Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG I: KHÁT QUÁT CHUNG VỀ CHẾ ĐỊNH TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ

CHƯƠNG I: KHÁT QUÁT CHUNG VỀ CHẾ ĐỊNH TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ

Tải bản đầy đủ

của mình thì quan hệ pháp luật phát sinh là quan hệ nghĩa vụ, còn trong trường hợp
nghĩa vụ bị vi phạm, quan hệ phát sinh sau đó là quan hệ trách nhiệm.
Tóm lại Trách nhiệm dân sự (theo nghĩa hẹp) là các biện pháp có tính cưỡng
chế áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật gây ra thiệt hại cho người
khác, người gây ra thiệt hại phải chịu trách nhiệm khắc phục những hậu quả xấu xảy ra
bằng tài sản của mình (trong đó có bồi thường thiệt hại trong hợp đồng hoặc ngoài hợp
đồng).
• Đặc điểm
Trách nhiệm dân sự là một loại trách nhiệm pháp lý nói chung, nên giống như
các loại trách nhiệm pháp lý khác, nó cũng có những đặc điểm chung sau đây:
- Là hậu quả pháp lý của hành vi vi phạm, chỉ được áp dụng khi có hành vi vi
phạm pháp luật và chỉ áp dụng đối với người có hành vi vi phạm đó.
- Là một hình thức cưỡng chế của nhà nước và do cơ quan có thẩm quyền của
nhà nước áp dụng.
- Luôn mang dến một hậu quả bất lợi cho người có hành vi vi phạm.
Ngoài những đặc điểm chung của trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm dân sự còn
mang những đặc điểm riêng như sau:
- Căn cứ phát sinh trách nhiệm dân sự là hành vi vi phạm luật dân sự hoặc vi
phạm hợp đồng (đó là việc không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ
nghĩa vụ của người có nghĩa vụ dân sự).
- Trách nhiệm dân sự mang tính tài sản. Đây chính là đặc điểm cơ bản của trách
nhiệm dân sự. Do đó, trách nhiệm dân sự của người vi phạm bao giờ cũng là sự bù đắp
cho bên vi phạm những lợi ích vật chất nhất định.
- Chủ thể chịu trách nhiệm dân sự có thể là người vi phạm nhưng cũng có thể là
người khác, như là người đại diện theo pháp luật cho người chưa thành niên, pháp
nhân, cơ quan, tổ chức.
- Hậu quả bất lợi mà người vi phạm phải chịu là việc bắt buộc phải thực hiện
nghĩa vụ hoặc bồi thường thiệt hại nhằm bảo vệ quyền và khắc phục vật chất cho bên
vi phạm.
6

1.1.3. Cơ sở pháp lý
Văn bản ghi nhận trách nhiệm dân sự của chủ thể khi người vi phạm pháp luật
dân sự nhằm bù đắp về tổn thất vật chất, tinh thần cho người bị thiệt hại tại Điều 7 Bộ
luật dân sự năm 2015 về nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự:
“Các bên phải nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình và tự chịu
trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, nếu không
tự nguyện thực hiện thì có thể bị cưỡng chế thực hiện theo quy định của pháp luật”.
Thứ nhất, trách nhiệm dân sự là một loại trách nhiệm pháp lý, khác với trách
nhiệm đạo đức, mà ở đây trách nhiệm pháp lý có mục đích xác lập các chế tài cụ thể.
Thứ hai, trách nhiệm dân sự không phải là một sự trừng phạt mà là một biện
pháp buộc người có hành vi vi phạm pháp luật vào nghĩa vụ bồi thường cho người bị
tổn hại do hành vi đó gây ra. Trách nhiệm dân sự khác với trách nhiệm hình sự ở chỗ:
trách nhiệm hình sự tập trung sự chú ý vào hành vi; còn trách nhiệm dân sự tập trung
sự chú ý vào thiệt hại hay hậu quả của hành vi. Do đó, trong trách nhiệm dân sự, dù có
hành vi vi phạm nhưng không có sự thiệt hại, thì không dẫn tới nghĩa vụ bồi thường.
Tuy nhiên, trong trách nhiệm hình sự người ta cũng quan tâm tới hậu quả ở
mức độ nhất định. Trách nhiệm hình sự thể hiện sự phản ứng của xã hội đối với kẻ
phạm tội trên cơ sở suy diễn hành vi bị trừng phạt đó chống lại sự bình ổn chung của
cộng đồng. Ngược lại, trách nhiệm dân sự không phải là sự phản ứng của xã hội đối
với người vi phạm mà là sự hỗ trợ của pháp luật đối với người bị thiệt hại do vi phạm
gây ra để khôi phục lại tình trạng tài chính như khi không có sự vi phạm. Vì vậy các
chế tài dân sự mang tính chất tư, chứ không mang tính chất công như chế tài hình sự.
Dù sao cũng có những vi phạm xảy ra làm phát sinh cả trách nhiệm hình sự, trách
nhiệm dân sự và trách nhiệm lương tâm.
Thứ ba, trách nhiệm dân sự được chia thành trách nhiệm hợp đồng và trách
nhiệm ngoài hợp đồng. Trách nhiệm hợp đồng phát sinh khi hợp đồng không được
thực hiện gây thiệt hại cho bên bị vi phạm và bên bị vi phạm đòi bồi thường. Trách

7

nhiệm ngoài hợp đồng phát sinh khi một người có lỗi gây thiệt hại cho một người khác
và người bị thiệt hại đòi hỏi sự bồi thường.
Trách nhiệm hợp đồng hay trách nhiệm ngoài hợp đồng giống nhau ở chỗ đều
phát sinh từ việc vi phạm nghĩa vụ, nhưng được phân biệt bởi nghĩa vụ bị vi phạm phát
sinh từ hợp đồng hoặc từ pháp luật. Tuy nhiên sự phân biệt có ý nghĩa trong việc chứng
minh. ở đây, cần phân biệt thêm rằng, trách nhiệm hợp đồng là một nguồn gốc phát
sinh nghĩa vụ khác với hợp đồng. Nghĩa vụ hợp đồng phát sinh trên cơ sở sự thống
nhất ý chí của các đương sự hay hành vi pháp lý. Còn nghĩa vụ bồi thường phát sinh
ngoài ý chí của đương sự, có nghĩa là do luật định.
1.2. Những quy định về trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam
1.2.1. Các loại trách nhiệm dân sự
Trên thực tế có hai loại trách nhiệm đó là: trách nhiệm ngoài hợp đồng và
trong hợp đồng.
Trước tiên, hai loại TNDS này đều mang tính chất của TNDS là:
- Căn cứ phát sinh trách nhiệm là hành vi vi phạm pháp luật dân sự và chỉ áp
dụng với người thực hiện hành vi vi phạm đó;
- Tính chất của chế tài là hậu quả pháp lý bất lợi mang tính tài sản dành cho
người thực hiện hành vi vi phạm;
- Là một biện pháp cưỡng chế mang tính chất pháp lý, do đó được đảm bảo thi
hành bởi pháp luật và bộ máy cưỡng chế của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Bên cạnh những điểm chung cơ bản đó, TNDS do vi phạm hợp đồng và TNDS
ngoài hợp đồng còn có những điểm khác nhau như sau:
a) Về nguồn gốc phát sinh:
Trong BLDS hiện hành, quy định về TNDS do vi phạm hợp đồng được xây
dựng nên bởi các quy phạm điều chỉnh chế định hợp đồng. Nói cách khác, quy định về
TNDS trong hợp đồng có thể coi là một phần của chế định hợp đồng trong pháp luật
dân sự. Theo đó, TNDS do vi phạm hợp đồng chỉ tồn tại khi một hợp đồng tồn tại,
trách nhiệm này chỉ phát sinh khi xuất hiện sự vi phạm một hay nhiều nghĩa vụ được
quy định trong hợp đồng. Trong khi đó, TNDS ngoài hợp đồng là các loại TNDS phát
8

sinh bên ngoài, không phụ thuộc vào hợp đồng, mà chỉ cần tồn tại một hành vi vi phạm
pháp luật dân sự, cố ý hay vô ý, gây thiệt hại cho người khác và hành vi này cũng
không liên quan đến bất cứ một hợp đồng nào có thể có giữa người gây thiệt hại và
người bị thiệt hại.
b) Về căn cứ xác định trách nhiệm:
Thiệt hại, bao gồm thiệt hại về vật chất và tinh thần, không chỉ là nền tảng cơ
bản mà còn là điều kiện bắt buộc của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;
trong khi đó thiệt hại không phải là điều kiện bắt buộc trong việc xác định TNDS trong
hợp đồng, bởi chỉ cần có hành vi vi phạm nghĩa vụ đã có thể phát sinh TNDS và khi
xét đến vấn đề thiệt hại trong hợp đồng, chỉ xét đến những tổn thất về mặt vật chất. Nói
rõ hơn, bên vi phạm vẫn phải chịu trách nhiệm dù đã có hay chưa có thiệt hại xảy ra
khi bên kia bị vi phạm hợp đồng. Bên cạnh đó, khi xem xét đến hành vi vi phạm, thì
đối với TNDS trong hợp đồng, hành vi này là hành vi vi phạm những cam kết cụ thể,
những nghĩa vụ mà hai bên tự ràng buộc nhau trong hợp đồng, tức là hành vi này chưa
chắc đã vi phạm các quy định pháp luật chung mà chỉ vi phạm “pháp luật” thiết lập
giữa những người tham gia giao kết hợp đồng; còn đối với TNDS ngoài hợp đồng,
hành vi này là hành vi vi phạm những quy định của pháp luật nói chung, những quy
định do Nhà nước ban hành dẫn đến thiệt hại, vì vậy đó có thể là hành vi vi phạm
những quy định của pháp luật chuyên ngành khác như hình sự, hành chính, kinh tế…
Đối với TNDS trong hợp đồng, khi hợp đồng được giao kết, các bên có nghĩa vụ
thực hiện đúng những cam kết đã thỏa thuận trong hợp đồng. Nếu một bên không thực
hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ là vi phạm hợp đồng. Hai bên có thể dự liệu
và thỏa thuận trước về những trường hợp thiệt hại do vi phạm hợp đồng và cách thức
chịu trách nhiệm như bồi thường thiệt hại hay phạt vi phạm. Trong khi đó, đối với
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, căn cứ xác định trách nhiệm là hành
vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại và lỗi
c) Về phương thức thực hiện trách nhiệm:
Đối với TNDS do vi phạm hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận mức bồi thường
hay phạt vi phạm kể từ khi giao kết hợp đồng (thể hiện bản chất thỏa thuận của hợp
9

đồng). Đối với TNDS ngoài hợp đồng thì bên gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ và
kịp thời, cả thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp, điều quan trọng là các bên trong
quan hệ TNDS không biết nhau và không biết trước việc sẽ xảy ra để làm phát sinh
quan hệ TNDS, do đó không thể thỏa thuận trước bất cứ một việc gì. Việc thực hiện
nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thường sẽ làm chấm dứt nghĩa vụ. Các
bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện
vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác.
d) Yếu tố lỗi:
TNDS trong hợp đồng phát sinh do lỗi cố ý hoặc vô ý của người không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc
pháp luật có quy định khác; còn trong TNDS ngoài hợp đồng, việc phân biệt lỗi cố ý và
vô ý cũng có ý nghĩa nhưng bên cạnh đó thì người có hành vi vi phạm có thể chịu trách
nhiệm ngay cả khi không có lỗi trong trường hợp pháp luật có quy định, như Khoản 2
Điều 584 BLDS năm 2015: “Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại
phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó”.
e) Về thời điểm xác định trách nhiệm:
Một trong những nội dung quan trọng để có thể xác định được đúng mức bồi
thường thiệt hại của bên vi phạm là xác định thời điểm chịu TNDS, TNDS sẽ phát sinh
tại thời điểm xảy ra thiệt hại hay tại thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên bị
vi phạm, điều này tùy thuộc vào tính chất của TNDS. Đối với TNDS trong hợp đồng,
thời điểm TNDS phát sinh kể từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực và có bên vi phạm
nghĩa vụ hợp đồng; còn với TNDS ngoài hợp đồng, TNDS phát sinh kể từ thời điểm
xảy ra hành vi gây thiệt hại.
f) Về tính liên đới trong chịu TNDS:
Với TNDS do vi phạm hợp đồng, trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì
họ liên đới chịu trách nhiệm nếu khi giao kết hợp đồng họ có thỏa thuận trước về vấn
đề chịu trách nhiệm liên đới. Còn với TNDS ngoài hợp đồng, trong trường hợp nhiều

10

người cùng gây thiệt hại thì họ đều phải chịu trách nhiệm liên đới theo các quy định cụ
thể của pháp luật dân sự.
1.2.2. Chủ thể của trách nhiệm dân sự
Chủ thể chịu trách nhiệm dân sự có thể là người vi phạm nhưng cũng có thể là
người khác, như là người đại diện theo pháp luật cho người chưa thành niên, pháp
nhân, cơ quan, tổ chức.
1.2.3. Trách nhiệm pháp lý
Trách nhiệm pháp lí là một khái niệm chung được sử dụng tại nhiều ngành luật
khác nhau. Về mặt khái niệm trách nhiệm pháp lý được hiểu là hậu quả pháp lý (sự
trừng phạt) đối với chủ thể vi phạm pháp luật, thể hiện ở mối quan hệ đặc biệt giữa nhà
nước với các chủ thể vi phạm pháp luật, được các quy phạm pháp luật xác lập và điều
chỉnh, trong đó chủ thể vi phạm pháp luật phải chụ những hậu quả bất lợi, những biện
pháp cưỡng chế được quy định ở chế tài các quy phạm pháp luật.
Trách nhiệm pháp lý có những đặc điểm sau:
- Thành phần đang chú ý nhất của trách nhiệm pháp lý là "hậu quả pháp lý" hay
nói cách khác là chế tài, thái độ của nhà nước đối với các hành vi vi phạm pháp luật
được thể hiện qua việc áp dụng các chế tài và được thực hiện bởi bộ máy cưỡng chế
nhà nước.
- Tính đền bù, mục đích của trách nhiệm pháp lý không chỉ là trừng trị hành vi
vi phạm pháp luật mà bên cạnh đó còn có sự khôi phục tình trạng tương ứng đối với
phần hậu quả mà người vi phạm đã gây ra do không thực hiện nghĩa vụ của mình.
- Về hình thức của trách nhiệm pháp lý chỉ tồn tại khi được quy định trong các
văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.
1.2.4. Nghĩa vụ dân sự
Nghĩa vụ dân sự luôn là một vấn đề pháp lý đáng quan tâm của các Bộ luật dân
sự đã từng tồn tại ở Việt Nam từ trước đến nay. Về mặt khái niệm, hiện nay theo quy
định tại điều 274 Bộ luật dân sự năm 2015: "Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một
hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật,
11

chuyển giao quyền, trả tiền, hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không
thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của môt hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi
là bên có quyền).
Nghĩa vụ dân sự được phân thành nhiều loại khác nhau, đó là nghĩa vụ dân sự
riêng rẽ, nghĩa vụ dân sự liên đới, nghĩa vụ dân sự được phân chia theo phần, nghĩa vụ
hoàn lại và nghiã vụ bổ sung. Nghĩa vụ dân sự có những đặc điểm riêng đó là: Nghĩa
vụ dân sự là một quan hệ pháp luật dân sự; Các bên chủ thể trong nghĩa vụ dân sự luôn
được xác định cụ thể; quyền và nghĩa vụ dân sự của hai bên chủ thể đối lập nhau;
Quyền dân sự của các bên chủ thể là một quyền đối nhân.
1.2.5. Các căn cứ phát sinh trách nhiệm pháp lí do vi phạm nghĩa vụ dân sự


Hành vi vi phạm nghĩa vụ.

-

Hành vi không thực hiện nghĩa vụ được hiểu là người có nghĩa vụ phải thực

hiện nghĩa vụ trước người có quyền theo mối quan hệ nghĩa vụ được xác lập nhưng
người có nghĩa vụ đã không thực hiện, hành vi không thực hiện nghĩa vụ có thể được
biểu hiện qua các trường hợp sau đây:
- Người có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ chuyển giao tài sản nếu đối
tượng của nghĩa vụ được các bên thỏa thuận là tài sản và theo đó các bên có nghĩa vụ
phải chuyển giao tài sản cho bên có quyền.
- Người có nghĩa vụ không thực hiện công việc theo thỏa thuận với bên có
quyền hoặc theo quy định của pháp luật, hành vi thực hiện không đúng nghĩa vụ được
hiểu là người có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ theo nội dung được xác định cụ thể
(thực hiện đúng đối tượng, đúng thời hạn...) nhưng người có nghĩa vụ đã không thực
hiên đúng nội dung của nghĩa vụ theo thỏa thuận với người có quyền, hoặc dù đã thực
hiện nhưng chỉ mới thực hiện môt phần, chưa đầy đủ (không giao đủ tiền, không giao
đủ số lượng hàng hóa...).
Sự vi phạm hay không thi hành nghĩa vụ có thể được thể hiện thông qua một lời
tuyên bố của người có nghĩa vụ là sẽ không thi hành, sự kiện này có thể có nhiều lý do:
Người có nghĩa vụ không muốn thi hành vì giả dối; Do sự nhầm lẫn, người có nghĩa vụ
tưởng rằng nghĩa vụ đã chấm dứt trong khi trên thực tế họ vẫn đang bị ràng buộc với
12

nghĩa vụ đó (ví dụ: Tưởng đã thanh toán hết số tiền mua hàng, nhưng trên thực tế còn
thiếu còn thiếu khoản tiền cước phí vận chuyển).
Ngoài ra, có thể trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên giao kết có thể
không đồng ý với nhau về nội dung nghĩa vụ, vì thế một bên từ chối thực hiện nghĩa vụ
viện cớ rằng theo họ nghĩ thì họ không phải thi hành nghĩa vụ mà bên kia đòi hỏi (ví
dụ: Hai bên giao kết hợp đồng biểu diễn ca nhạc, bên thuê không trả hết tiền vì cho
rằng, tiền thuê nhạc cụ và âm thanh bên biểu diễn phải tự chịu hoặc đã bao gồm trong
phí thuê biểu diễn). Nếu người có nghĩa vụ tuyên bố công khai về việc không thực hiện
thì ý định của họ đã rõ ràng, nhưng nhiều khi giữ thái độ im lặng, không thông báo gì.
Đối với trường hợp này cần phải xem xét việc họ chưa thực hiện nghĩa vụ là do họ
không thể thực hiện hay từ chối thực hiện, để làm được điều này thì người có quyền
cần gửi cho người có nghĩa vụ một giấy thông báo yêu cầu thực hiện nghĩa vụ như thỏa
thuận, nếu người có nghĩa vụ không trả lời hoặc đưa ra lý do không chính đáng và
không hợp pháp, thì đây có thể là căn cứ hợp pháp để người có quyền khởi kiện ra tòa.
• Lỗi
Tại điều 364 Bộ luật dân sự có quy định như sau:
- Lỗi là yếu tố chủ quan thể hiện thái độ tâm lý của con người đối với hành vi
của mình và hậu quả của hành vi đó gây ra. Để xác định người có nghĩa vụ khi vi phạm
nghĩa vụ đó có phải chịu trách nhiệm dân sự hay không, trước hết phải xem xét người
đó có lỗi hay không và trường hợp đó thuộc lỗi cố ý hay vô ý.
- Lỗi cố ý được hiểu là một người khi thực hiện một hành bi nhất định, nhận
thức được hành vi của mình sẽ gây ra thiệt hại cho người khác, mặc dù mục đích của
hành vi đó không nhất thiết là phải gây thiệt hại.
- Lỗi vô ý gây thiệt hại là một người khi thực hiện một hành vi không thấy
trước được hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác, mặc dù phải biết hoặc có
thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra, hoặc biết trước hành vi của mình sẽ gây thiệt hại
nhưng cho rằng thiệt hại không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.
- Bộ luật dân sự 2015 quy định người có nghĩa vụ mà không thực hiện nghĩa
vụ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm dân sự khi họ có lỗi.

13

Trong một số trường hợp nhất định, thì điều kiện xác định trách nhiệm dân sự phải là
lỗi cố ý.
- Người vi phạm nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm của mình
dù lỗi cố ý hay vô ý, nhưng cần lưu ý, việc phân biệt lỗi cố ý hoặc vô ý trong trách
nhiệm dân sự có ý nghĩa trong việc giảm mức bồi thường thiệt hại cho người vi phạm
hoặc xác định trách nhiệm của người có quyền nếu họ có lỗi đối với hành vi vi phạm
nghĩa vụ của người có nghĩa vụ.
- Trong một số trường hợp yếu tố lỗi cố ý hay vô ý được nhận thức dễ dàng từ
tính chất của vụ việc. Mặc dù vậy, không phải lúc nào cũng có thể xác định được việc
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ là do lỗi cố ý hay lỗi vô ý của
người có nghĩa vụ. Do đó, trước đây điều 364 Bộ luật dân sự năm 1995 quy định trách
nhiệm chứng minh lỗi cố ý hoặc vô ý thuộc về người vi phạm nghĩa vụ. Tuy nhiên, đây
là quy định thuộc về pháp luật tố tụng, việc đưa ra các chứng cứ chứng minh mình có
lỗi trong việc thực hiện nghĩa vụ dân sự hay không đã được bộ luật tố tụng dân sự 2004
quy định đầy đủ và cụ thể, vì thế bộ luật dân sự 2005 không điều chỉnh quy định này.
1.2.6. Trách nhiệm buộc phải thực hiện nghĩa vụ.
 Trách nhiệm pháp lý do vi phạm nghĩa vụ dân sự
Trách nhiệm pháp lí được cho là một chủ thể phải gánh chịu những hậu quả
pháp lí bất lợi theo quy định của pháp luật do có hành vi vi phạm pháp luật. Nghĩa vụ
dân sự là một quan hệ pháp luật giữa người có nghĩa vụ và người có quyền xác định tại
đó người có nghĩa vụ bị pháp luật cưỡng chế thực hiện nghĩa vụ nên việc vi phạm
nghĩa vụ được xem như vi phạm pháp luật. Trách nhiệm dân sự ràng buộc các cá nhân,
tổ chức khi tham gia vào các giao dịch dân sự phải thực hiện đúng các nghĩa vụ đã cam
kết. Nếu họ không thực hiện hoặc thưc hiện không đúng các nghĩa vụ đó thì phải chịu
trách nhiệm dân sự bằng việc bồi thường thiệt hại. Vì vậy người vi phạm nghĩa vụ phải
gánh chịu hậu quả bất lợi là trách nhiệm dân sự - một loại trách nhiệm pháp lí.
Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng mua bán tài sản là một
hình thức chế tài do nhà nước quy định để áp dụng đối với các hành vi vi phạm các
quyền và nghĩa vụ mà các bên đã cam kết, thỏa thuận trong hợp đồng. Tuy nhiên, trách
nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng mua bán tài sản lại bao hàm nội
14

dung riêng không giống như trách nhiệm dân sự khác. Đặc thù riêng này là trách nhiệm
dân sự do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng mua bán tài sản và là một loại chế tài dân
sự có liên quan mật thiết đến hợp đồng mua bán tài sản. Nghĩa vụ dân sự được phát
sinh từ hợp đồng và được đảm bảo thực hiện bằng sự cưỡng chế của Nhà nước. Các
nghĩa vụ này mang tính chất tài sản và xác định giá trị bằng tiền.
Căn cứ để xác định là việc vi phạm nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng. Biểu hiện
của hành vi vi phạm là việc chủ thể đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng,
không đầy đủ. Nghĩa vụ bị vi phạm có thể là nghĩa vụ chính (nghĩa vụ đặc thù) tương
ứng với chủ thể của hợp đồng, hoặc là một nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng. Hợp đồng
là công cụ chủ yếu để xác lập quan hệ giữa các cá nhân và pháp nhân với nhau liên
quan đến tài sản trong một xã hội có tổ chức. Thông qua hợp đồng mua bán tài sản, các
bên đã thỏa thuận các quyền và nghĩa vụ phải thực hiện. Trách nhiệm dân sự do vi
phạm nghĩa vụ trong hợp đồng chính là việc một hoặc hai bên tham gia vào hoạt động
đã không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các nghĩa vụ mà hai bên đã cam kết
trong hợp đồng. Bên vi phạm phải buộc tiếp tục thực hiện hợp đồng và buộc phải bồi
thường thiệt hại bằng tài sản cho các chủ thể bị vi phạm.
 Trách nhiệm dân sự do không thực hiện một công việc phải thực hiện hoặc
do không thực hiện một công việc
Đây là trường hợp TNDS trong hợp đồng phát sinh khi đối tượng của hợp đồng
là công việc phải thực hiện hoặc không thực hiện. Nếu các bên thỏa thuận bên có nghĩa
vụ phải làm một là công việc hay không được làm một việc, thì bên có nghĩa vụ phải
thực hiện theo đúng thỏa thuận đó. Đối tượng là công việc phải thực hiện hoặc không
thực hiện thường xuất hiện trong các hợp đồng gia công hoặc dịch vụ. Công việc được
làm phải được coi là đối tượng của nghĩa vụ hợp đồng, công việc phải làm có thể được
hoàn thành với một kết quả nhất định, nhưng cũng có thể không gắn liền với một kết
quả nào, có thể được biểu hiện dưới dạng vật chất cụ thể, cũng có thể không thể hiện
dưới dạng vật chất. Công việc không được làm là đối tượng của nghĩa vụ hợp đồng
trong những trường hợp, các bên thỏa thuận mà theo đó, người có nghĩa vụ không được
thực hiện một công việc theo nội dung mà các bên đã xác định.
15