Tải bản đầy đủ
Nghĩa vụ cơ bản của bên bán

Nghĩa vụ cơ bản của bên bán

Tải bản đầy đủ

đồng thì bên mua có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại. “ Điều
443. Nghĩa vụ cung cấp thông tin và hướng dẫn cách sử dụng”
- Bảo đảm quyền sở hữu của bên mua đối với tài sản mua bán
1. Bên bán có nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu đối với tài sản đã bán cho bên
mua không bị người thứ ba tranh chấp.
2. Trường hợp tài sản bị người thứ ba tranh chấp thì bên bán phải đứng về phía
bên mua để bảo vệ quyền lợi của bên mua; nếu người thứ ba có quyền sở hữu một
phần hoặc toàn bộ tài sản mua bán thì bên mua có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu
bên bán bồi thường thiệt hại.
3. Trường hợp bên mua biết hoặc phải biết tài sản mua bán thuộc sở hữu của
người thứ ba mà vẫn mua thì phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu và không có quyền yêu
cầu bồi thường thiệt hại.“Điều 444. Bảo đảm quyền sở hữu của bên mua đối với tài
sản mua bán”
-

Nghĩa vụ nhận tiền
Trong quan hệ hợp đồng song vụ " nhận tiền " là quyền của bên bán, nhưng

cũng có thể coi đồng thời là nghĩa vụ của bên bán. Điều này có nghĩa là bên bán phải
nhận tiền khi bên mua trả đầy đủ, đúng thời gian và đúng địa điểm.
Nghĩa vụ cơ bản của bên mua
-

Nghĩa vụ nhận tài sản
Bên mua phải nhận tài sản mua khi tài sản mua khi tài sản này có chất

lượng, số lượng và các tiêu chuẩn khác như đã thỏa thuận và được bên bán giao đúng
địa điểm, đúng thời gian, đúng số lượng mà các bên đã thỏa thuận.
- Nghĩa vụ trả tiền
Đây là một nghĩa vụ cơ bản của bên mua trong mối quan hệ song vụ với bên
bán. Do đó, về nguyên tắc áp dụng phương thức " tiền trao, cháo múc " có nghĩa là trả
tiền khi nhận tài sản mua. Khi xem xét nghĩa vụ trả tiền của bên mua, cần tìm hiểu một
số điều liên quan: giá cả và phương thức thanh toán, thực hiện nghĩa vụ trả tiền nói
chung, nghĩa vụ trả tiền trong mua bán nói riêng và trách nhiệm do chậm thực hiện
nghĩa vụ dân sự, đặc biệt là chậm trả tiền.
27

2.1.6. Trình tự thủ tục giao kết hợp đồng mua bán tài sản
Đề nghị giao kết hợp đồng
“Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu
sự rằng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể.”
- Về hình thức đề nghị giao kết hợp đồng dân sự: Hình thức đề nghị giao kết
hợp đồng là việc thể hiện ý chí của bên đề nghị giao kết hợp đồng ra bên ngoài dưới
dạng nhất định mà người khác có thể nhận biết được.
- Về nôi dung đề nghị giao kết hợp đồng dân sự:
Một là: Đề nghị giao kết hợp đồng dân sự phải thể hiện rõ ý định giao kết hợp
đồng của bên đề nghị giao kết hợp đồng dân sự.
Hai là: Đề nghị giao kết hợp đồng phải có các nội dung chủ yếu của loại hợp
đồng dân sự mà các bên muốn xác lập nhưng chưa phải là hợp đồng dân sự.
Ba là, đề nghị giao kết hợp đồng phải hướng tới một hoặc một vài chủ thể đã
được xác định cụ thể
Bốn là, đề nghị giao kết hợp đồng có thể được xác định thời hạn trả lời chấp
nhận đề nghị có thể được xác định rõ trong nội dung đề nghị giao kết hợp đồng dân sự.
Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
“Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị đối
với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị.”
Nội dung chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng dân sự thông thường phải đảm
bảo hai yếu tố:
Một là, chấp nhận toàn bộ nội dung như đã nêu trong đề nghị giao kết hợp đồng
dân sự và không bỏ qua nội dung nào.
Hai là, không bổ sung nội dung nào khác so với đề nghị giao kết hợp đồng dân
sự.
2.1.7. Hợp đồng mua bán tài sản vô hiệu
Hợp đồng vô hiệu nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu nói riêng là
hợp đồng không thỏa mãn đầy đủ các điều kiện có hiệu lực theo quy định của pháp
luật. Việc quy định cụ thể các trường hợp hợp đồng vô hiệu có ý nghĩa quan trọng
28

trong việc xử lý một cách hợp lý và hiệu quả các hợp đồng vô hiệu trong các trường
hợp khác nhau, bảo vệ lợi ích của các bên trong hợp đồng cũng như lợi ích của các chủ
thể có liên quan.
Một hợp đồng mua bán tài sản vô hiệu trong những trường hợp chủ yếu
sau:
- Vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội: Điều cấm
của pháp luật là những quy định của pháp luật có nội dung không cho phép chủ thể
thực hiện những hành vi nhất định. Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung
giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.
Biểu hiện cụ thể của vi phạm điều cấm trong hợp đồng là các bên thỏa thuận với nhau
để thực hiện những công việc mà pháp luật không cho phép thực hiện như: sản xuất,
tiêu thụ hàng giả; mua bán, vận chuyển hàng cấm; cung ứng dịch vụ bị cấm thực hiện;
dịch chuyển tài sản trái phép hay những thỏa thuận gây thiệt hại cho lợi ích của người
thứ ba…Theo cách hiểu thông thường, nội dung hợp đồng gồm toàn bộ cam kết của
các bên được thể hiện dưới dạng điều khoản. Nhưng khi xem xét về nội dung của hợp
đồng có vi phạm điều cấm của pháp luật hay không, cần lưu ý điều khoản đối tượng
của hợp đồng. Khi nội dung của điều khoản này vi phạm điều cấm của pháp luật làm
hợp đồng vô hiệu toàn bộ thì các điều khoản hợp pháp khác của hợp đồng cũng sẽ bị
vô hiệu theo. Để xác định nội dung của hợp đồng có vi phạm điều cấm của pháp luật
hay không, cần lưu ý các quy phạm cấm trong các văn bản pháp luật.
- Vô hiệu do giả tạo: khi các bên giao kết hợp đồng một cách giả tạo nhằm che
giấu một hợp đồng khác thì hợp đồng giả tạo vô hiệu, còn hợp đồng bị che dấu vẫn có
hiệu lực, trừ trường hợp hợp đồng bị che dấu cũng vô hiệu theo quy định của pháp luật.
- Vô hiệu do nhầm lẫn: Một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội
dung của hợp đồng mà giao kết, thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi
nội dung của hợp đồng đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền
yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
- Vô hiệu do lừa dối: Lừa dối là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba
nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung
29

của hợp đồng nên đã giao kết hợp đồng đó. Khi một bên giao kết hợp đồng do bị lừa
dối thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
- Vô hiệu do bị đe dọa: đe dọa là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba
làm cho bên kia buộc phải giao kết và thực hiện hợp đồng nhằm tránh thiệt hại về tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của mình hoặc của cha , mẹ, vợ,
chồng, con của mình. Khi một bên giao kết hợp đồng do bị đe dọa thì có quyền yêu cầu
Tòa án tuyên bố hợp đồng đó vô hiệu
- Vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình:
người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã giao kết hợp đồng vào đúng thời điểm
không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên
bố hợp đồng đó là vô hiệu.
- Vô hiệu do vi phạm quy định về hình thức: trong trường hợp pháp luật quy
định hình thức hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mà các bên không tuân
theo thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm
quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của hợp đồng
trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu.
2.2. Lí do thay đổi luật
Theo nguyên lý, Bộ luật dân sự phải là luật chung trong lĩnh vực luật tư điều
chỉnh nhiều vấn đề nên số điều khoản là vô cùng lớn. Vì vậy phải tuân theo một kỹ
thuật lập pháp nhất quán để đảm bảo tính chất chung, tính khái quát cao, hệ thống,
không trùng lặp, không mâu thuẫn nhau... Tuy nhiên, Bộ luật dân sự Việt Nam không
thể hiện nhất quán nguyên tắc trên, thể hiện ở các nội dung sau:
Thứ nhất, trong mối quan hệ với các luật chuyên ngành điều chỉnh các quan hệ
dân sự, thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình, vai trò của Bộ luật dân sự là luật
chung của những văn bản pháp luật đó. Tuy nhiên, Bộ luật dân sự chưa có quy định cụ
thể xác định vị trí luật chung của mình, cũng như cơ chế áp dụng luật trong trường hợp có
mâu thuẫn giữa luật chuyên ngành và Bộ luật dân sự;
Thứ hai, Bộ luật có một số quy định có tính chất chuyên ngành cần được điều
chỉnh ở luật riêng hoặc trùng lắp, chồng chéo với các quy định tại luật riêng, ví dụ:
30

Quy định về chuyển quyền sử dụng đất (Điều 688 - Điều 735) mang nhiều tính
quy phạm cụ thể của luật chuyên ngành và trùng lắp với các quy định về nghĩa vụ, hợp
đồng và thừa kế trong Bộ luật dân sự. Về bản chất, đất đai là bất động sản, quyền sử
dụng đất là quyền tài sản gắn liền với đất, nên cần áp dụng các quy định chung về tài
sản là vật. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên áp dụng theo các quy định
chung về hợp đồng. Các vấn đề về quản lý hành chính đối với đất đai phụ thuộc vào
chính sách của Nhà nước vì vậy nên quy định tại Luật chuyên ngành.
Các quy định về quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ (Điều 736 đến
Điều 757) mang nhiều tính quy phạm cụ thể của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, Luật
Chuyển giao công nghệ năm 2006. Các quy định của pháp luật chuyên ngành có tính
tương thích cao với thông lệ quốc tế về sở hữu trí tuệ và thực tiễn áp dụng, trong khi
thực tiễn thi hành Bộ luật dân sự cho thấy, các quy định của Bộ luật dân sự về vấn đề
này lạc hậu so với luật chuyên ngành và yêu cầu của thực tiễn.
Ngoài ra, quyền, nghĩa vụ của các chủ thể được quy định trong Bộ luật dân sự
có đảm bảo tính khả thi hay không phụ thuộc nhiều vào hệ thống các văn bản luật quy
định về cơ chế, thủ tục công nhận, thực thi và bảo vệ các quyền của chủ thể dân sự.
Tuy nhiên, hệ thống các văn bản này hoặc chưa được ban hành hoặc đã ban hành
nhưng có hiệu lực pháp luật thấp, quy định không cụ thể dẫn tới nhiều vướng mắc, bất
cập trong công nhận, thực thi và bảo vệ các quyền của chủ thể dân sự. Ví dụ, Việt Nam
vẫn chưa ban hành Luật Đăng ký bất động sản, trong khi đây là luật cơ bản góp phần
đảm bảo sự ổn định và minh bạch của các quan hệ dân sự có đối tượng là bất động sản,
cũng như để đảm bảo trật tự xã hội, tôn trọng, thực hiện và bảo vệ các quyền, lợi ích
hợp pháp chính đáng của các chủ thể dân sự…
2.3. Kiến nghị
Thứ nhất: Bộ luật Dân sự nên dùng khái niệm hợp đồng để thay thế cho khái
niệm hợp đồng dân sự (như cách dùng hiện nay) để mở rộng phạm vi điều chỉnh của
chế định hợp đồng sang cả quan hệ hợp đồng trong kinh doanh và quan hệ hợp đồng
lao động. Hiện, do Điều 394 Bộ luật Dân sự đưa ra khái niệm hợp đồng dân sự không
đề cập gì đến mục đích của hợp đồng mà những quy định về hợp đồng trong Bộ luật
31

Dân sự phải được áp dụng cho mọi quan hệ hợp đồng. Nhưng trên thực tế vẫn phổ biến
quan niệm cho rằng các quy định trong Bộ luật Dân sự chỉ áp dụng cho quan hệ hợp
đồng dân sự, nghĩa là những hợp đồng được ký kết để phục vụ cho mục đích sinh hoạt,
tiêu dùng mà thôi.
Thứ hai: Thủ tục giao kết hợp đồng trong Bộ luật Dân sự cũng phải được quy
định hết sức cụ thể và minh bạch để các quan hệ hợp đồng, đặc biệt là các quan hệ hợp
đồng phục vụ cho hoạt động kinh doanh của các chủ thể được thiết lập một cách mau
chóng, đơn giản mà vẫn bảo đảm sự an toàn về mặt pháp lý. Muốn vậy, Bộ luật Dân sự
phải quy định chi tiết về các vấn đề sau: Các điều kiện của đề nghị giao kết hợp đồng
và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng; trách nhiệm pháp lý của người đề nghị giao
kết hợp đồng và thời điểm phát sinh trách nhiệm này; những trường hợp sửa đổi, bổ
sung, rút lại hay chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết
hợp đồng.
1. Thêm vào đó, Bộ Luật Dân sự cũng cần quy định rõ về người có thẩm quyền
ký kết hợp đồng. Vấn đề đại diện và ủy quyền để thiết lập và thực hiện các giao dịch
tuy đã được quy định tại chương VI phần thứ nhất và mục 12, chương II phần thứ ba
Bộ luật Dân sự nhưng cần được cụ thể hóa trong phần quy định về hợp đồng. Bởi đây
là vấn đề hết sức phức tạp trong thực tế ký kết hợp đồng, đặc biệt là các hợp đồng
trong kinh doanh. Chúng tôi cho rằng việc ủy quyền và ủy quyền lại phải được áp
dụng rộng rãi trong việc giao kết và thực hiện hợp đồng mà không phụ thuộc vào hợp
đồng đó được ký kết bằng phương thức trực tiếp hay gián tiếp; hợp đồng đó có phải
đăng ký hoặc chứng nhận của công chứng hay không.
2. Ngoài ra, Bộ luật Dân sự, một mặt cần quy định rõ thế nào là văn bản hợp
đồng theo hướng thừa nhận các thông tin được các bên gửi cho nhau qua đường điện
tín (telex, fax) và các hình thức thông tin kỹ thuật số (thư điện tử và các hình thức
thông tin điện tử khác) là văn bản hợp đồng, mặt khác hạn chế quy định cứng nhắc
những loại hợp đồng bắt buộc phải ký kết dưới hình thức văn bản mà nên đề cao quyền
tự thỏa thuận của các bên để lựa chọn hình thức hợp đồng phù hợp.
3. Thứ ba: Bộ luật Dân sự cần bổ sung những quy định riêng về giao kết và
thực hiện hợp đồng thông qua các phương tiện thông tin kỹ thuật số để tạo cơ sở pháp
32

lý cho sự phát triển thương mại điện tử ở nước ta. Sự bùng nổ của thông tin liên lạc đã
tác động mạnh đến mọi mặt đời sống con người. Việc các bên trực tiếp gặp gỡ, đàm
phán và cùng ký vào văn bản hợp đồng đã trở nên không tiện dụng và nhiều khi chỉ
phù hợp với những hợp đồng đòi hỏi hình thức trang trọng. Tham gia các giao dịch với
sự trợ giúp của các phương tiện thông tin điện tử đang ngày càng phổ biến và trở nên
một yếu tố không thể thiếu của kinh doanh hiện đại. Các khái niệm “nền kinh tế số”,
“thương mại điện tử”, “siêu thị ảo”, “văn phòng ảo” đã được bổ sung vào hệ ngôn ngữ
phổ thông của rất nhiều quốc gia. Lợi thế to lớn của thương mại điện tử là không thể
phủ nhận. Để phát triển thương mại điện tử, Bộ luật Dân sự phải giải quyết được các
vấn đề pháp lý sau: Hình thức của hợp đồng ký qua mạng Internet phải như thế nào?
Liệu các hình thức thông tin kỹ thuật số, như thư điện tử chẳng hạn, có được coi là văn
bản hợp đồng không? Hiện nay, trong các văn bản pháp luật của Việt Nam chỉ duy
nhất có Luật Thương mại thừa nhận thư điện tử và các hình thức thông tin điện tử khác
là văn bản hợp đồng. Rất tiếc quy định này được cơ cấu riêng trong mục 2 – Mua bán
hàng hóa làm chúng ta không rõ quy định đó có được áp dụng cho các quan hệ hợp
đồng khác hay không? Ngoài ra cũng cần phải giải quyết rõ giá trị chứng cứ của văn
bản điện tử ra sao khi có tranh chấp phát sinh từ “hợp đồng điện tử” này?
4. Thứ tư: Trong Bộ luật Dân sự (sửa đổi) phải quy định bổ sung một số loại
hợp đồng thông dụng, bên cạnh những loại hợp đồng đã được quy định hiện nay. Bộ
luật Dân sự hiện hành đã quy định riêng về 13 loại hợp đồng. Trong điều kiện kinh tế
thị trường, nhiều quan hệ hợp đồng mới đã hình thành, nhiều biến thể của các hợp
đồng thông dụng đã xuất hiện mà chưa được Bộ luật Dân sự quy định như: hợp đồng
cung cấp điện năng, nước, điện thoại; hợp đồng mua bán hoặc cho thuê doanh nghiệp
hoặc cơ sở kinh doanh; hợp đồng cho thuê tài chính (leasing); hợp đồng xây dựng; hợp
đồng kỹ thuật; các hợp đồng liên quan đến hoạt động ngân hàng; hợp đồng đại lý, ủy
thác, môi giới; hợp đồng liên doanh, liên kết kinh tế; hợp đồng tín thác…
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

33

Trong chương 2, ta thấy được tầm quan trọng của các qui định về hợp đồng
mua bán tài sản và có những điểm mới trong thay đổi hợp đồng dân sự cho phù hợp đã
làm sáng tỏ được các điều lệ qui định một cách khách quan.

34