Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG I. KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG

CHƯƠNG I. KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG

Tải bản đầy đủ

mới phát sinh hiệu lực, qua đó quyền và nghĩa vụ của các bên mới có thể thực hiện
được trên thực tế.
1.1.3. Chủ thể của hợp đồng
Chủ thể giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự phải có ít nhất từ hai bên trở lên, vì
hợp đồng dân sự là một giao dịch pháp lý song phương hay đa phương. Các chủ thể
khi giao kết, thực hiện hợp đồng đều phải có tư cách chủ thể tức là phải đáp ứng các
điều kiện theo quy định của pháp luật đối với một chủ thể của quan hệ dân sự (ví dụ:
nếu chủ thể là cá nhân thì phải đáp ứng được các yêu cầu về năng lực pháp luật, năng
lực hành vi dân sự…);
1.1.4. Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
Thứ nhất, các chủ thể ký kết hợp đồng phải hợp pháp. Thông thường các bên
giao kết phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự.
Thứ hai, các chủ thể ký kết hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện tức là xuất phát
từ ý chí thực, từ sự tự do ý chí của các bên trong các thỏa thuận hợp đồng đó.
Thứ ba, nội dung của hợp đồng không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Đối
tượng của hợp đồng không thuộc hàng hóa cấm giao dịch, công việc cấm thực hiện.
Bên cạnh đó, nội dung của hợp đồng cần phải cụ thể, bởi vì việc xác lập nghĩa vụ
trong hợp đồng phải cụ thể và có tính khả thi. Những nghĩa vụ trong hợp đồng mà
không thể thực hiện được thì hợp đồng cũng không được coi là có hiệu lực pháp lý làm
phát sinh quyền và nghĩa vụ.
Thứ tư, thủ tục và hình thức của hợp đồng phải tuân theo những thể thức nhất
định phù hợp với những quy định của pháp luật đối với từng loại hợp đồng.
Hợp đồng không đáp ứng được một trong các điều kiện trên sẽ dẫn đến vô hiệu.
1.1.5. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng
Thứ nhất, khi hợp đồng đã được hoàn thành
Khi các bên tham gia hợp đồng đã thực hiện toàn bộ nội dung của nghĩa vụ và
do vậy, mỗi bên đều đã đáp ứng được quyền dân sự của mình thì hợp đồng được coi là
hoàn thành
Thứ hai, hợp đồng được chấm dứt theo thoả thuận của các bên
Trong những trường hợp bên có nghĩa vụ không có khả năng để thực hiện hợp
đồng hoặc nếu hợp đồng được thực hiện sẽ gây ra tổn thất lớn về vật chất cho một

hoặc cả hai bên thì các bên có thể thoả thuận chấm dứt hợp đồng. Hợp đồng đã giao
kết được coi là chấm dứt tại thời điểm các bên đạt được sự thoả thuận nói trên.
Thứ ba, hợp đồng sẽ chấm dứt khi cá nhân giao kết hợp đồng chết, pháp nhân
hoặc các chủ thể khác chấm dứt mà hợp đồng phải do chính cá nhân, pháp nhân hoặc
các chủ thể đó thực hiện.
Cần phải hiểu rằng không phải trong mọi trường hợp cứ cá nhân giao kết hợp
đồng chết, pháp nhân hoặc các tổ chức khác giao kết hợp đồng chấm dứt thì hợp đồng
đều được coi là chấm dứt. Theo căn cứ trên thì chỉ những hợp đồng nào mà do tính
chất của nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đó hoặc do các bên đã thoả thuận trước là
người có nghĩa vụ phải trực tiếp thực hiện nghĩa vụ đó hay chỉ người có quyền mới
được hưởng lợi ích phát sinh từ hợp đồng thì khi họ chết, hợp đồng mới chấm dứt.
Thứ tư, hợp đồng chấm dứt khi một bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp
đồng
Ngoài việc hợp đồng được chấm dứt theo các căn cứ quy định tại Điều 424 Bộ
luật dân sự thì hợp đồng còn chấm dứt khi một bên đơn phương đình chỉ thực hiện hợp
đồng. Khi có một bên vi phạm hợp đồng thì bên kia có quyền đơn phương chấm dứt
thực hiện hợp đồng. Việc đơn chấm dứt thực hiện hợp đồng được thực hiện theo quy
định tại Điều 426 Bộ luật dân sự. Khi đơn phương đình chỉ hợp đồng thì phần hợp
đồng chưa thực hiện sẽ chấm dứt, nghĩa là hợp đồng được coi là chấm dứt kể từ thời
điểm bên vi phạm nhận được thông báo chấm dứt hợp đồng từ bên bị vi phạm. Khi
hợp đồng bị chấm dứt, bên có nghĩa vụ không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của
mình nhưng các bên phải thanh toán phần hợp đồng đã được thực hiện.
Thứ năm, hợp đồng chấm dứt khi một bên huỷ bỏ hợp đồng
Nhằm nâng cao tính kỉ luật trong việc thực hiện hợp đồng, pháp luật cho phép
các bên trong hợp đồng được thoả thuận về việc một bên có quyền huỷ hợp đồng nếu
bên kia vi phạm hợp đồng. Vì vậy, trong những trường đó thì bên bị vi phạm hợp đồng
có quyền đơn phương huỷ hợp đồng và yêu cầu bên vi phạm phải bồi thường thiệt hại.
Khi một bên huỷ hợp đồng thì hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các
bên phải hoàn trả cho nhau những tài sản đã nhận, nếu không hoàn trả được bằng vật
thì phải hoàn trả bằng tiền.

Thứ sáu, hợp đồng không thể thực hiện được do đối tượng của hợp đồng không
còn và các bên có thể thoả thuận thay thế đối tượng khác hoặc bồi thường thiệt hại
Trong những trường hợp đối tượng của hợp đồng là một vật đặc định hoặc đơn
chiếc mà do bị mất hoặc bị tiêu huỷ hay các lí do khác nên vật đó không còn thì hợp
đồng đó đương nhiên được coi là chấm dứt vào thời điểm vật là đối tượng của hợp
đồng không còn. Tuy nhiên, các bên có thể thoả thuận vẫn duy trì hợp đồng đó bằng
cách thay thế vật không còn bằng một vật khác.
1.2. Hợp đồng dịch vụ theo quy định của BLDS 2015
1.2.1. Khái niệm hợp đồng dịch vụ
Hợp đồng dịch vụ trong dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung
ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ, còn bên thuê dịch vụ phải trả
tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ.
1.2.2. Đặc điểm của hợp đồng dịch vụ
• Đặc điểm chung:
Hợp đồng dịch vụ trong thương mại cũng mang những đặc điểm pháp lý cơ bản
của hợp đồng dịch vụ trong dân sự, đó là:
-

Là hợp đồng song vụ: Cả bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ

đều có quyền và nghĩa vụ của mình, trong đó quyền của bên này tương ứng với nghĩa
vụ của bên kia và ngược lại.
-

Là hợp đồng ưng thuận: có hiệu lực ngay từ thời điểm các bên thỏa thuận

xong các điều khoản chủ yếu của hợp đồng.
• Đặc điểm riêng :
- Đối tượng của hợp đồng dịch vụ trong thương mại là dịch vụ. Đối tượng
dịch vụ của hợp đồng dịch vụ trong thương mại có phạm vi hẹp hơn đối tượng công
việc của hợp đồng dịch vụ trong dân sự. Theo nghĩa đơn thuần thường hiểu thì dịch vụ
có thể là mọi hành vi của chủ thể này thực hiện công việc mang lại hiệu quả có lợi cho
chủ thể khác. Dịch vụ là đối tượng của hợp đồng dịch vụ trong thương mại còn phải
được thực hiện vì mục đích sinh lời. Nhưng như vậy thì phạm vi của hợp đồng dịch vụ
sẽ bao gồm cả những hợp đồng khác như hợp đồng gia công, hợp đồng vận chuyển,…
- Dịch vụ đó phải là dịch vụ có thể thực hiện được, không bị pháp luật cấm và
không trái đạo đức xã hội.

1.2.3. Nội dung của hợp đồng dịch vụ
Nội dung của hợp đồng dịch vụ bao gồm tổng hợp các điều khoản trong hợp
đồng. Trong một hợp đồng dịch vụ, các bên có thể thỏa thuận về : đối tượng (dịch vụ
nào?), giá dịch vụ, thời hạn hoàn thành dịch vụ, thời hạn thanh toán…
1.2.4. Quyền và nghĩa vụ các bên
a. Quyền và nghĩa vụ của bên thuê dịch vụ
• Quyền bên thuê dịch vụ
– Bên thuê dịch vụ có quyền yêu cầu bên làm dịch vụ thực hiện công việc theo
đúng chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm và các nội dung khác mà hai bên đã thỏa
thuận.
– Có quyền nhận kết quả công việc mà bên làm dịch vụ đã thực hiện.


Có quyền đơn phương chẩm dứt thực hiện hợp đồng, yêu cầu bồi thường

thiệt hại, nếu bên làm dịch vụ vi phạm nghĩa vụ. Khi đơn phương chấm dứt thực hiện
hợp đồng, bên thuê dịch vụ phải báo trước cho bên làm dịch vụ trong một khoảng thời
gian họp lý và phải trả tiền công theo số lượng, chất lượng mà bên làm dịch vụ đã thực
hiện và bồi thường thiệt hại (nếu có).


Trong trường hợp chất lượng, sổ lượng dịch vụ không đạt được như thoả

thuận hoặc công việc không được hoàn thành đúng thời hạn do lỗi của bên làm dịch
vụ, thì bên thuê dịch vụ có quyền giảm tiền công và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
• Nghĩa vụ


Bên thuê dịch vụ có nghĩa vụ cung cấp cho bên làm dịch vụ thông tin, tài

liệu và các phương tiện cần thiết để thực hiện công việc nếu các bên có thỏa thuận
hoặc việc thực hiện dịch vụ có yêu cầu.
– Bên thuê làm dịch vụ phải trả tiền công (thường gọi là tiền thù lao) cho bên
làm dịch vụ theo thỏa thuận khi xác lập họp đồng. Tiền công được trả tại địa điểm thực
hiện dịch vụ khi hoàn thành dịch vụ, nếu các bên không có thoả thuận khác.
b. Quyền và nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ
• Quyền bên cung ứng dịch vụ


Bên cung ứng dịch vụ có quyền yêu cầu bên thuê dịch vụ phải cung cấp

thông tin, tài liệu và phương tiện để thực hiện dịch vụ vì lợi ích của bên thuê dịch vụ.



Được phép thay đổi điều kiện dịch vụ vì lợi ích của bên thuê dịch vụ mà

không nhất thiết phải chờ ý kiến của bên thuê dịch vụ nếu việc chờ ý kiến sẽ gây thiệt
hại cho bên thuê dịch vụ, nhưng phải báo ngay cho bên thuê dịch vụ biết.
– Bên cung ứng dịch vụ có quyền yêu cầu bên thuê dịch vụ phải trả tiền công
theo thỏa thuận trong hợp đồng. Nếu trong hợp đồng các bên không thỏa thuận cụ thể,
thì tiền công được xác định theo mức trung bình đối với công việc cùng ỉoại tại thời
điểm và địa điểm hoàn thành công việc.
– Bên cung ứng dịch vụ cũng có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp
đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại, nếu bên thuê dịch vụ không thực hiện nghĩa vụ
của mình hoặc thực hiện không đúng như nghĩa vụ mà các bên đã cam kết.
• Nghĩa vụ
Bên cung ứng dịch vụ có nghĩa vụ thực hiện công việc đúng chất lượng, khối
lượng, thời hạn và các điều khoản khác mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp
đồng.


Không được giao cho người khác làm thay công việc, nếu không có sự đồng

ý của bên thuê dịch vụ.


Phải bảo quản và giao lại cho bên thuê dịch vụ tài liệu và phương tiện được

giao để thực hiện dịch vụ sau khi hoàn thành công việc. Khi nhận tài liệu, phương tiện,
thông tin nếu thấy không đầy đủ, không bảo đảm chất lượng để hoàn thành công việc
thì phải báo ngay cho bên thuê dịch vụ biết.


Giữ bí mật thông tin mà mình biết được trong thời gian làm dịch yụ, nếu các

bên có thoả thuận trong hợp đồng hoặc pháp luật có quy định. Bên cung ứng dịch vụ
phải bồi thường thiệt hại cho bên thuê dịch vụ, nếu làm mất mát, hư hỏng tài liệu được
giao để làm dịch vụ hoặc trong quá trình làm dịch vụ đã tiết lộ bí mật thông tin.
1.2.5. Hợp đồng dịch vụ vô hiệu
Bên cạnh việc xác định điều kiện để hợp đồng có hiệu lực, chủ thể cần xem xét
đến các trường hợp vô hiệu khác của hợp đồng, cụ thể:
- Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo (Điều 129 – Bộ Luật dân sự);
- Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành
vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện (Điều 130 – Bộ
Luật dân sự);

- Giao dịch dân sự do bị nhầm lẫn (Điều 131 – Bộ Luật dân sự);
- Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa (Điều 132 – Bộ Luật dân sự);
- Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được
hành vi của mình (Điều 133 – Bộ Luật dân sự);
TIỂU KẾT CHƯƠNG I
Chương I đã giới thiệu một cách khá khái quát về những vấn đề liên quan đến
hợp đồng dịch vụ như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, mục đích và nội dung, hình thức,
hiệu lực, quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể, tranh chấp và giải quyết tranh chấp,
ngoài ra còn có nguyên tắc và trình tự giao kết. Từ đó, giúp độc giả thuận lợi hơn
trong việc theo dõi chương tiếp theo.

CHƯƠNG II. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA BLDS 2015 VỀ HỢP ĐỒNG DỊCH
VỤ
2.1. So sánh BLDS 2005 với BLDS 2015 về hợp đồng dịch vụ
BLDS 2005
BLDS 2015
Khái niệm hợp Hợp đồng dịch vụ là sự thoả Không thay đổi. (Điều 513)
đồng dịch vụ

thuận giữa các bên, theo đó
bên cung ứng dịch vụ thực
hiện công việc cho bên thuê
dịch vụ, còn bên thuê dịch vụ
phải trả tiền dịch vụ cho bên

cung ứng dịch vụ.
Đối tượng của Đối tượng của hợp đồng dịch Không thay đổi. (Điều 514)
hợp đồng dịch vụ phải là công việc có thể
vụ

thực hiện được, không bị
pháp luật cấm, không trái

đạo đức xã hội.
Nghĩa vụ của 1. Cung cấp cho bên cung Không thay đổi. ( Điều 515)
bên

sử

dịch vụ

dụng ứng dịch vụ thông tin, tài liệu
và các phương tiện cần thiết
để thực hiện công việc, nếu
có thoả thuận hoặc việc thực
hiện công việc đòi hỏi.
2. Trả tiền dịch vụ cho bên
cung ứng dịch vụ theo thoả

thuận.
Quyền của bên 1. Yêu cầu bên cung ứng Không thay đổi. (Điều 516)
sử dụng dịch vụ dịch vụ thực hiện công việc
theo đúng chất lượng, số
lượng, thời hạn, địa điểm và
thoả thuận khác.