Tải bản đầy đủ
Trách nhiệm dân sự do chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ dân sự

Trách nhiệm dân sự do chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ dân sự

Tải bản đầy đủ

- Bên có nghĩa vụ phải chịu rủi ro từ thời điểm tiếp nhận nghĩa vụ.
2. Theo quy định tại Điều 288 Bộ luật Dân sự năm 2005, nếu đến hạn thực hiện
nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ đã thực hiện nghĩa vụ dân sự theo thỏa thuận, nhưng bên
có quyền không tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ, thì bị coi là "chậm tiếp nhận thực
hiện nghĩa vụ" (thực chất là vi phạm nghĩa vụ đã cam kết). Khi bên có quyền "chậm
tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ", bên có nghĩa vụ thường phải chịu những chi phí
phát sinh như phải thực hiện các biện pháp bảo quản, chi phí trong giữ tài sản... Do
vậy, bên có nghĩa vụ có quyền yêu cầu người có quyền phải bồi thường thiệt hại cho
mình và phải chịu mọi rủi ro xảy ra kể từ thời điểm chậm tiếp nhận nghĩa vụ, trừ
trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác, vì đến
thời điểm tiếp nhận nghĩa vụ bên có quyền phải chịu rủi ro đối với nghĩa vụ dân sự đó.
1.2.7. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Điều 360 BLDS 2015 có quy định. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm
nghĩa vụ
Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi
thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
 Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1. Hành vi vi phạm: Là một loại trách nhiệm pháp lí nên trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ chỉ phát sinh khi có sự vi phạm và áp dụng đối
với chủ thể có hành vi vi phạm, hành vi vi phạm nghĩa vụ là hành vi không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng, đầy đủ các quy định của hợp đồng.
2. Lỗi: Đây là một trong những căn cứ quan trọng trong việc xác định trách
nhiệm dân sự, về nguyền tắc, người nào gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại và
chỉ bồi thường khi có lỗi, nếu bên có nghĩa vụ không có lỗi thì không phải chịu trách
nhiệm bồi thường thiệt hại khi có hành vi vi phạm.
3. Có thiệt hại thực tế xảy ra: Nội dung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại là
việc người có nghĩa vụ phải bù đắp cho bên bị thiệt hại những tổn thất mà mình đã gây
ra do việc mình đã vi phạm nghĩa vụ dân sự, bởi vậy thiệt hại được coi là yếu tố bắt
buộc và tiền đề để giải quyết có phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại hay không.
23

Thiệt hại trong vi phạm nghĩa vụ theo nghĩa đơn thuần là thiệt hại về vật chất,
theo giáo trình Luật dân sự trường đại học luật hà nội thì: "Thiệt hại là sự biến đổi theo
chiều hướng xấu đi trong tài sản của một người thể hiện ở những vật chất tính được
bằng tiền mà người đó phải gánh chịu". Thiệt hại về vật chất bao gồm: tài sản bị mất,
bị hủy hoại, bị hư hỏng, chi phí bỏ ra để khắc phục, ngăn chặn thiệt hại cũng như hoa
lợi, lợi tức không thu được mà đáng ra thu được.
Việc xác định thiệt hại có xảy ra hay không, thiệt hại đến mức nào là việc làm
hết sức quan trọng và cần thiết khi áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại, vì ý nghĩa
của việc gánh chịu trách nhiệm là việc khắc phục hậu quả và bù đắp tổn thất về tài sản
do việc vi phạm nghĩa vụ gây ra. Phạm vi trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ tương
đương với mức độ thiệt hại xảy ra trên thực tế, có thể phân loại các thiệt hại thành 2
loại sau:
+ Những thiệt hại trực tiếp: Là những thiệt hại đã xảy ra một cách khách quan
trong thực tế mà mức thiệt hại dễ dàng xác định được như: chi phí thực tế và hợp lý; tài
sản bị mất mát, hư hỏng, hủy hoại.
+ Những thiệt hại gián tiếp: Là những thiệt hại phải dựa trên sự tính toán khoa
học mới xác định được thiệt hại, thiệt hại này còn gọi là thu nhập thực tế bị mất mát
hoặc giảm sút.
4. Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra.
Trong khoa học pháp lý, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt
hại xảy ra được hiểu là giữa chúng có mối quan hệ nhân quả, nội tại và tất yếu. Trong
đó hành vi vi phạm là nguyên nhân, thiệt hại xảy ra là kết quả, chỉ khi nào thiệt hại xảy
ra là hậu quả tất yếu của hành vi vi phạm thì người vi phạm mới phải bồi thường thiệt
hại.
Nguyên nhân và kết quả có mối quan hệ nối tiếp nhau, nguyên nhân bao giờ
cũng là các đi trước, là cái sinh ra kết quả. Vì vậy, hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra
tất yếu phải là hau giai đoạn gắn bó với nhau của một quá trình vận động. Trong lĩnh
vực hợp đồng cũng vậy, chỉ khi nào hành vi vi phạm nghĩa vụ của một bên là nguyên
nhân dẫn tới những thiệt hại, tổn thất cho bên kia thì bên vi phạm mới phải chịu trách

24

nhiệm, trong trường hợp thiệt hại xảy ra do không phải lỗi của bên có nghĩa vụ mà do
một nguyên nhân khác thì sẽ không đặt ra vấn đề bồi thường thiệt hại.
Bên cạnh đó một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra và một nguyên
nhân sinh ra cũng có thể làm phát sinh nhiều hậu. Vì vậy nếu có nhiều nguyên nhân
khác nhau dẫn đến thiệt hại thì khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về
ai, cần phải xem xét hành vi vi phạm của họ có quan hệ như thế nào đối với thiệt hại
xảy ra, nếu không xác đinh chính xác mối quan hệ này có thể dẫn đến nhiều sai lầm khi
áp dụng trách nhiệm dân sự.
 Xác định thiệt hại.
Khoản 2 điều 360 : “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm
bù đắp tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm
tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập
thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.
Như vậy, tài sản có thể là tài sản hiện hữu và cũng có thể là tài sản hình thành
trong tương lai, vì tài sản trong tương lai cũng được coi là đối tượng của hợp đồng,
nhưng với tài sản hình thành trong tương lai phải được xác định là chắc chắn sẽ có.
Khi có vi phạm hợp đồng, bên bị vi phạm cũng phải áp dụng hết các biện pháp
hợp lí để ngăn chặn, hạn chế những tổn thất trên thực tế. Do đó, ngoài những thiệt hại
xảy ra do vi phạm nghĩa vụ gồm những tài sản bị mất mát, bị hủy hoại hoàn toàn, giảm
sút giá trị về tài sản, thiệt hại còn tính đến cả những chi phí mà người bị vi phạm phải
bỏ ra ngăn chặn, hạn chế, khắc phục hậu quả, những tổn thất do thu nhập thực tế bị
giảm sút hay mất đi. Có những loại thiệt hại có thể tính toán một cách chính xác, cụ
thể, nhưng có những thiệt hại chỉ có thể xác định một cách ước lượng, xấp xỉ chứ
không thể đưa ra một con số thiệt hại chính xác, có thể xác định thiệt hại dựa trên
những tổn thất sau:
+ Tổn thất về tài sản: Tài sản được xác định theo quy định của bộ luật dân sự
bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bị tổn thất là những tài sản
bị mất mát, hư hỏng, bị giảm sút về giá trị hoặc bị hủy hoại hoàn toàn. Tài sản bị mất
mát, hư hỏng trên thực tế do không được bảo quản tốt trong quá trình vận chuyển, vật
bị giao thiếu, giao không đồng bộ so với thỏa thuận…Một điều cần lưu ý là đối với các
25

tài sản hao mòn tự nhiên, thì hao mòn tự nhiên của tài sản không được coi là thiệt hại
và bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm về những hao mòn tự nhiên đó.
Ví dụ về thiệt hại trực tiếp: A và B ký với nhau hợp đồng cung cấp bát đĩa thủy
tinh, A phải vận chuyển hàng tới tận trụ sở của B, do không cẩn thận, không tuân thủ
quy trình, A đã làm vỡ và sứt mẻ một nửa lô hàng gồm 100 bát con và 80 đĩa thủy tinh;
Trong trường hợp này, tài sản bị thiệt hại được xác định là thiệt hại trực tiếp do vi
phạm nghĩa vụ gây ra.
Tuy vậy, với các hợp đồng mua bán, hợp đồng vận chuyển…Có thể thấy các
thiệt hại về tài sản có thể dễ dàng được xác định và tính toán cụ thể, còn đối với hợp
đồng dịch vụ thì cách xác định thiệt hại sẽ khó tính toán được.
+ Chi phí hợp lí để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại: Có thể hiểu chi phí
hợp lý là một khoản tiền đúng với sự cần thiết phải bỏ ra đê giảm bớt thiệt hại. Những
chi phí này rất đa dạng như chi phí thuê kho chứa, bảo quản, chi phí sửa chữa những
hỏng hóc của máy móc, thiết bị, chi phí thuê lao động… tính hợp lý của các chi phí này
được hiểu là vào trường hợp đó, bất kể ai cũng phải áp dụng các biện pháp nhằm giảm
bớt thiệt hại.
Ví dụ: Bão đổ bộ vào đất liền, việc vận chuyển hàng hóa lúc này là không thể và
khó khăn, bên bị thiệt hại phải thuê gấp một nhà kho để bảo quản hàng hóa và chấp
nhận thuê với giá cao hơn ngày bình thường và thuê người vận chuyển vào trong kho.
Chi phí mới này phát sinh sẽ được coi là hợp lý trong hoàn cảnh đó. Nó hợp lý vì đã
kịp thời ngăn chặn nhằm giảm bớt thiệt hại về tài sản, bên phải bồi thường không thể
cho rằng mình không phải trả thêm khoản tiền mới phát sinh trên.
+ Thu nhập thực tế bị mất, giảm sút: Đây là khoản thu nhập mà bên bị thiệt hại
không thể có được do hành vi vi phạm nghĩa vụ gây thiệt hại của bên kia gây ra. Đối
với các thu nhập khác của người bị thiệt hại nếu bị mất hoặc giảm sút mà không phải
do hành vi vi phạm nghĩa vụ gây ra thì không được bồ thường. Khác với bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút không phải là tiền
lương hay thu nhập từ lao động mà là khoản lợi ích mà nếu như không có hành vi vi
phạm nghĩa vụ thì người đó sẽ được hưởng khoản tiền phát sinh từ hợp đồng đó.
 Mức bồi thường thiệt hại.

26

Theo quy định của pháp luật việt nam, khi tính toán các khoản thiệt hại về tài
sản phải bồi thường, nhà làm luật quy định bên vi phạm chỉ phải bồi thường đối với
những tổn thất thực tế, tính được bằng tiền, từ đó suy ra các thiệt hại khác về danh dự,
uy tín do việc vi phạm nghĩa gây ra sẽ không được bồi thường thiệt hại, thiệt hại được
bồi thường là toàn bộ những tổn thất thực tế phát sinh, do đó thiệt hại thực tế là bao
nhiêu thì bên vi phạm phải bồi thường bấy nhiêu.
1.2.8. Các trường hợp miễn trừ nghĩa vụ dân sự.
Dựa vào quy định tại Điều 351BLDS và các quy định hướng dẫn khác, chúng ta
có thể nêu ra một số trường hợp miễn trừ nghĩa vụ dân sự, đó là:
+ Không phát sinh do sự kiện bất khả kháng (khoản 2 điều 351).
+ Không phải chịu trách nhiệm do lỗi của bên có quyền (khoản 3 điều 351).
+ Miễn trừ trách nhiệm do thỏa thuận trong hợp đồng.
Ngoài ra, cũng cần nói thêm rằng thời hiệu hưởng miễn trừ nghĩa vụ dân sự có
tính liên tục từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc; nếu có sự kiện làm gián đoạn thì thời
hiệu phải được tính lại từ đầu, sau khi sự kiện làm gián đoạn chấm dứt.
1.2.9. Phạt vi phạm
Phạt vi phạm là một vấn đề đáng quan tâm trong Bộ luật dân sự. Giua Bộ luật
dân sự 1995 và 2015 có sự khác nhau về bản chất của phạt vi phạm. Trong bộ luật dân
sự năm 1995 phạt vi phạm được coi là một trong các biện pháp bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ bằng khoản tiền xác định hoặc hoặc khoản tiền theo giá trị nghĩa vụ chậm
thực hiện mà bên có hành vi vi phạm phải nộp cho bên bị vi phạm, do pháp luật quy
định hoặc các bên tự thỏa thuận (được quy định trong phần bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
từ điều 292 đến điều 308). Việc quy định mức phạt vi phạm có thể làm cho bên bị vi
phạm nghĩa vụ nhận được số tiền bị thiệt hại đã tính trước mà không cần phải chứng
minh có thiệt hại thực tế xảy ra hay không.
Bộ luật dân sự 2015 đã xác định lại bản chất của phạt vi phạm hợp đồng, không
còn quy định phạt vi phạm là một trong các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ , mà
cụ thể tại khoản 1 Điều 422 quy định: Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong
hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.
27

Cũng theo quy định tại khoản 3 điều 422 Bộ luật dân sự 2015 thì các bên khi đã
thỏa thuận phạt vi phạm là một trong các biện pháp bảo đảm vẫn có thể thỏa thuận
hoặc không thỏa thuận về vấn đề bồi thường thiệt hại. Trong trường hợp các bên không
có thỏa thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp khoản tiền
phạt vi phạm, nếu có thỏa thuận về bồi thường thiệt hại nhưng không thỏa thuận trước
về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ.
Hình thức phạt vi phạm
Bộ luật dân sự 2005 không quy định hình thức cụ thể của phạt vi phạm. Nghiên


cứu các quy định về hợp đồng trong thương mại quốc tế, thông thường có hai hình thức
phạt vi phạm đó là bội ước và phạt vạ. Bội ước tức là không thực hiện những cam kết
trong hợp đồng, do vậy phạt bội ước là phạt do không thực hiện hợp đồng, trong
trường hợp mức phạt tương đối cao nhằm thực hiện chức năng phục hồi lại tài sản trở
lại trạng thái ban đầu cho bên bị vi phạm, đồng thời thực hiện chức năng đảm bảo
nghĩa vụ thực hiện hợp đồng. Phạt vạ được áp dụng trong các trường hợp các bên thực
hiện hợp đồng không đúng nghĩa vụ như chậm giao hàng, chậm thanh toán tiền…Phạt
vạ là hình thức phạt mà sau khi nộp một khoản tiền phạt, bên vi phạm vẫn phải thực
hiện đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết, mức phạt vi phạm thường nhỏ hơn mức phạt bội ước.
 Mức phạt vi phạm
Mức phạt vi phạm là một khoản tiền nhất định mà bên vi phạm nghĩa vụ phải
nộp cho bên bị vi phạm, các bên có thể ấn định một mức phạt nhất định khi thỏa thuận
giao kết hợp đồng hoặc chỉ thỏa thuận một mức phần trăm tương đối dựa trên nghĩa vụ
bị vi phạm và mức độ bị giới hạn bởi các quy định của pháp luật.
Kế thừa và phát huy kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài , tại Bộ luật dân sự
2015, mức phạt vi phạm được quy định mở hơn, tức là để cho các bên tự thỏa thuận
(khoản 2 điều 442) khi được tự do thỏa thuận mức phạt vi phạm, thì khoản tiền phạt là
bao nhiêu hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của các bên khi tham gia giao kết hợp đồng.
Nếu như các bên coi khoản tiền phạt vi phạm là mức bồi thường thiệt hại dự tính trước,
thì các bên phải tính toán rất cẩn thận về các hậu quả về tính chất của bên vi phạm như
việc chậm giao hàng, chậm thanh toán hay không thực hiện đúng nghĩa vụ chuyển giao
vật cũng như các chi phí phát sinh từ hành vi vi phạm, để đưa ra một khoản tiền phạt
28

hợp lý; Trong trường hợp các bên không tính toán kỹ càng, không lường trước được
các chi phí bì đắp cho thiệt hại phát sinh, thì khi xảy ra vi phạm nghĩa vụ, mức phạt vi
phạm có thể là rất nhỏ hoặc rất lớn so với thực tế.
Còn nếu như các bên coi phạt vi phạm chỉ là một biện pháp trừng phạt đối với
bên vi phạm và là biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thì khoản tiền đó chỉ mang
tính chất tương đối, khi đó các bên thường áp dụng đồng thời bồi thường thiệt hại.
Khi áp dụng các điều khoản phạt vi phạm, các bên có thể thỏa thuận một khoản
tiền cụ thể, cũng có thể đề ra mức phạt dựa trên giá trị nghĩa vụ của hợp đồng. Bộ luật
dân sự 2015 không quy định về giới hạn của mức vi phạm, mức phạt vi phạm ngoài
việc các bên tự thỏa thuận còn có thể thấy trong một số loại hợp đồng cụ thể được quy
định tại các văn bản chuyên nghành khác hướng dẫn thi hành hoặc trong một số loại
hợp đồng theo mẫu.
Luât Thương Mai, mức phạt vi phạm đối với vi phạm hợp đồng hoặc tổng mức
phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng, nhưng không quá
8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm.
Như vậy, một số văn bản pháp luật hợp đồng đều quy định các bên được quyền
tự do thỏa thuận hợp đồng. Tuy nhiên, có giới hạn mức phạt cao nhất mà các bên được
phép áp dụng dựa trên giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm, điều này đảm bảo cho các bên,
đặc biệt là bên có nghĩa vụ chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm của mình đúng với
tính chất và sẽ không phải lo lắng bị áp dụng một khoản phạt quá cao so với thiệt hại
thực tế hoặc bên có quyền cũng không lo chỉ nhận một khoản tiền bù đắp thiệt hại quá
nhỏ so với thiệt hại thực tế xảy ra.

29

TIỂU KẾT CHƯƠNG I
Qua phần phân tích về nội dung chế định trách nhiệm dân sự trên, chúng ta hoàn
toàn hiểu rõ được các quy định về trách nhiệm dân sự qua các thời kì, đặc biệt là trong
năm 2005, BLDS có tính khái quát và sự tiến bộ lớn nhất trong các BLDS từ trước đến
nay.

30

CHƯƠNG II: ĐIỂM MỚI TRONG NỘI DUNG TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ QUY
ĐỊNH TRONG BLDS 2015
2.1. So sánh điểm mới trách nhiệm dân sự giữa BLDS 2005 và BLDS 2015
BLDS 2005
BLDS 2015
1. Bên có nghĩa vụ mà không C ăn cứ Điều 351
thực hiện hoặc thực hiện không 1. Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa
đúng nghĩa vụ thì phải chịu vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối
trách nhiệm dân sự đối với bên với bên có quyền.
có quyền.

Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có

2. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ
nghĩa vụ không thể thực hiện đúng thời hạn, thực hiện không đầy
Trách

nhiệm được nghĩa vụ dân sự do sự đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không

dân sự do vi kiện bất khả kháng thì không đúng nội dung của nghĩa vụ.
phạm nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm dân sự, 2. Trường hợp bên có nghĩa vụ không
dân sự

trừ trường hợp có thoả thuận thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất
khác hoặc pháp luật có quy khả kháng thì không phải chịu trách
định khác.

nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa

3. Bên có nghĩa vụ không phải thuận khác hoặc pháp luật có quy định
chịu trách nhiệm dân sự nếu khác.
chứng minh được nghĩa vụ 3. Bên có nghĩa vụ không phải chịu
không thực hiện được là hoàn trách nhiệm dân sự nếu chứng minh
toàn do lỗi của bên có quyền.

được nghĩa vụ không thực hiện được là
hoàn toàn do lỗi của bên có quyền.

Trách

nhiệm

Quy định chi tiết cụ thể hơn nội dung

dân sự do không 1. Khi bên có nghĩa vụ không này như sau:
thực hiện nghĩa thực hiện nghĩa vụ giao vật đặc 1. Trường hợp nghĩa vụ giao vật đặc
31