Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ

1.1.2. Khái niệm và đặc điểm pháp lý về hợp đồng mua bán tài sản
- Khái niệm:
Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán
chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán.Hợp đồng
mua bán nhà ở, mua bán nhà để sử dụng vào mục đích khác được thực hiện theo quy
định của Bộ luật này, Luật nhà ở và luật khác có liên quan.
- Đặc điểm của hợp đồng mua bán tài sản
Theo quy định tại Điều 428 BLDS năm 2005 có thể thấy HĐMBTS có những
đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, HĐMBTS là sự thoả thuận giữa các bên chủ thể gồm bên mua và
bên bán, cơ sở đầu tiên để hình thành HĐ mua bán là sự thoả thuận bằng ý chí tự
nguyện của các bên. Hay nói cách khác quan hệ HĐ chỉ được hình thành từ những
hành vi có ý chí. Theo quan điểm của Mác: “Tự chúng, hàng hoá không thể đi đến
thị trường và trao đổi được với nhau. Muốn cho những vật đó trao đổi với nhau thì
những người giữ chúng phải đối xử với nhau như những người mà ý chí nằm trong
các vật đó” [38]. Chỉ khi ý chí của các bên không bị lừa dối hay cưỡng ép mà hoàn
toàn tự nguyện được thể hiện thống nhất thì quan hệ HĐ mới được hình thành. Song
HĐ đó có hiệu quả hay không còn phụ thuộc vào nội dung thoả thuận của các bên có
hợp pháp hay không.
Trong HĐMBTS các bên thoả thuận nhằm làm chấm dứt quyền sở hữu của
người bán đối với tài sản đó, và xác lập quyền sở hữu tài sản đối với người mua.Việc
chuyển quyền sở hữu tài sản này phải hợppháp,khôngvi phạmđiều cấm của pháp luật
thì HĐMBTS mới có hiệu lực.
Thứ hai, HĐMBTS là một dạng HĐ cụ thể của HĐ dân sự. Nên có thể thấy
HĐMBTS có hai đặc tính gắn liền với nhau. Đặc tính thứ nhất, đối tƣợng chủ yếu của
HĐMBTS là quyền sở hữu đối với tài sản chứ không phải là chiếm hữu tài sản. Theo
ngôn ngữ thông thường quyền sở hữu một vật được đồng hoá với vật đó, nên khi nói
mua bán một vật thực chất là mua bán quyền sở hữu vật đó. Điều này lý giải tại sao
thông thường người bán phải là chủ sở hữu của tài sản. Và tại Điều 163 BLDS năm
2005 đã quy định: “Tài sản bao gồm: Vật, tiền, giấy tờ có giá trị và các quyền tài
sản” . Như vậy, trong HĐMBTS đối tượng chủ yếu của nó là quyền sở hữu tài sản.
6

Theo quy định tại Điều 164 của BLDS năm 2005 thì: “Quyền sở hữu bao gồm quyền
chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định
của pháp luật”[44]. Để thỏa mãn là chủ sở hữu thì cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác
phảicó đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài
sản.Bên cạnh quyền sở hữu tài sản của chủ sở hữu thì đối tượng của HĐMBTS
còn xác lập các quyền như quyền sở hữu đòi nợ, quyền sở hữu công nghiệp, quyền tác
giả. Đặc tính thứ hai, trong HĐMBTS luôn có sự chuyển giao một số tiền từ người
mua sang ngƣời bán đó là chỉ số giá cả. Nếu chỉ có đặc tính thứ nhất tức là có sự
chuyển giao quyền sở hữu mà không gắn liền với việc chuyển giao một số tiền thì HĐ
đó không phải là HĐMBTS mà chuyển thành HĐ khác, có thể là HĐ tặng cho tài sản
hay là HĐtrao đổi tài sản. Đây là hai đặc tính quan trọng củaHĐMBTS.
Thứ ba, HĐMBTS còn phát sinh các quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể
phải thực hiện khi tham gia giao kết HĐ. Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể luôn gắn
liền với nhau khi tham gia vào HĐMBTS. HĐMBTS là một HĐ song vụ. Tính chất
song vụ thể hiện ở chỗ các bên chủ thể đều có nghĩa vụ đối với nhau, hay nói cách
khác mỗi bên chủ thể tham gia vừa là người có quyền lại vừa là người có nghĩa vụ. Do
vậy, trong nội dung của HĐMBTS, quyền dân sự của chủ thể tham gia đối lập tương
ứng với nghĩa vụ của chủ thể tham gia HĐ kia và ngược lại. Theo quy định tại Khoản
1 Điều 406 BLDS năm 2005 thì “Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có
nghĩa vụ với nhau” [44]. Ví dụ: Trong quan hệ mua bán ti vi, A là ngƣời mua còn B là
ngƣời bán. Trong trƣờng hợp này, B có nghĩa vụ giao vật bán là chiếc ti vi theo thỏa
thuận cho A, còn A có nghĩa vụ trả tiền cho B. Trong HĐ song vụ, khi các bên thỏa
thuận về thời hạn thực hiện nghĩa vụ thì mỗi bên phải thực hiện nghĩa vụ của mình khi
đến thời hạn.
Trong trường hợp một bên không thực hiện nghĩa vụ thì bên kia có quyền
yêucầu thực hiện đúng nghĩa vụ hoặc có quyền yêu cầu hủy HĐ. Khác với HĐ đơn vụ,
là HĐ mà chỉ có nghĩa vụ của một bên. Bên có nghĩa vụ không có quyền gì đối với bên
kia và bên kia là người có quyền mà không phải thực hiện bất kỳ một nghĩa vụ nào.
HĐMBTS là HĐ có tính đền bù: Tính chất đền bù được xác định trên cơ sở có đi vàcó
lại về lợi ích giữa các chủ thể. Đây là loại HĐ mà mỗi bên chủ thể sau khi thực hiện
7

cho bên kia một lợi ích hay công việc nhất định sẽ nhận lại đƣợc từ bên kia một lợi ích
ƣơng đƣơng. Tuy nhiên, không phải trong mọi trƣờng hợp, nhất thiết hai bên đều
nhận đƣợc lợi ích vật chất thì mới coi là đền bù tương ứng.
Ví dụ: A bán một chiếc xe máy cho B. Chiếc xe đó có giá ngoài thị trường là 20
triệu đồng. Nhưng do B là bạn bè thân thiết nên A bán cho B chiếc xe với giá 10 triệu
đồng. Đặc điểm của HĐMBTS có đền bù này là yếu tố phân biệt giữa HĐMBTS với
HĐ tặng cho tài sản không có tính đền bù. HĐMBTS có mục đích là chuyển quyền sở
hữu tài sản từ bên bán sang cho người sử dụng.
1.1.3. Ý nghĩa pháp lý của hợp đồng mua bán tài sản
Nguyên tắc tự do giao kết hoạt động được qui định tại điều 389 năm 2005 là
nguyên tắc chung cho mọi hoạt động , trong đó có HĐMBTS. Vì vậy, ý nghĩa pháp lí
quan trọng trước hết là : phương tiện pháp lý để các chủ thể thực hiện quyền tự do
trong giao lưu dân sự đẻ thảo mẫn nhu cầu của mình. Khi tham gia HĐMBTS, các chủ
thể hướng tới nhúng mục đích khác nhau. Cho dù nhằm mục đích gì thì cũng phải
thông qua HĐ để đạt được mục đích đó. Vì vậyhoạt động mua bán tài sản là phượng
tiện đạt được mục đích, đó chính là cái đích cuối cùng mà các chủ thể mong muốn đạ
được. Bên cạnh đó nguyên tắc tôn trọng sự thảo thuận giữa các chủ thể, các giao dịch
dân sự phát triển , hàng hóa lưu thông kéo theo sự phát triển hàng hóa.
1.2. Những quy định về hợp đồng mua bán tài sản theo quy định của pháp luật
Việt Nam
1.2.1. Nguyên tắc giao kết hợp đồng mua bán tài sản
Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức
xã hội. Tham gia quan hệ hợp đồng, các chủ thể nhằm đạt được những lợi ích nhất
định. Xuất phát từ lợi ích mà chủ thể mong muốn được thỏa mãn, các chủ thể tham gia
các hợp đồng dân sự khác nhau. Pháp luật dân sự tôn trọng sự tự do giao kết hợp đồng
của chủ thể và ghi nhận thành nguyên tắc. Theo nguyên tắc này, các chủ thể tham gia
quan hệ hợp đồng có sự tự do ý chí trong việc lựa chọn hợp đồng mà mình giao kết, tự
do lựa chọn chủ thể giao kết, tự do lựa chọn các quyền và nghĩa vụ trong quá trình

8

giao kết. Không một chủ thể nào được phép can thiệp trái pháp luật vào sự tự do giao
kết hợp đồng của các chủ thể tham gia hợp đồng.
Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng
khi giao kết hợp đồng.Theo nguyên tắc này, khi tham gia giao kết hợp đồng, các bên
hoàn toàn tự nguyện. Khi giao kết hợp đồng, không bên nào được áp đặt, cấm đoán,
cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào. Mọi hành vi tác động làm ảnh hưởng đến sự tự
nguyện của chủ thể có thể làm cho hợp đồng dân sự mà các chủ thể giao kết bị vô hiệu.
Nguyên tắc bình đẳng là một trong những nguyên tắc được ghi nhận trong Hiến
pháp. Trong quan hệ hợp đồng dân sự, sự bình đẳng luôn luôn được pháp luật dân sự
của các quốc gia thừa nhận. Theo nội dung của nguyên tắc này, khi tham gia giao kết
hợp đồng dân sự, các bên đều bình đẳng, không được lấy lý do khác biệt về dân tộc,
giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa,
nghề nghiệp để đối xử không bình đẳng với nhau. Trong một số trường hợp nhất định,
nếu pháp luật có những quy định mang tính “cấm”, “buộc” hoặc dành quyền ưu tiên
nhất định cho một chủ thể nào đó thì cũng không làm mất đi tính bình đẳng của các
chủ thể tham gia giao kết hợp đồng dân sự
1.2.2. Chủ thể của hợp đồng mua bán tài sản
Việc xác định chủ thể của hợp đồng mua bán tài sản là một vấn đề rất quan
trọng. Chủ thể đó có thể là tổ chức, pháp nhân, cá nhân, hộ gia đình…(các chủ thể
khác nhau của quan hệ dân sự) có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân
sự. Theo đó:
- Bên bán: là người có tài sản đem bán, là chủ sở hữu tài sản hoặc là người được
ủy quyền bán hoặc cũng có thể là người đại diện hợp pháp theo quy định của pháp
luật.
- Bên mua: là người có tiền mua tài sản.
1.2.3. Mục đích và nội dung của hợp đồng mua bán tài sản
Mục đích :của các bên khi tham gia hợp đồng là để xác lập, thay đổi hoặc chấm
dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Quyền và nghĩa vụ dân sự trong hợp đồng có phạm vi rất
rộng, trước đây trong Pháp lệnh hợp đồng dân sự ngày 29-4-1991 (Điều 1) quy định
9

hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận của các bên về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt
các quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, vay, mượn, tặng, cho tài sản,
làm một hoặc không làm công việc, dịch vụ hoặc các thỏa thuận khác mà trong đó một
hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng.
Nội dung: Nội dung cơ bản của hợp đồng dân sự là tổng hợp những điều khoản
mà các chủ thể tham gia hợp đồng đã thỏa thuận. Các điều khoản đó xác định những
quyền và nghĩa vụ dân sự cụ thể của các bên trong hợp đồng. Đây cũng chính là điều
khoản cần phải có trong một hợp đồng. Ví dụ: Điều 402 Bộ luật dân sự 2005 quy định
về nội dung của hợp đồng dân sự như sau: "Tuỳ theo từng loại hợp đồng, các bên có
thể thoả thuận về những nội dung sau đây:
- Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc không
được làm.
-

Số lượng, chất lượng;
Giá, phương thức thanh toán;
Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;
Quyền, nghĩa vụ của các bên;
Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;
Phạt vi phạm hợp đồng;
Các nội dung khác".

1.2.4. Hình thức và hiệu lực của hợp đồng mua bán tài sản
Hình thức của hợp đồng dân sự là cách thức biểu hiện ra bên ngoài của những
nội dung của nó dưới một dạng vật chất hữu hình nhất định. Theo đó, những điều
khoản mà các bên đã cam kết thỏa thuận phải được thể hiện ra bên ngoài dưới một
hình thức nhất định, hay nói cách khác hình thức của hợp đồng là phương tiện để ghi
nhận nội dung mà các chủ thể đã xác định. Tùy thuộc vào nội dung và tính chất của
từng hợp đồng cũng như tùy thuộc vào uy tín, độ tin cậy lẫn nhau mà các bên có thể
lựa chọn một hình thức nhất định trong việc giao kết hợp đồng tùy từng trường hợp cụ
thể. Điều 401 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 quy định về hình thức hợp đồng dân
sự như sau:

10

"1. Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng
hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng
một hình thức nhất định.
2. Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng
văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo
các quy định đó.
Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác".
Hiệu lực: Hợp đồng bằng miệng hoặc bằng các hành vi cụ thể có hiệu lực tại
thời điểm các bên đã trực tiếp thỏa thuận với nhau về những nội dung chủ yếu của hợp
đồng.Hợp đồng bằng văn bản thường, có hiệu lực tại thời điểm bên sau cùng ký vào
văn bản hợp đồng.Hợp đồng bằng văn bản có chứng nhận, chứng thực, đăng ký hoặc
xin phép có hiệu lực tại thời điểm hợp đồng đó được công chứng, chứng thực, đăng ký
hoặc cho phép.Ngoài ra hợp đồng còn có thể có hiệu lực sau thời điểm nói trên nếu các
bên đã tự thỏa thuận với nhau hoặc trong trường hợp pháp luật đã quy định cụ thể (ví
dụ: Điều 466 Bộ luật dân sự 2005 về hợp đồng tặng cho động sản: "Hợp đồng tặng cho
động sản có hiệu lực khi bên được tặng cho nhận tài sản; đối với động sản mà pháp
luật có quy định đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời
điểm đăng ký").
1.2.5. Quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể trong việc thực hiện hợp đồng mua
bán tài sản
Nghĩa vụ cơ bản của bên bán
-

Nghĩa vụ giao tài sản

Việc thực hiện nghĩa vụ giao tài sản của bên bán có ý nghĩa quan trọng đối với
bên mua, bởi vì qua đó mà bên mua có khả năng chiếm hữu trực tiếp tài sản mua.
Nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua
Bên bán phải là chủ sở hữu tài sản đem bán. Thông thường như vậy bên
mua mới trở thành chủ sở hữu đối với tài sản mua. Tuy nhiên, có trường hợp bên bán
không phải là chủ sở hữu tài sản đem bán, mà bên mua vẫn có quyền sở hữu đối với tài
11

sản mua, nếu bên mua ngay tình theo Điều 138 Bộ luật dân sự năm 2005, trừ trường
hợp bên mua trả lại tài sản cho chủ sở hữu đích thực.
Bên bán có nghĩa vụ cung cấp cho bên mua thông tin cần thiết về tài sản mua
bán và hướng dẫn cách sử dụng tài sản đó; nếu bên bán không thực hiện nghĩa vụ này
thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán phải thực hiện trong một thời hạn hợp lý; nếu
bên bán vẫn không thực hiện làm cho bên mua không đạt được mục đích giao kết hợp
đồng thì bên mua có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại. “ Điều
443. Nghĩa vụ cung cấp thông tin và hướng dẫn cách sử dụng”
- Bảo đảm quyền sở hữu của bên mua đối với tài sản mua bán
1. Bên bán có nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu đối với tài sản đã bán cho bên
mua không bị người thứ ba tranh chấp.
2. Trường hợp tài sản bị người thứ ba tranh chấp thì bên bán phải đứng về phía
bên mua để bảo vệ quyền lợi của bên mua; nếu người thứ ba có quyền sở hữu một
phần hoặc toàn bộ tài sản mua bán thì bên mua có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu
bên bán bồi thường thiệt hại.
3. Trường hợp bên mua biết hoặc phải biết tài sản mua bán thuộc sở hữu của
người thứ ba mà vẫn mua thì phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu và không có quyền yêu
cầu bồi thường thiệt hại.“Điều 444. Bảo đảm quyền sở hữu của bên mua đối với tài
sản mua bán”
-

Nghĩa vụ nhận tiền
Trong quan hệ hợp đồng song vụ " nhận tiền " là quyền của bên bán, nhưng

cũng có thể coi đồng thời là nghĩa vụ của bên bán. Điều này có nghĩa là bên bán phải
nhận tiền khi bên mua trả đầy đủ, đúng thời gian và đúng địa điểm.
Nghĩa vụ cơ bản của bên mua
-

Nghĩa vụ nhận tài sản
Bên mua phải nhận tài sản mua khi tài sản mua khi tài sản này có chất

lượng, số lượng và các tiêu chuẩn khác như đã thỏa thuận và được bên bán giao đúng
địa điểm, đúng thời gian, đúng số lượng mà các bên đã thỏa thuận.
- Nghĩa vụ trả tiền
12

Đây là một nghĩa vụ cơ bản của bên mua trong mối quan hệ song vụ với bên
bán. Do đó, về nguyên tắc áp dụng phương thức " tiền trao, cháo múc " có nghĩa là trả
tiền khi nhận tài sản mua. Khi xem xét nghĩa vụ trả tiền của bên mua, cần tìm hiểu một
số điều liên quan: giá cả và phương thức thanh toán, thực hiện nghĩa vụ trả tiền nói
chung, nghĩa vụ trả tiền trong mua bán nói riêng và trách nhiệm do chậm thực hiện
nghĩa vụ dân sự, đặc biệt là chậm trả tiền.
1.2.6. Trình tự, thủ tục giao kết hợp đồng mua bán tài sản
Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu
sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới
công chúng (sau đây gọi chung là bên được đề nghị).
Trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu bên đề
nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời
thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị mà không được giao kết hợp đồng
nếu có thiệt hại phát sinh.
Thông tin trong giao kết hợp đồng
1. Trường hợp một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp
đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết.
2. Trường hợp một bên nhận được thông tin bí mật của bên kia trong quá trình
giao kết hợp đồng thì có trách nhiệm bảo mật thông tin và không được sử dụng thông
tin đó cho mục đích riêng của mình hoặc cho mục đích trái pháp luật khác.
3. Bên vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này mà gây thiệt hại thì phải
bồi thường.
Nội dung của hợp đồng
1. Các bên trong hợp đồng có quyền thỏa thuận về nội dung trong hợp đồng.
2. Hợp đồng có thể có các nội dung sau đây:
a) Đối tượng của hợp đồng;
b) Số lượng, chất lượng;
c) Giá, phương thức thanh toán;
d) Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;
13

đ) Quyền, nghĩa vụ của các bên;
e) Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;
g) Phương thức giải quyết tranh chấp.
Giải thích hợp đồng
1. Khi hợp đồng có điều khoản không rõ ràng thì việc giải thích điều khoản đó
không chỉ dựa vào ngôn từ của hợp đồng mà còn phải căn cứ vào ý chí của các bên
được thể hiện trong toàn bộ quá trình trước, tại thời điểm xác lập, thực hiện hợp đồng.
2. Khi hợp đồng có điều khoản hoặc ngôn từ có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác
nhau thì phải giải thích theo nghĩa phù hợp nhất với mục đích, tính chất của hợp đồng.
3. Khi hợp đồng có điều khoản hoặc ngôn từ khó hiểu thì phải được giải thích
theo tập quán tại địa điểm giao kết hợp đồng.
4. Các điều khoản trong hợp đồng phải được giải thích trong mối liên hệ với
nhau, sao cho ý nghĩa của các điều khoản đó phù hợp với toàn bộ nội dung hợp đồng.
5. Trường hợp có sự mâu thuẫn giữa ý chí chung của các bên với ngôn từ sử
dụng trong hợp đồng thì ý chí chung của các bên được dùng để giải thích hợp đồng.
6. Trường hợp bên soạn thảo đưa vào hợp đồng nội dung bất lợi cho bên kia thì
khi giải thích hợp đồng phải theo hướng có lợi cho bên kia.
Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực
1. Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực được xác định như sau:
a) Do bên đề nghị ấn định;
b) Nếu bên đề nghị không ấn định thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể
từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó, trừ trường hợp luật liên quan có quy
định khác.
2. Các trường hợp sau đây được coi là đã nhận được đề nghị giao kết hợp đồng:
a) Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú, nếu bên được đề nghị là cá nhân; được
chuyển đến trụ sở, nếu bên được đề nghị là pháp nhân;
b) Đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị;
c) Khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua
Địa điểm giao kết hợp đồng
14

Địa điểm giao kết hợp đồng do các bên thỏa thuận; nếu không có thỏa thuận thì
địa điểm giao kết hợp đồng là nơi cư trú của cá nhân hoặc trụ sở của pháp nhân đã đưa
ra đề nghị giao kết hợp đồng.
Thời điểm giao kết hợp đồng
1. Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao
kết.
2. Trường hợp các bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết
hợp đồng trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng
của thời hạn đó.
3. Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận
về nội dung của hợp đồng.
4. Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào
văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản.
Trường hợp hợp đồng giao kết bằng lời nói và sau đó được xác lập bằng văn
bản thì thời điểm giao kết hợp đồng được xác định theo khoản 3 Điều này.
Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực
1. Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực được xác định như sau:
a) Do bên đề nghị ấn định;
b) Nếu bên đề nghị không ấn định thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể
từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó, trừ trường hợp luật liên quan có quy
định khác.
2. Các trường hợp sau đây được coi là đã nhận được đề nghị giao kết hợp đồng:
a) Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú, nếu bên được đề nghị là cá nhân; được
chuyển đến trụ sở, nếu bên được đề nghị là pháp nhân;
b) Đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị;
c) Khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua
Hiệu lực của hợp đồng
1. Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ
trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác.
15

2. Từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ
đối với nhau theo cam kết. Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận
của các bên hoặc theo quy định của pháp luật.
Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
1. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị về
việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị.
2. Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao
kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa
các bên.
các phương thức khác.
Điều kiện giao dịch chung trong giao kết hợp đồng
1. Điều kiện giao dịch chung là những điều khoản ổn định do một bên công bố
để áp dụng chung cho bên được đề nghị giao kết hợp đồng; nếu bên được đề nghị chấp
nhận giao kết hợp đồng thì coi như chấp nhận các điều khoản này.
2. Điều kiện giao dịch chung chỉ có hiệu lực với bên xác lập giao dịch trong
trường hợp điều kiện giao dịch này đã được công khai để bên xác lập giao dịch biết
hoặc phải biết về điều kiện đó.
Trình tự, thể thức công khai điều kiện giao dịch chung thực hiện theo quy định
của pháp luật.
3. Điều kiện giao dịch chung phải bảo đảm sự bình đẳng giữa các bên. Trường
hợp điều kiện giao dịch chung có quy định về miễn trách nhiệm của bên đưa ra điều
kiện giao dịch chung, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia
thì quy định này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng
1. Bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp
đồng trong trường hợp sau đây:
a) Bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị
trước hoặc cùng với thời điểm nhận được đề nghị;

16