Tải bản đầy đủ
- Lập kế hoạch kiểm toán tổng quát.

- Lập kế hoạch kiểm toán tổng quát.

Tải bản đầy đủ

Sơ đồ 1.1. Các bước công việc chính trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán
Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán
Thu thập thông tin cơ sơ
Thu thập thông tin về các nghĩa vụ pháp lý của khách hàng

Thực hiện thủ tục phân tích
Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro kiểm toán
Nghiên cứu hệ thống KSNB của khách hàng và đánh giá rủi ro kiểm toán
Diễn giải:
Bước 1: Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán
Khi KTV và Công ty kiểm toán gửi thư chào hàng, thu nhận một khách
hàng, quy trình kiểm toán sẽ bắt đầu. Trên cơ sở xác định đối tượng khách hàng
cần phục vụ, KTV sẽ tiến hành các công việc cần thiết để chuẩn bị lập kế hoạch
cho cuộc kiểm toán bao gồm: đánh giá khả năng chấp nhận của khách hàng mới
và sự tiếp tục của khách hàng cũ, nhận diện các lý do kiểm toán của Công ty
khách hàng, lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán, thỏa thuận sơ bộ với khách
hàng và ký hợp đồng kiểm toán.


Đánh giá khả năng chấp nhận của khách hàng cũ và sự tiếp tục của khách hàng
mới
Trước khi ký một hợp đồng kiểm toán, KTV phải đánh giá, xem xét việc
chấp nhận hay tiếp tục một khách hàng có làm tăng rủi ro cho hoạt động kiểm
toán của KTV hay làm ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín và hình ảnh của Công ty
15

kiểm toán hay không? Để làm được điều này, đòi hỏi KTV phải có thu thập và
lựa chọn từ nhiều nguồn thông tin từ các bên liên quan tới doanh nghiệp. Với các
khách hàng cũ, KTV cần cập nhật những thông tin mới về khách hàng, xem xét
xem năm hiện tại có thêm những rủi ro nào có thể khiến KTV và Công ty kiểm
toán phải ngững cung cấp dịch vụ hay không? Với các khách hàng mới, việc
KTV cần làm đầu tiên là xem xét lý do lựa chọn kiểm toán mới của khách hàng,
từ đó xác định khả năng chấp nhận kiểm toán, thu thập thông tin khi BCTC của
khách hàng đã được sử dụng rộng rãi, đánh giá hệ thống kiểm soát chất lượng và
tính liêm chính của BGĐ, liên lạc với KTV tiền nhiệm nhằm thu thập những
thông tin về tính chính trực của ban quản lý, các bất đồng nếu có giữa hai bên,
các vấn đề quan trọng khác… và lý do tại sao lại có sự thay đổi KTV. Qua
những thông tin đó, KTV sẽ tổng hợp và cân nhắc việc chấp nhận đi tới một hợp
đồng kiểm toán.


Nhận diện các lý do kiểm toán của Công ty khách hàng
Bước công việc này, thực chất là công việc giúp KTV xác định được đối
tượng và mục đích sử dụng BCTC của khách hàng, Đây là hai yếu tố quan trọng
ảnh hưởng đến số lượng bằng chứng cần phải thu thập và mức độ chính xác của
các ý kiến của KTV đưa ra trong BCKT. Dựa trên tình hình hoạt động SXKD,
khả năng của Công ty thông qua phỏng vấn trực tiếp BGĐ khách hàng, hoặc dựa
vào kinh nghiệm của các cuộc kiểm toán trước đó (đối với khách hàng cũ) để
đưa ra quyết định hợp lý trong việc ký kết hợp đồng kiểm toán và thiết kế
phương pháp kiểm toán phù hợp. Đồng thời, KTV phải thu thập thêm thông tin
trong suốt quá trình kiểm toán đờờ̉ hiờờ̉u thờm vờờ̀ lý do kiểm toán của khách hàng.
Thông qua bước công việc này, Công ty kiểm toán cần ước lượng quy mô phức
tạp của cuộc kiểm toán, từ đó, tạo điều kiện thuận lợi cho việc lựa chon đội ngũ
nhân viên để thực hiên cho cuộc kiểm toán ở các giai đoạn tiếp theo.



Lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán
16

Việc lựa chọn đội ngũ nhân viên thích hợp cho mụụ i cuụcụ kiểm toán nói
chung và khoản mục chứa đựng nhiều rủi ro như khoản mục phải thu khách hàng
nói riêng có vai trò vô cùng quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả và chất
lượng của cuộc kiểm toán. Chuẩn mực kiểm toán chung đầu tiên nêu rõ: “ Quá
trình kiểm toán phải được thực hiện bởi một hoặc nhiều người đã được đào tạo
đầy đủ thành thạo như một KTV”. Do đó, trong quá trình lựa chọn đội ngũ nhân
viên, Công ty kiểm toán cần quan tâm tới ba vấn đề chính:
-

Lựa chọn những KTV có kiến thức và kinh nghiệm về ngành nghề kinh doanh
của khách hàng,

-

Tránh thay đổi KTV trong các cuộc kiểm toán cho một khách hàng trong nhiều năm,

-

Nhóm kiểm toán có những người có khả năng giám sát các nhân viên chưa có
kinh nghiệm trong nghề.
Mặt khác, trong nhiờờ̉u trường hợp, cần có chính sách luân chuyển KTV
giữa các khách hàng để tránh việc kiểm tra theo lối mòn hoặc theo ảnh hưởng tới
tính khách quan, độc lập. Đối với những khoản mục quan trọng như TK 131, sẽ
do những KTV dày dặn kinh nghiệm, thường xuyên đảm nhận khoản mục này
thực hiện.



Thỏa thuận sơ bộ với khách hàng và ký hợp đồng kiểm toán
Sau khi khách hàng và Công ty kiểm toán đã thống nhất lựa chọn, trao đổi
và thoả thuận sơ bộ về một số vấn đề như mục đích và phạm vi kiểm toán, việc
cung cấp các tài liệu cõờ̀n thiờờ́t…. Trên cơ sở đó, hai bên sẽ xúc tiến việc ký hợp
đồng kiểm toán. Đây là bước cuối cùng trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán mà
Công ty kiểm toán phải thực hiện. Theo chuẩn mực kiểm toán số 210: “Hợp
đồng kiểm toán phải được lập và ký chính thức trước khi tiến hành công việc
kiểm toán nhằm bảo vệ quyền lợi của khách hàng và Công ty kiểm toán”. Đó
chính là sự thỏa thuận chính thức giữa khách hàng và Công ty kiểm toán về việc
thực hiện kiểm toán và các dịch vụ khác. Đồng thời, hợp đồng kiểm toán sẽ là cơ
17

sở pháp lý để KTV thực hiện các bước tiếp theo của cuộc kiểm toán, đảm bảo
cho mụtụ cuụcụ kiểm toán được thực hiện.
Bước 2: Thu thập thông tin cơ sở
Sau khi ký kết hợp đồng, KTV tiến hành thu thập, tìm hiểu các thông tin
ban đầu về khách hàng (ngành nghề kinh doanh, kết quả kiểm toán năm trước,
giấy phép kinh doanh, biên bản các cuộc họp,…), tìm hiểu về hệ thống kế toán,
hệ thống KSNB đối với khoản mục phải thu khách hàng và các bên liên quan để
hoạch định các thủ tục kiểm toán phù hợp với đặc điểm hoạt động của khách
hàng, nhất là giúp KTV xác định được khu vực có rủi ro cao để có biện pháp
kiểm toán thích hợp. Đồng thời, KTV đánh giá khả năng có những sai sót trọng
yếu, đánh giá ban đầu về mức trọng yếu với BCTC cũng như khoản mục phải
thu khách hàng và thực hiện thủ tục phân tích để xác định khối lượng công việc
cần thực hiện.
Đối với khoản mục phải thu khách hàng, việc thu thập thông tin thường
được tiến hành thông qua:
-

Ngành nghề kinh doanh nào cũng có những đặc điểm riêng, thông qua việc tìm
hiờờ̀u ngành nghề kinh doanh của khách hàng, KTV có thể xác định được mức độ
quan trọng và kết cấu của khoản phải thu khách hàng không giống nhau giữa các
doanh nghiệp. Với những doanh nghiệp có kết cấu khoản phải thu khách hàng
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số tài sản, công tác kiểm toán cần chú ý vào sự
phản ánh trung thực, đầy đủ và hợp lý của các khoản phải thu khách hàng.

-

KTV có thể liên hệ với KTV tiền nhiệm (đối với khách hàng cũ) hoặc xem lại hồ
sơ kiểm toán năm trước (đối với khách hàng cũ) để thu thập thông tin cơ bản về
mức độ sai phạm của doanh nghiệp năm trước với khoản mục phải thu khách
hàng.

-

KTV cần tìm hiểu những thay đổi về các khoản phải thu khách hàng, việc thay
đổi các khách hàng thường xuyên, hoặc khách hàng mới,… trong các năm trước.
18

-

KTV cần nhận diện các bên liên quan với doanh nghiệp. Đây là bước thu thập
thông tin quan trọng, đó là thu thập các mối quan hệ giữa BGĐ, kế toán trưởng
với khách hàng, nhà cung cấp, các ngân hàng, các đơn vị tín dụng,…Thụng qua
phỏng vấn và đánh giá mối quan hệ có thể đưa ra những nhận xét ban đầu về rủi
ro tiềm tàng có thể xảy ra đối với các số liệu kế toán khoản phải thu khách hàng
của doanh nghiệp.

-

Cuối cùng, KTV cần thu thập các tài liệu, số liệu kế toán do kế toán trưởng
khách hàng cung cấp về phải thu khách hàng như: BCĐKT, BCĐSPS, nhật ký
bán hàng, nhật ký thu tiền, sổ cái TK 131,…đờờ̉ tiến hành phân tích sơ bộ.
Bước 3: Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
Bên cạnh việc thu thập các thông tin cơ sở, KTV cần thu thập các thông
tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng để nắm bắt được các quy trình mang tính
pháp lý có ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh. Theo Hệ thống CMKTVN,
chuẩn mực số 250 (VAS 250): “Khi lập kế hoạch kiểm toán và thực hiện kiểm
toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải có thái độ thận trọng nghề
nghiệp (theo quy định tại Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200), phải chú ý
đến hành vi không tuân thủ pháp luật và các quy định dẫn đến sai sót ảnh hưởng
trọng yếu đến báo cáo tài chính. Khi phát hiện thấy một hành vi cố ý không tuân
thủ pháp luật và các quy định, kiểm toán viên phải tính đến khả năng đơn vị
cũng có những vi phạm khác nữa. Ngược lại, nếu hành vi là vô tình, kiểm toán
viên không nhất thiết phải áp dụng yêu cầu trên’’. Các thông tin liên quan đến
nghĩa vụ pháp lý mà KTV cần thu thập bao gồm:

-

Giấy phép thành lập và điều lệ Công ty: đây là tài liệu quy định những vấn đề
mang tính chất nội bộ của đơn vị (cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ,…)

-

Biên bản các cuộc họp cổ đông, Hội đồng quản trị và BGĐ: đây là tài liệu quan
trọng về xét duyệt mua bán, phê chuẩn giải thờờ̉,…

-

Các hợp đồng và cam kết quan trọng, hợp đồng mua bán hàng húa,…
19

-

Các BCTC, báo cáo kiểm toán, thanh tra của năm hiện hành hay vài năm trước.
Bước 4: Thực hiện thủ tục phân tích
Theo CMKTVN số 520: “ Quy trình phân tích bao gồm việc so sánh các
thông tin tài chính như: so sánh thông tin tương ứng trong kỳ này với kỳ trước ;
so sánh giữa thực tế với kế hoạch của đơn vị (ví dụ: kế hoạch sản xuất, kế hoạch
bán hàng...); so sánh giữa thực tế với ước tính của kiểm toán viên (Ví dụ: Chi
phí khấu hao ước tính...); so sánh giữa thực tế của đơn vị với các đơn vị trong
cùng ngành có cùng quy mô hoạt động hoặc với số liệu thống kê, định mức cùng
ngành (Ví dụ: Tỷ suất đầu tư, tỷ lệ lãi gộp). Quy trình phân tích cũng bao gồm
việc xem xét các mối quan hệ: Giữa các thông tin tài chính với nhau (Ví dụ: mối
quan hệ giữa lãi gộp với doanh thu...) ; giữa các thụng tinh tài chính với các
thông tin phi tài chính (Ví dụ: mối quan hệ giữa chi phí nhân công với số lượng
nhõn viờn...)’’. Thủ tục phân tích được áp dụng trong mọi cuộc kiểm toán và
trong tất cả các giai đoạn của cuộc kiểm toán. Qua đó, KTV có thể xác định
được nội dung cơ bản của cuộc kiểm toán. Các thủ tục phân tích được kiểm toán
viên sử dụng khi kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng gồm hai loại cơ bản:
phân tích ngang và phân tích dọc.
Phân tích ngang (phân tích xu hướng): là việc phân tích dựa trên cơ sở
so sánh các trị số của cùng một chỉ tiêu trên BCTC. Cụ thể, đối với khoản phải
thu khách hàng, KTV tiến hành:

-

So sánh về số liệu nợ phải thu khách hàng của kỳ này với kỳ trước. Qua đó, KTV
có thể nhận thấy tình hình biến động bất thường của khoản mục và xác định

-

được các vấn đề cần quan tâm.
So sánh các chỉ tiêu của Công ty khách hàng với chỉ tiêu chung của toàn ngành.
So sánh số nợ phải thu khách hàng thực tế với số dự toán hay ước tính của KTV
Phân tích dọc (phân tích tỷ suất): là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh
các tỷ lệ tương quan của các chỉ tiêu và khoản mục khác nhau trên BCTC, tỷ suất
20

về khả năng thanh toán nhanh, khả năng thanh toán hiện hành, tỷ suất về cơ cấu
vụờ́n,…Trong quá trình kiểm toán khoản mục nợ phải thu khách KTV thường sử
dụng một số tỷ suất sau:
Tỷ suất thanh toán hiện hành =
Trong đó, tài sản ngắn hạn bao gồm cả các khoản phải thu khách hàng. Việc
phân tích các tỷ suất sẽ giúp KTV có tể phát hiện ra một số vấn đề liên quan đến các
khoản phải thu khách hàng. Sự tăng lên hoặc giảm đi đáng kể của các tỷ suất này sẽ
chỉ ra những vấn đề về tính trọn vẹn và hiện hữu của khoản mục này. Bên cạnh đó,
các tỷ suất còn chịu ảnh hưởng bởi sự thay đổi của một số khoản tài sản khác (tiền,
tài sản ngắn hạn).
Kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng, KTV cần quan tâm đến tỷ lệ
các khoản nợ quá hạn hoặc nợ không đòi được trên tổng số doanh thu, tỷ lệ hàng
bán bị trả lại hoặc các khoản chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán…
Ngoài ra, KTV còn quan tâm đến chỉ tiêu thời gian quay vòng khoản phải thu:
Số vòng quay các khoản phải

Doanh thu thuần
Số dư bình quân các khoản phải thu KH
thu khách hàng
Hệ số vòng quay khoản phải thu khách hàng thể hiện mối quan hệ giữa
=

doanh thu thuần với các khoản phải thu khách hàng. Nó phản ánh tốc độ biến
khoản phải thu khách hàng thành tiền mặt. Vòng quay các khoản phải thu KH
càng cao chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu càng nhanh. Tuy nhiên, nếu
vòng thu quá cao thì cũng đồng nghĩa với kỳ thanh toán ngắn hạn và có thể ảnh
hưởng đến khối lượng tiêu thụ sản phẩm
Việc áp dụng thủ tục phân tích không chỉ giúp KTV nhận ra tình hình biến
động cũng như tính chất trọng yếu của khoản mục mà còn ước tính được khối
lượng công việc cần thực hiện sau đó.
Bước 5: Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro kiểm toán khoản mục phải thu khách
hàng
21



Đánh giá tính trọng yếu:
Là bước cơ bản và quan trọng trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán.
Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 320 về tính trọng yếu trong kiểm toán là
“ thông tin là trọng yếu nếu việc bỏ sót hoặc sai sót của thông tin có thể ảnh
hưởng đến quyết định kinh tế của người sửa dụng BCTC. Tính trọng yếu phụ
thuộc vào mức độ quan trọng của các khoản mục hay sai sót được đánh giá theo
bối cảnh cụ thể tạo ra việc bỏ sót hoặc sai sót đó. Vì thế, tính trọng yếu là một
ngưỡng hoặc một điểm định tính cơ bản mà một thông tinh hữu ích cần có’’.
Theo Các văn bản chỉ đạo kiểm toán quốc tế số 25 (IAG 25): “ Trọng yếu là khái
niệm chỉ tầm cỡ, bản chất của các sai phạm (kể cả bỏ sót) thông tin tài chính
hoặc đơn lẻ hoặc từng nhóm, mà trong bối cảnh cụ thể nếu đựa vào các thông tin
này để xét đoán thì sẽ không chính xác hoặc rút ra kết luận sai lầm’’
Dựa vào đặc điểm hoạt động sản xuõt kinh doanh của khách hàng, KTV sẽ
lựa chọn ra chỉ tiêu (doanh thu, vốn chủ sở hữu, tổng tài sản) để ước lượng mức
độ trọng yếu ban đầu cho toàn bộ BCTC, hay chính là mức độ sai sót có thể chấp
nhận được đối với BCTC. Từ đó, đánh giá ảnh hưởng của các sai sót lên BCTC
và xác định quy mô và bản chất của cuộc kiểm toán. Sau khi ước lượng được
mức trọng yếu, KTV sẽ tiến hành phân bổ mức trọng yếu cho các khoản mục.
Mức trọng yếu đối với khoản mục phải thu khách hàng chính là sai số có thể
chấp nhận được đối với khoản mục này. Việc phân bổ này là hoàn toàn cần thiết
vì đây là cơ sở để KTV quyết định quy mô bằng chứng cần thu thập. Cơ sở này
sẽ cho KTV những bằng chứng thích hợp ở mức chi phí thấp nhất để KTV đưa
ra kết luận đối với khoản mục phải thu khách hàng.
Cơ sở để KTV phân bổ mức trọng yếu cho khoản mục phải thu khách
hàng là bản chất khoản mục, đánh giá về rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, kinh
nghiệm của KTV và chi phí kiểm toán đối với khoản mục.
Quy trình đánh giá trọng yếu khoản mục phải thu khách hàng của công ty
22

Bước 1: Ước lượng ban đầu về tính trọng yếu của khoản mục phải thu khách
hàng. Dựa vào bảng đánh giá mức trọng yếu của khoản mục phải thu khách
hàng.
Biểu 1.2. Đánh giá mức trọng yếu của khoản mục phải thu khách hàng
Mức trọng yếu
Không trọng yếu
Có thể trọng yếu
Chắc chắn trọng yếu

Tỷ lệ
< 10% Tổng giá trị Tài sản
10 – 15% Tổng giá trị Tài sản
>15% Tổng giá trị Tài sản

Bước 2: Phân bổ ước lượng ban đầu về mức trọng yếu cho khoản mục
phải thu khách hàng.
Bước 3: Ước tính sai phạm khoản mục phải thu khách hàng
Tổng hợp toàn bộ sai phạm chưa được điều chỉnh và dự tính sai phạm tiềm
tàng của khoản mục rồi so sánh với mức trọng yếu của khoản mục để đưa ra
quyết định có yêu cầu điều chỉnh thêm hay ra kết luận kiểm toán cho khoản mục.
Bước 4: So sánh sai sót tổng hợp với ước lượng ban đầu


Đánh giá rủi ro kiểm toán:
Bất kỳ mụtụ cuụcụ kiểm toán nào cũng chứa đựng những rủi ro nhất định do
nhiều nguyên nhân khác nhau, chính vì vậy, khi lập kế hoạch kiểm toán, KTV
cần chú ý đánh giá rủi ro kiểm toán. Theo định nghĩa của nguyên tắc chỉ đạo
kiểm toán quốc tế IGA 25: “Rủi ro kiểm toán là những rủi ro mà KTV có thể
mắc phải khi đưa ra những nhận xét không xác đáng về các thông tin tài chính
và đó là các sai sót nghiêm trọng”. Dựa trên cơ sở mức trọng yếu phân bổ cho
khoản mục phải thu khách hàng, KTV sẽ thiết kế các thủ tục kiểm toán và xây
dựng chương trình kiểm toán thích hợp cho khoản mục này. KTV cần đánh giá
các loại rủi ro sau:

-

Rủi ro tiềm tàng (IR): rủi ro tiềm tàng đối với khoản mục phải thu khách hàng là
khả năng số dư của khoản mục có thể xảy ra sai sót dự có hay không hệ thống
23

kiểm soát nội bộ của đơn vị khách hàng. KTV đánh giá rủi ro tiềm tàng của
khoản mục này dựa trên tính chất ngành nghề kinh doanh của khách hàng, quy
mô của khoản mục, mức độ trọng yếu của số dư tài khoản, các phán đoán nghề
nghiệp của KTV về rủi ro của khoản mục từ việc thực hiện thủ tục phân tích
trong bước chuẩn bị kiểm toán, số lượng các khách hàng không thường xuyên,
các ước tính dự phòng phải thu khó đòi…
-

Rủi ro kiểm soát (CR): Rủi ro kiểm soát đối với khoản mục phải thu khách hàng
là khả năng hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng không hoạt động hoặc
hoạt động không có hiệu quả do đó không phát hiện và ngăn chặn được các sai
phạm đối với khoản mục này. KTV đánh giá rủi ro kiểm soát đối với khoản mục
phải thu khách hàng thông qua việc tìm hiểu hệ thống KSNB của khách hàng đối
với khoản mục này như về môi trường kiểm soát, trình độ của đội ngũ kế toán
thanh toán và bán hàng, việc thiết lập và thực hiện các quy trình chung về bán
hàng, quy chế đối chiếu số dư công nợ cuối kỳ…

-

Rủi ro phát hiện (DR): Rủi ro phát hiện đối với khoản mục phải thu khách hàng
là khả năng xảy ra sai sót hay gian lận đối với khoản mục này mà không được
ngăn ngừa hay phát hiện bởi hệ thống KSNB và KTV cũng không phát hiện
được ra trong quá trình thực hiện các bước công việc kiểm toán. Rủi ro này có
thể xảy ra do KTV thực hiện các bước công việc kiểm toán không thích hợp
hoặc thực hiện không đầy đủ các bước công việc đó. Ví dụ như KTV không gửi
thư xác nhận độc lập mà tin tưởng tuyệt đối vào Hệ thống KSNB của khách
hàng. Từ một mức rủi ro kiểm toán mong muốn cùng mức rủi ro kiểm soát và rủi
ro tiềm tàng KTV đã đánh giá ở trên, KTV sẽ tính ra được rủi ro phát hiện đối
với khoản mục phải thu khách hàng theo mô hình dưới đây, từ đó KTV ước
lượng được số lượng bằng chứng kiểm toán thích hợp để đưa ra ý kiến chính xác
đối với khoản mục phải thu khách hàng.

24

Mức độ rủi ro kiểm toán mong muốn được xác định trong giai đoạn lập kế
hoạch kiểm toán theo mô hình sau:
DAR = IR*CR*DR hay DR =
Trong đó:
DAR: Rủi ro kiểm toán
IR: Rủi ro tiềm tàng
CR: Rủi ro kiểm soát
DR: Rủi ro phát hiện
Tùy theo mức độ tin tưởng của người sử dụng bên ngoài với BCTC, cũng
như khả năng khách hàng sẽ gặp phải những khó khăn tài chính sau khi BCKT
được công bố là cao hay thấp mà KTV sẽ đánh giá rủi ro kiểm toán cho toàn bộ
BCTC và cho khoản mục phải thu khách hàng là thấp hay cao.
Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA số 320, mức độ trọng yếu và rủi
ro có mối quan hệ ngược chiều nhau, nghĩa là khi mức độ trọng yếu càng cao thì
rủi ro kiểm toán càng thấp và ngược lại. Trên cơ sở cân nhắc mối quan hệ này,
KTV sẽ xác định được nội dung, lịch trình và phạm vi các thủ tục kiểm toán một
cách thích hợp. Vì vậy, KTV cần hiểu sâu sắc mối quan hệ này để thu thập được
các bằng chứng kiểm toán có giá trị cao, giảm rủi ro phát hiện xuống đến mức có
thể chấp nhận được. Trên thực tế, việc xác định trọng yếu và rủi ro kiểm toán là
thủ tục phức tạp đòi hỏi trình độ cũng như kinh nghiệm phán đoán của KTV.
Hiện nay ở CPA Việt Nam cũng đã xây dựng được quy trình ước lượng trọng
yếu và rủi ro kiểm toán tuy nhiên mô hình này còn rất đơn giản và chủ yếu được
ước lượng bởi sự xét đoán của KTV.
Biểu 1.3. Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán và số lượng bằng chứng
kiểm toán cần thu thập

25