hoạt động
này với định hướng dịch vụ TTQT là một trong những dịch vụ mũi nhọn, liên tục cải
thiện công nghệ, quy trình nâng cao chất lượng dịch vụ TTQT, giảm thiểu các chi
phí phát sinh để tăng lợi nhuận.
2.2. Đánh giá chất lượng hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng TMCP
Tiên Phong chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2015- 2016
2.2.1. Đánh giá kết quả hoạt động TTQT tại TPBank Hà Nội
Thứ nhất, hoạt động TTQT tại TPBank Hà Nội đảm bảo được tính an toàn,
chính xác, giảm thiểu rủi ro cho khách hàng và hệ thống.
Từ năm 2014- 2016, hạ tầng truyền thông công nghệ thông tin của TPBank
Hà Nội được xây dựng và nâng cấp liên tục nhằm đảm bảo hoạt động ổn định và an
toàn của hệ thống.
TPBank Hà Nội đã và đang từng bước chuẩn hóa, xây dựng bộ khung quy
định quản trị rủi ro: quản trị rủi ro tín dụng, quản trị rủi ro hoạt động, quản trị rủi ro
thị trường có vai trò tư vấn trong việc đưa ra các chính xác kinh doanh phù hợp với
diễn biến thị trường, giúp các đơn vị kinh doanh nói chung và hoạt động TTQT nói
riêng hoạt động an toàn và hiệu quả.
Đối với hoạt động TTQT, TPBank Hà Nội áp dụng việc thực hiện nghiệp vụ
quy trình khép kín qua nhiều khâu kiểm soát từ chuyên viên thanh toán quốc tế,
kiểm soát viên, lãnh đạo phòng chức năng để kiểm tra kiểm soát, ký duyệt các giao
dịch trong phạm vi được ủy quyền để tránh sai sót, đảm bảo tính chính xác, an toàn
trong hồ sơ chuyển tiền của khách hàng và các rủi ro khách hàng có thể gặp phải
trong quá trình thực hiện. Quy trình xử lý các giao dịch đều được lưu trên hệ thống
kỹ thuật phần mềm của ngân hàng, cuối ngày các đơn vị có trách nhiệm kiểm tra
toàn bộ lại các giao dịch trên cơ sở đó dễ dàng tìm kiếm được nguyên nhân sai sót,
chậm trễ để có giải pháp khắc phục ngay tránh gây thiệt hại cho khách hàng.
25

Thứ hai, hoạt động TTQT tại TPBank Hà Nội đảm bảo tính nhanh chóng và
kịp thời.
TPBank Hà Nội không ngừng nâng cấp quy trình về quản lý và sử dụng
chương trình Message Route (MR) để luân chuyển điện SWIFT trong hệ thống ngân
hàng.
Đặc biệt, TPBank Hà Nội đưa ra nguyên tắc xử lý tập trung tại Phòng SWIFT,
đảm bảo tính nguyên vẹn về nội dung và thời gian xử lý điện theo định kỳ (15 - 30
phút) phải tiến hành đẩy, nhận điện trên MR theo đúng chức năng nghiệp vụ liên quan
để đảm bảo điện được xử lý kịp thời, chính xác đáp ứng nhu cầu tốt nhất cho khách
hàng.
Thứ ba, hoạt động TTQT tại TPBank Hà Nội giữ được uy tín với khách hàng.
Để giữ được uy tín với khách hàng cũ và phát triển khách hàng mới, TPBank
Hà Nội đã không ngừng áp dụng đồng bộ việc nâng cao cơ sở vật chất kỹ thuật với
trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ công nhân viên, mở rộng quan hệ với các
ngân hàng đại lý đáp ứng tốt mọi nhu cầu của khách hàng.
TPBank Hà Nội đã triển khai thành công Corebanking (hệ thống ngân hàng
lõi) tạo nền tảng phát triển một ngân hàng hiện đại, đa năng; dịch vụ ngân hàng điện
tử được mở rộng với nhiều ứng dụng, nâng cấp hạ tầng truyền thông CNTT đảm bảo
hoạt động ngân hàng an toàn và ổn định.
Thứ tư, hoạt động TTQT tại TPBank Hà Nội giúp tăng cường nguồn vốn và
hỗ trợ dịch vụ kinh doanh ngoại tệ.
TPBank Hà Nội thông qua hoạt động TTQT đã nhận được một lượng ngoại tệ
đáng kể đồng thời cũng tạo ra một nhu cầu ngoại tệ phục vụ cho hoạt động này do
các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhập khẩu đa phần đều không tích trữ
sẵn một lượng ngoại tệ lớn để phục vụ cho việc thanh toán tiền hàng nhập khẩu mà
khi nào có nhu cầu phát sinh mới mua lại từ ngân hàng. Các doanh nghiệp xuất khẩu
sau khi xuất hàng và thu tiền thường không giữ lại toàn bộ lượng ngoại tệ đó mà sẽ
26

bán lại cho TPBank Hà Nội hoặc thực hiện các nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng từ
giao dịch trước đó. Vì vậy, có thể nói sự phát triển của hoạt động thanh toán quốc tế
đã tạo ra một lượng cung cầu ngoại tệ lớn cho ngân hàng, theo đó sẽ thúc đẩy hoạt
động kinh doanh ngoại tệ phát triển. Bên cạnh đó, trong hoạt động TTQT luôn có
một khoảng thời gian chờ như thời gian chờ từ khi có nhu cầu đến khi phải thanh
toán hoặc thời gian chờ từ khi giao hàng, gửi chứng từ đến khi được thanh toán. Đây
chính là điều kiện tốt cho việc tiến hành các giao dịch kinh doanh ngoại hối tại ngân
hàng để vừa có thể tăng hiệu quả sử dụng ngoại tệ vừa là một biện pháp phòng tránh
rủi ro hối đoái.
Thứ năm, hoạt động TTQT tại TPBank Hà Nội hỗ trợ dịch vụ tài trợ XNK và
dịch vụ tín dụng.
TPBank tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập
khẩu bằng cách cho các doanh nghiệp đáp ứng đầy đủ điều kiện vay để thu mua
hàng hoá xuất khẩu và trả nợ từ nguồn ngoại tệ thu về. Dựa vào hợp đồng ngoại
thương và căn cứ vào L/C, ngân hàng cấp tín dụng để khách hàng mua nguyên vật
liệu và thông thường bộ chứng từ L/C về sẽ thuộc quyền sở hữu của ngân hàng. Khi
bộ chứng từ về ngân hàng, TPBank ký hậu cho doanh nghiệp đi lấy hàng, còn các
doanh nghiệp sẽ phát sinh các khoản vay tín dụng với ngân hàng từ đó thúc đẩy hoạt
động tín dụng phát triển.
Thứ sáu, hoạt động TTQT tại TPBank Hà Nội giúp tăng cường hỗ trợ các
dịch vụ ngân hàng khác (chiết khấu hối phiếu, bảo lãnh...)
Ngoài việc cấp tín dụng cho khách hàng, ngân hàng còn xem xét việc chiết
khấu bộ chứng từ nếu khách hàng yêu cầu và thực hiện bảo lãnh nhận hàng… Thông
qua các hoạt động này ngân hàng sẽ thu được các khoản phí dịch vụ từ đó tăng lợi
nhuận kinh doanh của ngân hàng.
2.2.2. Những tồn tại và nguyên nhân
2.2.2.1. Tồn tại
Thứ nhất, cơ cấu thanh toán hàng xuất khẩu, nhập khẩu còn thiếu hợp lý.
Cho đến nay, TPBank Hà Nội đã có rất nhiều biện pháp cũng như chính sách
27

khuyến khích phát triển thanh toán hàng XK. Qua những số liệu thống kê hàng năm,
ta có thể thấy sự mất cân đối giữa thanh toán hàng XK và NK. Trong phương thức
TDCT, L/C NK nhiều hơn L/C XK (về cả số món lẫn giá trị thanh toán: Năm 2016,
TPBank Hà Nội ghi nhận 21 món L/C nhập khẩu với tổng giá trị 325,47 nghìn USD,
tương ứng với đó chỉ có 16 món L/C xuất khẩu với tổng giá trị là 118,53 nghìn
USD). Sự mất cân đối này là nguyên nhân dẫn đến tình trạng nguồn ngoại tệ thanh
toán không được bảo đảm và đồng đều. Hơn nữa. một số khách hàng thanh toán
hàng nhập khẩu qua TPBank Hà Nội nhưng lại thanh toán hàng xuất khẩu qua các
NHTM khác nên TPBank Hà Nội không thu được nguồn ngoại tệ về. Điều này làm
cho ngân hàng hạn chế về nguồn ngoại tệ để thanh toán, từ đó ảnh hưởng đến hiệu
quả hoạt động của ngân hàng.
Thứ hai, quy mô hoạt động TTQT còn hạn chế.
Ở ngân hàng các nước phát triển, doanh thu từ các hoạt động trung gian
chiếm tỷ lệ lớn trong tổng doanh thu (khoảng 47%). Tuy nhiên, ở TPBank Hà Nội,
doanh thu chủ yếu vẫn phụ thuộc nhiều vào hoạt động tín dụng, tỷ lệ doanh thu từ
hoạt động TTQT chiếm tỷ lệ khá thấp (khoảng 20%), đặc biệt lợi nhuận từ hoạt
động này chiếm tỷ lệ rất thấp (7,35% năm 2016).
Thứ ba, thủ tục thanh toán còn mang nặng tính hành chính, thời gian xử lý
giao dịch chưa nhanh.
Quy trình xử lý giao dịch TTQT tại TPBank còn rườm rà, chưa tạo thành
khâu khép kín, mức độ xử lý tự động các giao dịch chưa cao. Hơn nữa, do hạn chế
về số lượng chi nhánh nên khách hàng thường tập trung vào những điểm giao dịch
lớn. TPBank Hà Nội là chi nhánh có vị trí địa lý khá thuận lợi nên số lượng khách
đến giao dịch là rất lớn. Do đó, chi nhánh luôn trong tình trạng quá tải, khách hàng
phải đợi khá lâu mới có thể tiến hành giao dịch.
Thứ tư, dịch vụ TTQT chưa đa dạng.
Việc cung ứng các dịch vụ TTQT mới chỉ dừng lại ở việc thanh toán theo một
số phương thức truyền thống như thanh toán chuyển tiền, nhờ thu, tín dụng chứng
từ. Việc đưa vào sử dụng các loại hình L/C mới như L/C dự phòng, L/C chuyển
28

nhượng sẽ đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng và đem lại hiệu quả thanh
toán cao hơn, tuy nhiên, nghiệp vụ này khá phức tạp nên vẫn chưa được sử dụng
rộng rãi.
Ngoài ra, một số tồn tại có thể kể đến như: Chương trình hiện đại hóa ngân
hàng chưa hoàn thiện và ổn định. Các sự cố kỹ thuật chưa được khắc phục kịp thời,
nhiều lúc giao dịch bị gián đoạn.
2.2.2.2. Nguyên nhân
a. Nguyên nhân khách quan


Môi trường pháp lý
Hiện nay, NHNN chưa có văn bản chính thức nào hướng dẫn cụ thể quy trình
TTQT chung mà các ngân hàng phải tự xây dựng một quy trình TTQT riêng dựa
trên hoạt động của mình và thông lệ quốc tế. TPBank cũng đã ban hành một số văn
bản quy trình nghiệp vụ TTQT tuy nhiên có nhiều vấn đề còn chung chưa rõ ràng
khiến chuyên viên TTQT gặp khó khăn trong quá trình thực hiện. Như vậy, hành
lang pháp lý cho hoạt động TTQT nói riêng và hoạt động ngân hàng nói chung còn
nhiều bất cập và cần được quan tâm hơn nữa.



Sự can thiệp của cơ quan nhà nước
Cơ chế chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực thương mại còn nhiều bất
cập. Chính phủ và các Bộ ngành có liên quan thường xuyên có những thay đổi về
danh mục các mặt hàng được phép xuất nhập khẩu, biểu thuế áp dụng đối với từng
mặt hàng, thời gian kể từ khi ra quyết định đến khi quyết định có hiệu lực thi hành
thường là ngắn, không đủ để các doanh nghiệp dự tính sắp xếp kế hoạch cho hoạt
động kinh doanh của mình, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động TTQT của ngân hàng.
Bên cạnh đó, Chính phủ chưa có chiến lược, giải pháp tổng thể hỗ trợ kịp thời đối
với các doanh nghiệp XNK. Các thủ tục hành chính trong hoạt động XNK còn rườm
rà, các quy định chồng chéo gây phiền toái cho khách hàng, tốn kém thời gian và chi
phí.



Sự biến động của thị trường tài chính trong nước và quốc tế
Sự biến động của thị trường tài chính dẫn tới sự thay đổi giá trị của rất nhiều
29

các đồng tiền quan trọng như USD, GBP, EUR... Tỷ giá hối đoái sẽ có ảnh hưởng
nhất định đến tăng trưởng kinh tế, ổn định vĩ mô và gây bất lợi cho hoạt động XNK
của Việt Nam, trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động ngoại thương và từ đó đã tác động
không nhỏ đến hoạt động TTQT của TPBank Hà Nội.


Rào cản thương mại
Cùng với việc gia nhập WTO, môi trường cạnh tranh trên trường quốc tế
ngày càng lớn cùng với nhiều rào cản thương mại sẽ gây nhiều khó khăn cho hoạt
động của các ngân hàng. Các ngân hàng trong nước nói riêng phải điều chỉnh quy
mô và đưa ra những chính sách quản lý, đào tạo nhân viên và ứng dụng công nghệ
thông tin hiện đại để tạo được lợi thế với các ngân hàng nước ngoài. Tuy nhiên, đối
với TPBank Hà Nội thì quy mô còn nhỏ, sản phẩm dịch vụ chưa đa đạng và chất
lượng dịch vụ chưa cao nên trước những đối thủ lớn từ thị trường quốc tế có năng
lực cạnh tranh cao là một vấn đề khá khó khăn, nó sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển ổn
định, bền vững của hệ thống tài chính.



Trình độ nghiệp vụ ngoại thương của các doanh nghiệp XNK
Các doanh nghiệp XNK ở Việt Nam hiện nay còn khá yếu về năng lực, trình
độ nghiệp vụ thương mại quốc tế trong khi các đối tác nước ngoài là những nhà
chuyên kinh doanh XNK có nhiều kinh nghiệm nên khi có tranh chấp xảy ra không
có cơ sở để khiếu nại và buộc phải chịu phần bất lợi. Không chỉ vậy, khách hàng còn
thiếu thông tin về đối tác kinh doanh và đây là một trong những nguyên nhân dẫn
đến rủi ro trong kinh doanh, dễ dẫn đến bị đối tác nước ngoài lừa đảo, không thanh
toán. Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tín dụng và hoạt động TTQT
của TPBank nói riêng và của các NHTM Việt Nam nói chung.
b. Nguyên nhân chủ quan



Chưa có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các bộ phận có liên quan
Các khách hàng sử dụng dịch vụ TTQT thường có nhu cầu lớn về ngoại tê,
vốn tín dụng đòi hỏi các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại tệ
tại các phòng ban phải có sự kết hợp nhịp nhàng ăn khớp đảm bảo sự thuận tiện tốt
nhất cho khách hàng. Tuy nhiên sự kết hợp này hiện tại ở TPBank Hà Nội chưa tốt,
30

còn gây nhiều phiền hà cho khách hàng. Nhiều khách hàng muốn thanh toán chứng
từ hàng nhập tại TPBank Hà Nội nhưng họ không được vay vốn tại ngân hàng dẫn
tới khách hàng phải xuất trình chứng từ tại ngân hàng khác. Bên cạnh đó, TPBank Hà
Nội chưa phát triển đồng bộ các loại hình sản phẩm dịch vụ đi kèm với TTQT như dịch
vụ tư vấn tài chính, quản trị rủi ro cho các khách hàng là doanh nghiệp XNK, điều này
khiến khách hàng chưa thực sự thấy hài lòng bởi các sản phẩm, dịch vụ của TPBank Hà
Nội.


Hoạt động marketing và tìm kiếm khách hàng kém hiệu quả
Hoạt động marketing là một trong những hoạt động mang tính chiến lược
nhằm thu hút khách hàng nhưng tại TPBank Hà Nội, các chuyên viên TTQT vẫn
chưa nhận thức hết tầm quan trọng của hoạt động này. Môi trường cạnh tranh đang
ngày càng gay gắt vì thế TPBank Hà Nội đã gặp không ít khó khăn trong việc giữ
vững khách hàng truyền thống và thu hút thêm các khách hàng mới tiềm năng.

31