Tải bản đầy đủ
Chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ dân sự

Chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ dân sự

Tải bản đầy đủ

-

Chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ là khi đến thời hạn thực hiện nghĩa

vụ mà bên có nghĩa vụ đã thực hiện nhưng bên có quyền không tiếp nhận việc thực
hiện nghĩa vụ đó.
-

Trường hợp chậm tiếp nhận đối tượng của nghĩa vụ là tài sản thì bên có

nghĩa vụ có thể gửi tài sản tại nơi nhận gửi giữ tài sản hoặc áp dụng biện pháp cần thiết
khác để bảo quản tài sản và có quyền yêu cầu thanh toán chi phí hợp lý. Trường hợp tài
sản được gửi giữ thì bên có nghĩa vụ phải thông báo ngay cho bên có quyền.
-

Đối với tài sản có nguy cơ bị hư hỏng thì bên có nghĩa vụ có quyền bán tài

sản đó và phải thông báo ngay cho bên có quyền, trả cho bên có quyền khoản tiền thu
được từ việc bán tài sản sau khi trừ chi phí hợp lý để bảo quản và bán tài sản đó.
-

Chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ dân sự quy định tại Điều 355 Bộ

luật dân sự 2015 .
 Trách nhiệm dân sự do không thực hiện hoặc không đúng nghĩa vụ giao vật.
Là việc triển khai tất cả các nội dung mà các bên đã cam kết trong hợp đồng,
các bên phải hoàn thành nghĩa vụ của mình để đảm bảo quyền lợi cho phía bên kia.
Nghĩa vụ chuyển giao tài sản là nghĩa vụ phổ biến trong hợp đồng thông thường, tồn
tại ở đa số các hợp đồng như hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng vận chuyển, hợp
đồng thuê khoán...Bên có nghĩa vụ chuyển giao tài sản phải thực hiện nghĩa vụ của
mình và việc không thực hiện nghĩa vụ chuyển giao tài sản là một trong những nguyên
nhân làm phát sinh trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ.
Theo quy định tại điều 16 bộ luật dân sự 2015, tài sản mà bên có nghĩa vụ
chuyển giao có thể vật, giấy tờ có giá và quyền tài sản, khi thực hiện nghĩa vụ chuyển
giao vật, bên có nghĩa vụ cần phải chú ý đối tượng của hợp đồng là vật đặc định và vật
cùng loại.
Theo khoản 3 điều 356 quy định: "Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa
vụ giao vật đặc định thì người có quyền được quyền yêu cầu bên có ngĩa vụ phải giao
đúng vật đó; Nếu vật không còn hoặc bị hư hỏng thì phải thanh toán giá trị của vật".
Trong trường hợp này nhà làm luật không quy định bên bị vi phạm có quyền yêu cầu
Tòa án cưỡng chế bên vi phạm nghĩa vụ trên thực tế, vì lí do trong thực tiễn nghĩa vụ
đó đã trở nên không thực hiện được khi mà đã bị mất hoặc hư hỏng.
20

Đáng chú ý đối với các nghĩa vụ gắn với nhân thân và liên quan đến các vấn đề
thanh danh cá nhân, thì khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật,
thì bên có quyền cũng không thể yêu cầu Tòa án cưỡng chế thi hành nghĩa vụ dân sự
được (ví dụ: Hợp đồng thuê nhac sĩ sáng tác ca khúc, nếu họ không có cảm hứng hoàn
thành tác phẩm thì cũng không thể cưỡng chế bắt họ làm ra tác phẩm nghệ thuật của
mình). Trong trường hợp đó, bên có quyền chỉ có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ thanh
toán giá trị tài sản phải chuyển giao và bồi thường thiệt hại vì hành vi vi phạm hợp
đồng.
Do có những tính chất chung đặc điểm, nếu đó là vật cùng loại, bên vi phạm
nghĩa vụ có thể khắc phục bằng việc thay thế vật đã bị hư hỏng bằng vật khác. Vì vậy,
bên có nghĩa vụ có thể xin gia hạn thực hiện nghĩa vụ đó và bồi thường thiệt hại xảy ra
nếu đến thời hạn mà bên có nghĩa vụ chuyển giao vật chưa thực hiện được nghĩa vụ
giao vật cùng loại.
Thực hiện nghĩa vụ dân sự là một trong các nguyên tắc mà các bên thực hiện
hợp đồng thực hiện không đúng nghĩa vụ chuyển giao tài sản là việc chuyển giao tài
sản không đúng số lượng, không đúng phương thức, không đúng địa điểm, do không
giao vật đồng bộ, không đúng chủng loại...việc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ cũng
được coi là thực hiện không đúng nghĩa vụ.
Đối với nghĩa vụ giao vật đồng bộ cũng như vậy, nếu như bên có nghĩa vụ
không giao đúng vật đồng bộ dẫn đến mục đích sử dụng vật không đạt được thì bên
chuyển giao vật cũng có trách nhiệm về hành vi vi phạm nghĩa vụ chuyển giao vật theo
khoản 1 điều 436 Bộ luật dân sự 2015.
Việc thực hiện không đúng nghĩa vụ chuyển giao tài sản còn thể hiện ở việc
chuyển giao không đúng vật chủng loại, bên có nghĩa vụ không được lấy vật khác thay
thế cho vật đã thỏa thuận, quy định tại điều 437 Bộ luật dân sự 2015: "Trong trường
hợp vật dược giao không đúng chủng loại thì bên mua có một trong các quyền sau:
1. Nhận và thanh toán theo giá mà các bên thỏa thuận;
2. Yêu cầu giao đúng chủng loại và bồi thường thiệt hại;
3. Hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại;"
Đối với trường hợp thực hiện nghĩa vụ không đúng thời gian thỏa thuận, như
thực hiện trước thời hạn hoặc thực hiện muộn nghĩa vụ chuyển giao tài sản, thì việc
21

chậm nghĩa vụ lại là một căn cứ khác làm phát sinh trách nhiệm của bên vi phạm nghĩa
vụ. Nhưng đối với việc thực hiện sớm nghĩa vụ thì cẩn giải quyết thế nào và có được
coi là một trong các trường hợp phát sinh trách nhiệm do thực hiện không đúng nghĩa
vu không? Có thể thấy trong việc thực hiện sớm nghĩa vụ, bên có quyền có tiếp nhận
hoặc không tiếp nhận nghĩa vụ đó, việc thực hiện trước, trường hợp nếu rủi ro mà xảy
ra là lỗi hoàn toàn thuộc về bên có nghĩa vụ, những rủi ro đó do bên có nghĩa vụ phải
gánh chịu. Bên có quyền cũng không được quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải bồi
thường thiệt hại và cũng không có quyền chấm dứt hợp đồng. Vì thế, bên có nghĩa vụ
thực hiện trước thời hạn thì có lẽ không nên đặt ra vấn đề trách nhiệm dân sự đối với
bên có nghĩa vụ.
 Trách nhiệm dân sự do chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ dân sự
Điều 359. Trách nhiệm dân sự do chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ dân sự
"Bên có quyền chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ dân sự làm phát sinh
thiệt hại cho bên có nghĩa vụ thì phải bồi thường thiệt hại cho người đó và phải chịu
mọi rủi ro xảy ra kể từ thời điểm chậm tiếp nhận, trừ trường hợp có thoả thuận khác
hoặc pháp luật có quy định khác."
1. Về nguyên tắc, rủi ro đối với tài sản do chủ sở hữu gánh chịu. Quy định về
việc người chậm tiếp nhận thực hiện nghĩa vụ phải chịu rủi ro là ngoại lệ của nguyên
tắc đó.
Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định việc tiếp nhận nghĩa vụ là nghĩa vụ của
người có quyền. Trong quan hệ đối xứng giữa quyền - nghĩa vụ của các bên trong giao
dịch dân sự, việc "yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ" là quyền của bên có
quyền, và ngược lại, việc "tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ dân sự" là nghĩa vụ của
chính người đó. Bên có quyền phải tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ đúng thời
gian, địa điểm, v.v.., mà các bên đã cam kết. Thông thường, nếu các bên không có thỏa
thuận hoặc pháp luật không quy định, cơ sở để phân định bên nào chịu rủi ro đối với
nghĩa vụ dân sự được xác định như sau:
- Bên có nghĩa vụ phải chịu rủi ro từ thời điểm bắt đầu giao kết hợp đồng cho
đến thời điểm chuyển giao nghĩa vụ cho bên có quyền;
22

- Bên có nghĩa vụ phải chịu rủi ro từ thời điểm tiếp nhận nghĩa vụ.
2. Theo quy định tại Điều 288 Bộ luật Dân sự năm 2005, nếu đến hạn thực hiện
nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ đã thực hiện nghĩa vụ dân sự theo thỏa thuận, nhưng bên
có quyền không tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ, thì bị coi là "chậm tiếp nhận thực
hiện nghĩa vụ" (thực chất là vi phạm nghĩa vụ đã cam kết). Khi bên có quyền "chậm
tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ", bên có nghĩa vụ thường phải chịu những chi phí
phát sinh như phải thực hiện các biện pháp bảo quản, chi phí trong giữ tài sản... Do
vậy, bên có nghĩa vụ có quyền yêu cầu người có quyền phải bồi thường thiệt hại cho
mình và phải chịu mọi rủi ro xảy ra kể từ thời điểm chậm tiếp nhận nghĩa vụ, trừ
trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác, vì đến
thời điểm tiếp nhận nghĩa vụ bên có quyền phải chịu rủi ro đối với nghĩa vụ dân sự đó.
1.2.7. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Điều 360 BLDS 2015 có quy định. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm
nghĩa vụ
Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi
thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
 Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1. Hành vi vi phạm: Là một loại trách nhiệm pháp lí nên trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ chỉ phát sinh khi có sự vi phạm và áp dụng đối
với chủ thể có hành vi vi phạm, hành vi vi phạm nghĩa vụ là hành vi không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng, đầy đủ các quy định của hợp đồng.
2. Lỗi: Đây là một trong những căn cứ quan trọng trong việc xác định trách
nhiệm dân sự, về nguyền tắc, người nào gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại và
chỉ bồi thường khi có lỗi, nếu bên có nghĩa vụ không có lỗi thì không phải chịu trách
nhiệm bồi thường thiệt hại khi có hành vi vi phạm.
3. Có thiệt hại thực tế xảy ra: Nội dung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại là
việc người có nghĩa vụ phải bù đắp cho bên bị thiệt hại những tổn thất mà mình đã gây
ra do việc mình đã vi phạm nghĩa vụ dân sự, bởi vậy thiệt hại được coi là yếu tố bắt
buộc và tiền đề để giải quyết có phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại hay không.
23