Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG II. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA BLDS 2015 VỀ HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ

CHƯƠNG II. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA BLDS 2015 VỀ HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ

Tải bản đầy đủ

2. Trường hợp bên cung ứng
dịch vụ vi phạm nghiêm
trọng nghĩa vụ thì bên sử
dụng dịch vụ có quyền đơn
phương chấm dứt thực hiện
hợp đồng và yêu cầu bồi
thường thiệt hại.
Nghĩa vụ của 1. Thực hiện công việc đúng Không thay đổi. (Điều 517)
bên cung ứng chất lượng, số lượng, thời
dịch vụ

hạn, địa điểm và thoả thuận
khác.
2. Không được giao cho
người khác thực hiện thay
công việc nếu không có sự
đồng ý của bên sử dụng dịch
vụ.
3. Bảo quản và phải giao lại
cho bên sử dụng dịch vụ tài
liệu và phương tiện được
giao sau khi hoàn thành công
việc.
4. Báo ngay cho bên sử dụng
dịch vụ về việc thông tin, tài
liệu không đầy đủ, phương
tiện không bảo đảm chất
lượng để hoàn thành công
việc.

5. Giữ bí mật thông tin mà
mình biết được trong thời
gian thực hiện công việc, nếu
có thoả thuận hoặc pháp luật
có quy định.
6. Bồi thường thiệt hại cho
bên sử dụng dịch vụ, nếu làm
mất, hư hỏng tài liệu, phương
tiện được giao hoặc tiết lộ bí
mật thông tin.
Quyền của bên 1. Yêu cầu bên sử dụng dịch Không thay đổi. (điều 518)
cung ứng dịch vụ cung cấp thông tin, tài
vụ

liệu và phương tiện để thực
hiện công việc.
2. Được thay đổi điều kiện
dịch vụ vì lợi ích của bên sử
dụng dịch vụ mà không nhất
thiết phải chờ ý kiến của bên
sử dụng dịch vụ, nếu việc
chờ ý kiến sẽ gây thiệt hại
cho bên sử dụng dịch vụ,
nhưng phải báo ngay cho bên
sử dụng dịch vụ.
3. Yêu cầu bên sử dụng dịch

vụ trả tiền dịch vụ.
Trả tiền dịch vụ 1. Bên sử dụng dịch vụ phải Không thay đổi. (điều 519)
trả tiền dịch vụ theo thoả
thuận.

2. Khi giao kết hợp đồng,
nếu không có thoả thuận về
giá dịch vụ, phương pháp xác
định giá dịch vụ và không có
bất kỳ chỉ dẫn nào khác về
giá dịch vụ thì giá dịch vụ
được xác định căn cứ vào giá
thị trường của dịch vụ cùng
loại tại thời điểm và địa điểm
giao kết hợp đồng.
3. Bên sử dụng dịch vụ phải
trả tiền dịch vụ tại địa điểm
thực hiện công việc khi hoàn
thành dịch vụ, trừ trường hợp
có thoả thuận khác.
4. Trường hợp dịch vụ được
cung ứng không đạt được
như thoả thuận hoặc công
việc không được hoàn thành
đúng thời hạn thì bên sử
dụng dịch vụ có quyền giảm
tiền dịch vụ và yêu cầu bồi
Đơn

thường thiệt hại.
phương 1. Trong trường hợp việc tiếp 1. Trường hợp việc tiếp tục

chấm dứt thực tục thực hiện công việc thực hiện công việc không có
hiện hợp đồng không có lợi cho bên thuê lợi cho bên sử dụng dịch vụ
dịch vụ

dịch vụ thì bên thuê dịch vụ thì bên sử dụng dịch vụ có
có quyền đơn phương chấm quyền đơn phương chấm dứt

dứt thực hiện hợp đồng, thực hiện hợp đồng, nhưng
nhưng phải báo cho bên cung phải báo cho bên cung ứng
ứng dịch vụ biết trước một dịch vụ biết trước một thời
thời gian hợp lý; bên thuê gian hợp lý; bên sử dụng dịch
dịch vụ phải trả tiền công vụ phải trả tiền công theo
theo phần dịch vụ mà bên phần dịch vụ mà bên cung ứng
cung ứng dịch vụ đã thực dịch vụ đã thực hiện và bồi
hiện và bồi thường thiệt hại.

thường thiệt hại.

2. Trong trường hợp bên sử 2. Trường hợp bên sử dụng
dụng dịch vụ không thực dịch vụ vi phạm nghiêm
hiện nghĩa vụ của mình hoặc trọng nghĩa vụ thì bên cung
thực hiện không đúng theo ứng dịch vụ có quyền đơn
thoả thuận thì bên cung ứng phương chấm dứt thực hiện
dịch

vụ



quyền

đơn hợp đồng và yêu cầu bồi

phương chấm dứt thực hiện thường thiệt hại.
hợp đồng và yêu cầu bồi
thường thiệt hại.
Tiếp tục hợp Sau khi kết thúc thời hạn Không thay đổi. (Điều 521)
đồng dịch vụ

thực hiện công việc theo hợp
đồng dịch vụ mà công việc
chưa hoàn thành và bên cung
ứng dịch vụ vẫn tiếp tục thực
hiện công việc, bên sử dụng
dịch vụ biết nhưng không
phản đối thì hợp đồng dịch
vụ đương nhiên được tiếp tục
thực hiện theo nội dung đã
thoả thuận cho đến khi công
việc được hoàn thành.

2.2. Đánh giá các điểm mới
So với BLDS 2005 thì BLDS 2015 về hợp đồng dịch vụ chỉ có thay đổi về đơn
phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ đó là “chỉ khi bên sử dụng dịch vụ vi
phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thì bên cung ứng mới có quyền đơn phương chấm dứt
thực hiện hợp đồng và yêu cầu BTTH”. Điểm mới đã làm rõ hơn so với BLDS 2005 và
đảm bảo sự công bằng cho hai bên tham gia hợp đồng dịch vụ.
2.3. Lí do thay đổi của luật
Trong Bộ luật Dân sự năm 2005, quy định riêng dành cho Hợp đồng dịch vụ là
từ Điều 518 đến Điều 526. Với tổng cộng 9 điều luật dành cho hợp đồng dân sự thông
dụng này, các quy định pháp luật đã tạo nên một khung pháp lý cơ bản dành cho Hợp
đồng dịch vụ. Tuy nhiên, trên góc nhìn đối chiếu với các thuộc tính dịch vụ cho thấy
một số điểm còn chưa phù hợp:
Một là, quy định pháp luật về Hợp đồng dịch vụ chưa quy định ranh giới giữa
công việc mang tính chất dịch vụ và công việc không mang tính chất dịch vụ. Theo
Điều 519 Bộ luật Dân sự năm 2005, nguyên tắc pháp luật đặt ra với công việc là đối
tượng Hợp đồng dịch vụ gồm: Có thể thực hiện được, không bị pháp luật cấm và
không trái đạo đức xã hội. Nguyên tắc “có thể thực hiện được” đối với dịch vụ được
quy định chung chung. Thuộc tính của dịch vụ cho thấy, dịch vụ có hai đặc trưng so
với công việc không mang tính dịch vụ là tính chuyên nghiệp và tính sinh kế của
người thực hiện công việc. Điều 519 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định chưa cụ thể
nên dẫn đến trong thực tiễn xét xử, nhiều Tòa án áp dụng quy định dành cho Hợp đồng
dịch vụ giải quyết tranh chấp hợp đồng nếu hợp đồng có đối tượng là công việc.
Hai là, chưa quy định về nghĩa vụ tiền hợp đồng dành cho các nhà cung ứng
dịch vụ chuyên nghiệp. Trong quy định về hợp đồng dân sự nói chung, Việt Nam chưa
thừa nhận các nghĩa vụ tiền hợp đồng. Nhiều nghĩa vụ như cung cấp thông tin, tài liệu,
yêu cầu… thường phải thực hiện trước khi hợp đồng được giao kết để xác định phạm
vi đối tượng. Trong pháp luật của Liên minh Châu Âu đã xây dựng thống nhất một số
nguyên tắc chung, trong đó có nguyên tắc chung về Hợp đồng dịch vụ (Principle of
European Law: service contracts - viết tắt PEL SC) quy định về nghĩa vụ tiền hợp
đồng dành cho các nhà cung ứng dịch vụ như Điều 1:103 quy định nghĩa vụ cảnh báo
trước hợp đồng mà bên cung ứng dịch vụ…

Ba là, chưa quy định về tiêu chuẩn dịch vụ nói chung. Dịch vụ rất đa dạng và
bản thân mỗi dịch vụ có một tiêu chuẩn khác nhau hoặc mỗi nhà cung ứng dịch vụ sẽ
cung cấp dịch vụ ở một tiêu chuẩn nhất định. Tuy nhiên, trong trường hợp các bên
không có thỏa thuận về chất lượng dịch vụ thì pháp luật cần đưa ra các phương thức
xác định tiêu chuẩn dịch vụ.
Bốn là, không quy định về thời điểm thực hiện dịch vụ. Về nguyên tắc, sau khi
Hợp đồng dịch vụ được giao kết và có hiệu lực, các bên thực hiện các quyền và nghĩa
vụ được thỏa thuận, ghi nhận trong hợp đồng. Tuy nhiên, đối với một nhà cung ứng
dịch vụ chuyên nghiệp, pháp luật cần phải có quy định mang tính chất chặt chẽ hơn.
Thời điểm thực hiện dịch vụ cần được tham khảo trong pháp luật một số quốc gia, khu
vực, đặc biệt là PEL SC.
Năm là, cần thay đổi góc nhìn đối với việc giao thực hiện dịch vụ cho người thứ
ba. Theo quy định của pháp luật thì bên cung ứng dịch vụ phải tự mình thực hiện công
việc, không được phép giao cho người khác thực hiện thay công việc. Bộ luật Dân sự
năm 2015 tiếp tục kế thừa quy định này trong Bộ luật Dân sự năm 2005. Tuy nhiên,
dịch vụ là một hoạt động kinh tế đỉnh cao và chất lượng dịch vụ được đảm bảo bởi sự
chuyên nghiệp. Nếu pháp luật tiếp tục quy định như vậy thì sẽ giảm bớt tính năng
động, linh hoạt cho các nhà cung ứng dịch vụ.

KẾT LUẬN
Với những phân tích trên bài viết đã làm rõ những khái niệm, đặc điểm, nội
dung về hợp đồng dịch vụ. Trong đó đã làm sáng tỏ được những điểm mới trong hợp
đồng dịch vụ. Ngoài ra bài viết đã làm rõ vấn đề thỏa thuận hợp đồng dịch vụ đối với
các doanh nghiệp hiện nay. Hợp đồng dịch vụ sẽ càng ngày càng đóng góp cho sự phát
triển nói riêng của doanh nghiệp Việt Nam và cho sự phát triển của ngành dịch vụ nói
chung. Hợp đồng dịch vụ không chỉ là một công cụ pháp lý mà qua đó nhu cầu trao
đổi, giao lưu của người được thực thi và bảo đảm, giúp cho luồng lưu thông hàng hóa,
dịch vụ đáp ứng nhu cầu của con người, xã hội và nền kinh tế. Vì vậy các doanh
nghiệp cần phải có những nghiên cứu cụ thể về hợp đồng thương mại dịch vụ để tránh
những rủi ro pháp lý mà loại hợp đồng này có thể mang lại.
Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu còn nhiều điểm thiếu sót và hạn chế. Em
rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp quý báu của các thầy, cô giáo và các bạn.