Tải bản đầy đủ
Tổng cầu (AD – Aggregate Demand)

Tổng cầu (AD – Aggregate Demand)

Tải bản đầy đủ

• Tổng cầu trong nền kinh tế đóng (Hộ gia đình, doanh nghiệp và Chính
phủ).
AD = C + I + G
• Tổng cầu trong nền kinh tế mở (Hộ gia đình, doanh nghiệp, Chính phủ và
khu vực nước ngoài).
AD = C + I + G + NX
Trong đó:
C là cầu của hộ gia đình
I là cầu của doanh nghiệp
G là cầu của Chính phủ
NX = X - M là cầu của khu vực nước ngoài
b. Đường tổng cầu theo giá
Đường tổng cầu theo giá là đường cong dốc xuống lồi về phía gốc tọa độ thể hiện
mối quan hệ nghịch biến giữa giá cả và sản lượng.

P

AD
Y

Hình 5.2: Đồ thị đường tổng cầu
c. Các nhân tố ảnh hưởng đến tổng cầu
• Biến nội sinh: Giá cả hàng hoá
• Biến ngoại sinh:
 Sản lượng hay thu nhập (thu nhập thường xuyên và thu nhập dự đoán)
 Sở thích
 Chính sách kinh tế của chính phủ (chính sách tài khoá, chính sách tiền
tệ, chính sách cho vay ưu đãi, chính sách thuế)
 Tình hình kinh tế xã hội của đất nước
 Hiệu ứng của cải
23

2. Tổng cung (AS – Aggregate Suppy)
a. Khái niệm
Tổng cung là tổng khối lượng hàng hoá dịch vụ mà các tác nhân trong nền kinh
tế có khả năng và sẵn sàng cung ứng trong nền kinh tế tương ứng với từng mức giá
khác nhau, các yếu tố khác đã cho là không đổi trong một thời gian nhất định.
b. Đường tổng cung theo giá
Đường tổng cung theo giá là đường cong dốc lên thể hiện mối quan hệ đồng
biếb giữa giá cả và sản lượng.
Khi giá tăng lên một tí là lượng cung tăng lên nhưng tốc độ tăng giảm dần do
nguồn lực là có giới hạn.

Hình 5.3:
Đồ thị đường tổng cung theo giá
c. Các nhân tố ảnh hưởng đến tổng cung
• Biến nội sinh: Giá cả hàng hoá dịch
vụ
• Biến ngoại sinh:
 Chi phí sản xuất (lao động,
vốn, công nghệ, thuế, … )
 Chính sách của chính phủ (trợ
cấp, thuế, ....)
3. Cân bằng tổng cung và tổng cầu
Khi kết hợp tổng cung tổng cầu trên cung
một hệ trục toạ độ ta sẽ xác định được cân bằng
cung cầu. Tại đó ta có mức sản lượng cân bằng và
mức giá cân bằng. là giá trị của toàn bộ lượng
hàng hóa và dịch vụ mà các doanh nghiệp trong
nước muốn cung ứng cho nền kinh tế tại mỗi mức
giá.
Trong nền kinh tế tồn tại 3 trường hợp cân
bằng sau:

P

AS

P2
P1

Y1

Y

Y2

Hình 5.4: Đồ thị 3 trường hợp
cân bằng tổng cung, tổng cầu
24
ADA

P

AS

P

P

AS

AS

Trên đồ thị Yp là mức sản lượng tiềm năng, đó là mức sản lượng tối ưu mà nề
kinh tế có thể đạt được trong điều kiện toàn dụng nhân công (sử dụng hợp lý các nguồn
lực) mà không làm lạm
Eo phát tăng cao.
Eo
YoPolà sản lượng cân bằng, tại đóPo
cầu hàng hoá dịch
bằng cung hàng hoá
Eo vụ đúngPo
và dịch vụ.
AD
AD
Yo Yp
III. Mục tiêu và công
cụ kinh tếY vĩ mô

1. Các mụcCân
tiêubằng
kinhkhiếm
tế vĩ mô
dụng

Yp

Y

Yp Yo

Y

Cân bằng toàn dụng Cân bằng trên mức toàn dụng

Thành tựu kinh tế vĩ mô của một nước thường được đánh giá thông qua 3 dấu
hiệu chủ yếu là ổn định, tăng trưởng và công bằng xã hội; muốn vạy các chính sách
kinh tế vĩ mô phải hướng tới các mục tiêu cụ thể sau:
a. Mục tiêu sản lượng
Thước đo sản lượng toàn diện là tổng sản phảm quốc dân (GNP). Cụ thể là GNP
thực tế tăng nhanh, ổn định và vững chắc (Yo tăng tiến sát đến Yp)
b. Mục tiêu công ăn việc làm
Đạt tỷ lệ công ăn việc làm cao không phải chỉ đơn thuần là một mục tiêu kinh tế mà
còn ảnh hưởng lớn về tâm lý, xã hội.
Tạo được nhiều công ăn việc làm, làm giảm thất nghiệp không tự nguyện, duy trì ở
mức thất nghiệp tự nhiên.
c. Mục tiêu ổn định giá cả
Đảm bảo ổn định giá cả trong điều kiện thị trường tự do hoạt động, giá cả không
tăng cũng không giảm quá nhanh.
Giá cả do thị trường tự do quyết định là một cách có hiệu quả để tổ chức sản xuất và
làm cho thị trường đáp ứng được thị hiếu của nhân dân.
c. Mục tiêu kinh tế đối ngoại
Ổn định tỷ giá hối đoái
Cân bằng cán cân thanh toán quốc tế
d. Mục tiêu phân phối công bằng
Đây là một trong những mục tiêu quan trọng của các quốc gia trong quá trình phát
triển kinh tế. Sự phân phối thu nhập khó thực hiện được công bằng bởi trong xã hội
mọi người có thể khác nhau về quyền sở hữư tài sản, khác nhau về năng lực, khác
nhau về trình độ. Thị trường không thể giải quyết hiệu quả vấn đề công bằng nên
Chính phủ phải có các công cụ (thuế) nhằm phân phối lại thu nhập.
25

2. Các chính sách kinh tế vĩ mô chủ yếu
Muốn thực hiện các mục tiêu đề ra Chính phủ cần có những công cụ nhất định để
thay đổi tình trạng của một nền kinh tế bao gồm các chính sách:
a. Chính sách tài khóa
Chính sách tài khoá là chính sách Chính phủ sử dụng thuế khoá và chi tiêu của Chính
phủ tác động vào nền kinh tế để hướng nền kinh tế đạt được những mục tiêu đã định.
Công cụ: chi tiêu của chính phủ và thuế
Trong đó:
Chi tiêu Chinh phủ là nhân tố then chốt quyết định tổng chi tiêu.
Do đó nó quyết định những thay đổi ngắn hạn của tổng sản phẩm quốc dân thực tế.
Thuế làm giảm thu nhập của nhân dân, làm giảm mức chi tiêu cho
tiêu dùng, làm giảm tổng cầu và làm giảm tổng sản phẩm quốc dân thực tế.
Trong dài hạn, chính sách tài khoá có tác dụng điều chỉnh cơ cấu kinh tế, giúp
cho sự tăng trưởng và phát triển lâu dài.
b. Chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ là chính sách Chính phủ sử dụng các công cụ về mức cung tiền
và lãi suất tác động vào nền kinh tế để hướng nền kinh tế đạt được những mục tiêu đã
định bằng cách tăng hoặc giảm tốc độ cung ứng tiền làm cho lãi suất giảm hoặc tăng; từ
đó khuyến khích hay hạn chế đầu tư. Do đó ảnh hưởng đến tổng cầu và sản lượng.
c. Chính sách thu nhập
Chính sách thu nhập bao gồm hàng loạt các biện pháp mà chính phủ sử dụng nhằm
tác động trực tiếp đến tiền công, giá cả để kiềm chế lạm phát.Chính sách này sử dụng
nhiều công cụ như: giá, lương, những chỉ dẫn chung để ấn định tiền công và giá cả, những
pháp lý ràng buộc sự thay đổi giá cả và tiền lương, . . . Ngoài ra chính phủ còn sử dụng
những công cụ mềm dẻo như việc hướng dẫn, khuyến khích bằng thuế thu nhập.
d. Chính sách kinh tế đối ngoại
Đây là chính sách nhằm ổn định tỷ giá hối đoái và giữ cho thâm hụt cán cân
thanh toán ở mức có thể chấp nhận được.
Chính sách này gồm nhiều công cụ như quản lý tỷ giá hối đoái, áp đặt chính
sách kiểm soát ngoại thương, thuế quan, . . .
Mục đích của chính sách này là duy trì sự cân bằng trên các thị trường ngoại hối
và giữ cho xuất khẩu và nhập khẩu không đi chệch hướng.

26

CHƯƠNG 6. ĐO LƯỜNG CÁC BIẾN SỐ KINH TẾ VĨ MÔ
I. Tổng sản phẩm quốc nội GDP và tổng sản phẩm quốc dân GNP
1. Khái niệm
Tổng sản phẩm quốc dân (GNP = Gross National Product) là chỉ tiêu phản ánh
giá trị bằng tiền của toàn bộ hàng hóa và dịch vụ cuối cùng mà một quốc gia sản xuất
ra trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm) bằng các yếu tố sản xuất của mình.
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP = Gross Domestic Product) là chỉ tiêu phản ánh
giá trị bằng tiền của toàn bộ hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trên phạm
vi lãnh thổ quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm).
* Phân biệt hàng hóa và dịch vụ trung gian và hàng hóa và dịch vụ cuối cùng:
• Hàng hóa và dịch vụ trung gian bao gồm nguyên, nhiên, vật liệu; năng
lượng; bán thành phẩm và các dịch vụ mua ngoài như vận tải, bưu điện,
ngân hàng, . . . được dùng làm đầu vào cho việc sản xuất ra hàng hóa và
được sử dụng hết trong quá trình sản xuất đó. Do đó giá trị của hàng hóa
trung gian được chuyển hết vào giá trị của thành phẩm.
• Hàng hóa và dịch vụ cuối cùng là những hàng hóa và dịch vụ bán cho
người sử dụng cuối cùng như hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu; hoặc dùng
làm đầu vào cho sản xuất nhưng được sử dụng nhiều lần như máy móc
thiết bị và các tài sản cố định khác.
GDP đánh giá kết quả của hàng triệu giao dịch và hoạt động kinh tế xảy ra bên trong
lãnh thổ của đất nước. Không chú ý đến ai là người sở hữu các nhân tố sản xuất.
Ví dụ: Sản phẩm của Công ty nước ngoài nếu được sản xuất tại Việt Nam thì được
tính vào GDP của Việt Nam.
GNP đánh giá kết quả của hàng triệu giao dịch và hoạt động kinh tế do công dân của
một nước tiến hành trong một thời kỳ nhất định. Đó chính là con số đạt được khi dùng
thước đo tiền tệ để tính toán giá trị của các hàng hóa khác nhau mà các hộ gia đình, các
hãng kinh doanh, Chính phủ mua sắm và tiêu dùng trong một thời kỳ đã cho.
Dùng thước đo tiền tệ để đo lường giá trị sản phẩm là một thuận lợi vì thông qua
giá cả thị trường có thể cộng giá trị các loại hàng hoá có hình thức và nội dung vật chất
khác nhau. Tuy nhiên giá cả lại là một thước đo co giãn làm cho giá trị của các chỉ tiêu
này tăng nhanh chóng trong khi giá trị thực của chúng tăng rất ít hoặc không tăng.
Để khắc phục nhược điểm này người ta thường dùng cặp khái niệm: Tổng sản
phẩm quốc dân danh nghĩa (GNPn) và tổng sản phẩm quốc dân thực tế (GNPr)
Chỉ số lạm phát D (Deflation) còn gọi là chỉ số giá cả D =

GNPn
GNPr

27

2. Mối liên hệ giữa GDP và GNP
Sự khác nhau giữa GNP và GDP là: GNP được tính theo giá trị sản xuất của công
dân một nước dù công dân nước đó định cư ở bất kỳ nước nào, còn GDP được tính trên
phạm vi lãnh thổ một nước bất kể công dân đó là của nước nào.
GDP gồm 2 phần thu nhập:
• Phần do công dân trong nước sản xuất ra tại trong nước (G).
• Phần do công dân nước ngoài sản xuất ra tại trong nước (thu nhập từ các
yếu tố nơi khác) (G1).
GNP gồm 2 phần thu nhập:
• Phần do công dân trong nước sản xuất ra tại trong nước (G).
• Phần do công dân trong nước sản xuất ra tại nước ngoài (thu nhập từ các
yếu tố sản xuất) (G2).
 GNP = G + G2
 GDP = G + G1
 Thu nhập ròng từ nước ngoài (ký hiệu là NIA - Net Income
Abroad)
NIA = G2 – G1
Ta có thể biểu diễn hai chỉ tiêu GNP và GDP qua công thức
GNP = GDP + NIA
Có 3 trường hợp xảy ra:
NIA = 0: G2 = G1 = 0
 Nền kinh tế đóng
NIA < 0 (GNP < GDP)
Thường là các quốc gia đang phát triển
NIA > 0 (GNP > GDP)
 Thường là các quốc gia phát triển
NIA thường chiếm tỷ lệ nhỏ so với GDP nên GNP phụ thuộc chủ yếu vào GDP
chứ không phải là NIA.. Mặt khác, trong thực tế GDP thông dụng hơn nên khi xem xét các
biến số khác trong nền kinh tế người ta thường sử dụng GDP chứ không phải GNP.
3. Phương pháp tính GDP
3.1. Một số khái niệm cơ bản
- Khấu hao (De - Decreciation) là khoản tiền dùng để bù đắp giá trị hao mòn của tài
sản cố định (TSCĐ).
- TSCĐ có những loại tài sản có giá trị lớn và được sử dụng trong thời gian dài.
- Đầu tư (I - Investment) là khoản tiền dùng để mua sắm các loại tài khoản tư bản
như: máy móc thiết bị, nhà xưởng, kho bãi … cộng với chênh lệch hàng tồn kho.
- Tiêu dùng (C - Consumption) là lượng tiền mà hộ gia đình dùng để mua hàng hóa
và dịch vụ phục vụ tiêu dùng.
28

- Thu nhập khả dụng (DI - Disposible Income) là lượng thu nhập cuối cùng mà hộ
gia đình có toàn quyền sử dụng theo ý thích cá nhân.
- Tiết kiệm (S - Savings) là phần còn lại của thu nhập khả dụng sau khi tiêu dùng.
- Thuế trực thu (Td - direct taxes) là loại thuế trực tiếp đánh vào thu nhập.
- Thuế gián thu (Ti - indirect taxes) là những loại thuế gián tiếp đánh vào thu nhập.
- Chi mua hàng hóa và dịch vụ của Chính phủ (G – Government Spending on goods
and survices) là những khoản chi tiêu của Chính phủ đáp ứng lại bằng một lượng
hàng hóa hay dịch vụ nào đó.
- Chi chuyển nhượng (Tr – Transfer payments) là những khoản chi tiêu của Chính
phủ không đòi hỏi bất cứ lượng hàng hóa hay dịch vụ nào đối lưu trở lại.
- Xuất khẩu (X - export) là lượng tiền thu được do bán hàng hóa và dịch vụ ra nước
ngoài.
- Nhập khẩu (M - import) là lượng tiền dùng để mua hàng hóa và dịch vụ từ nước
ngoài.
- Tiền lương (w - wages) là lượng thu nhập nhận được do cung cấp sức lao động.
- Tiền thuê (r - rent) là khoản thu nhập có được do cho thuê nhà cửa đất đai và các
loại tài sản khác.
- Tiền lãi (i - interest) là thu nhập nhận được do cho vay tính theo mức lãi suất nhất
định.
- Lợi nhuận (Pr - profit) là khoản thu nhập còn lại của xuất lượng sau khi trừ đi các
chi phí sản xuất.
3.2. Sơ đồ chu chuyển kinh tế
• Sơ đồ chu chuyển kinh tế là sơ đồ mô tả lượng hàng hóa dịch vụ và lượng
tiền tệ luận chuyển giữa các chủ thể kinh tế với nhau.
• Để phục vụ cho việc nghiên cứu phương pháp tính GDP ta chỉ cần sử
dụng lượng tiền tệ tham gia vào sơ đồ chu chuyển kinh tế có 4 thành phần
kinh tế là:
a. Hộ gia đình
Cung cấp các yếu tố sản xuất cho các doanh nghiệp như sức lao động, tài sản
cho thuê, vốn, những sáng kiến kinh doanh, kinh nghiệm quản lý.
Nhận thu nhập do các doanh nghiệp trả dưới dạng tiền lương, tiền lãi, lợi nhuận …

29

Sử dụng một phần thu nhập của mình để chi tiêu cho hàng hóa và dịch vụ do
các doanh nghiệp cung cấp. Lượng chi tiêu trở về tay chủ doanh nghiệp cung ứng
hàng tiêu dùng.
Tiết kiệm là phần thu nhập còn lại của họ sau khi chi tiêu. Lượng tiết kiệm
sẽ tạm thời rò rĩ ra khỏi vòng chu chuyển. Nó sẽ tái nhập thông qua hoạt động đầu
tư của các doanh nghiệp.
b. Doanh nghiệp
Sử dụng các yếu tố sản xuất do các hộ gia đình cung cấp để tạo ra hàng hóa
và dịch vụ, bán chúng đi để tạo ra thu nhập gồm tiền lương, tiền lãi, tiền thuê tài sản
và lợi nhuận trong đó lợi nhuận là phần thu nhập được phân phối cho người tổ chức
và quản lý quy trình sản xuất kinh doanh cụ thể là chủ doanh nghiệp và các cổ đông
(thành viên hộ gia đình).
Bán sản phẩm và tiêu dùng đầu tư cho hộ gia đình và các doanh nghiệp khác.
Vay vốn trả nợ cho việc đầu tư.
Các doanh nghiệp sử dụng các yếu tố sản xuất do hộ gia đình cung cấp nên phải
phân phối lượng thu nhập tương ứng gồm tiền lương, tiền thuê, tiền lãi, lợi nhuận.
c. Chính phủ
- Thu thuế từ các hộ gia đình và doanh nghiệp:
• Thuế gián thu (Ti – indirect Taxes): gián tiếp đánh vào thu nhập xã hội thông
qua giá cả hàng hóa, người nộp thuế là chủ doanh nghiệp, người chịu thuế là
người tiêu dùng (VAT, thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế môn
bài, ...)
• Thuế trực thu (Td - direct Taxes): trực tiếp đánh vào thu nhập xã hội, không
phản ánh trong giá cả hàng hóa, người nộp thuế cũng là người chịu thuế
(thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế thừa kế , ...).
- Chính phủ chi cho các nguồn:
• Chi tiêu trực tiếp vào hàng hóa và dịch vụ (G - Government on spending
goods and services): bao gồm chi thường xuyên (Mua sản phẩm là dịch vụ
do các doanh nghiệp sản xuất ra, lương, văn phòng phẩm,...) và chi đầu tư
vào cơ sở hạ tầng và hàng công cộng (đường giao thông, công viên, bệnh
viện, trường, văn phòng trung ương, địa phương) khoản chi tiêu này đòi hỏi
phải có lượng hàng hóa và dịch vụ đáp lại.
• Chi trợ cấp (Tr- Transfer payment): tăng thu nhập cho đối tượng hưởng trợ
cấp dưới dạng chi chuyển nhượng (thất nghiệp, hưu trí, gia đình thương binh
liệt sĩ,....) chính phủ không đòi hỏi lượng hàng hóa dịch vụ đáp lại.
30

- Vay vốn để tài trợ thâm hụt Ngân sách, tài trợ hoặc dự trữ khi thặng dư ngân sách.
d. Khu vực nước ngoài
- Mua bán sản phẩm và dịch vụ do các doanh nghiệp trong nước hoặc nước ngoài
sản xuất và bán các sản phẩm dịch vụ đó cho các hộ gia đình, doanh nghiệp và
Chính phủ trong nước và ngoài nước.
+ Giá trị hàng xuất khẩu: là lượng chi tiêu nước ngoài mua hàng sản xuất trong
nước nên sẽ thành thu nhập doanh nghiệp cung ứng hàng xuất khẩu .
+ Giá trị hàng nhập khẩu: là lượng chi tiêu trong nước biến thành thu nhập nước
ngoài.
- Thông qua thị trường tài chính có thể đi vay hoặc cho vay tiền.
I = De + S
C

M

C+G+I

Nước ngoài
X

S
Hộ gia đình

Tr
Td

G
Chính phủ

Ti Td

I

Doanh nghiệp
X
De

w + r + i + Pr

3.3.Các phương pháp xác định GDP
a. Tính GDP theo phương pháp sản xuất (Phương pháp giá trị gia tăng VA - Value Added)
Theo phương pháp này GDP được tính bằng cách tổng hợp giá trị gia tăng tạo ra
trên lãnh thổ quốc gia trong một thời kỳ.
Nếu gọi VAi là giá trị gia tăng của doanh nghiệp thì:
GDP =

∑VA

i

=

∑ GO - ∑ IC

Trong đó: VAi = Giá trị xuất lượng của doanh nghiệp i - Chi phí trung gian của
doanh nghiệp i.
GO : Là giá trị xuất lượng - giá trị của toàn bộ lượng hàng hóa và
dịch vụ mà doanh nghiệp sản xuất ra trong năm.
IC : Là chi phí trung gian bao gồm những chi phí vật chất và dịch
vụ mua ngoài được sử dụng hết một lần trong quá trình sản xuất.

31

b. Tính GDP theo phương pháp phân phối (thu nhập của các yếu tố sản xuất)
Đây là cách tính GDP theo luồng thu nhập, GDP tạo ra được phân chia cho các
thành phần tham gia vào quá trình sản xuất.
Tính GDP theo phương pháp thu nhập bằng cách tổng hợp tổng thu nhập phát
sinh trên lãnh thổ gồm tiền lãi, tiền thuê và lợi nhuận.
Vì đây là phương pháp tính GDP theo chi phí cho yếu tố sản xuất, nó không
đồng nhất với phương pháp sản xuất và phương pháp chi tiêu nên phải điều chỉnh
bằng cách cộng thêm vào GDP 2 khoản sau:
• Thuế gián thu (Ti) vì GDP được tính theo giá thị trường.
• Khấu hao (De) vì trong GDP vẫn còn chứa khấu hao.
GDP = De + w + r + i + Pr + Ti
c. Tính GDP theo phương pháp chi tiêu
Đây là phương pháp tính theo các luồng tiền dùng để mua hàng hóa và dịch vụ
được các doanh nghiệp trên lãnh thổ một nước sản xuất ra, trong đó không kể đến
phần tiền dùng để mua sản phẩm trung gian.
Tính GDP theo phương pháp chi tiêu bằng cách tổng hợp chi tiêu thực của xã
hội để mua hàng hóa và dịch vụ tạo ra trên lãnh thổ bao gồm:
• Chi tiêu trong nước để mua hàng nội địa: C + I + G - M
• Chi tiêu nước ngoài để mua hàng nội địa: X
Như vậy, công thức tính GDP theo phương pháp chi tiêu có dạng:
GDP = C + I + G + X – M = C + I + G + NX
Trong đó:
NX = X – M gọi là xuất khẩu ròng.
C
: Chi tiêu tiêu dùng cá nhân.
I
: Tổng đầu tư.
G
: Chi tiêu tiêu dùng của Chính phủ.
Hạn chế của việc tính toán GDP
- Tính GDP theo ba phương pháp trên thường không cho ra một đáp số vì số
liệu thu được không chính xác. Vì vậy các nhà thống kê sau khi tính sẽ tiến hành điều
chỉnh, lựa chọn con số hợp lí duy nhất.
- GDP không phản ánh hết giá trị của các hoạt động kinh tế
* Hoạt động kinh tế ngầm
• Hoạt động phi pháp (sản xuất kinh doanh mặt hàng kinh doanh quốc cấm
như buôn lậu, ma túy,...) mang lại giá trị lớn cho tổ chức và quốc gia có liên
quan nhưng không được tính vào GDP vì nó nguy hiểm cho cộng đồng.
• Hoạt động hợp pháp không khai báo nhằm mục đích trốn thuế.
32

* Hoạt động phi thương mại: là những hoạt động cần thiết cho xã hội nhưng
không phải vì lí do thương mại nên không có giá cả, không được khai báo hay hoạch
toán vào GDP (nhân đạo, bảo vệ môi trường) tạo ra hàng hóa và dịch vụ tự cung tự cấp
(nội trợ, thực phẩm nông dân để lại chi tiêu trong gia đình).

II. Các chỉ tiêu đo lường thành tựu kinh tế quốc dân
a. Tổng sản phẩm quốc dân (GNP)
GNP = GDP + NIA
b. Sản phẩm quốc dân ròng (NNP - Net National Product)
Phản ánh phần giá trị mới sáng tạo do công dân một nước sản xuất ra
NNP = GNP - De
c. Thu nhập quốc dân (NI - Natinal Income)
Chỉ tiêu này phản ánh thu nhập mà công dân một nước tạo ra không kể phần tham
gia của Chính phủ dưới dạng thuế gián thu.
NI = NNP - Ti
d. Thu nhập cá nhân (PI -Personal Income)
Phản ánh phần thu nhập cá nhân sau khi đã trừ đi các khoản lợi nhuận không chia
và nộp Chính phủ. Đây là phần thu nhập thực sự được phân chia cho các cá nhân
trong xã hội.
PI = NI – (Pr* + ASXH) + Tr
Trong đó:

Pr* là phần lợi nhuận chia không chia và nộp cho Chính phủ.

ASXH là quỹ an sinh xã hội được trích ra từ lương để nộp bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm y tế.
e. Thu nhập khả dụng (DI - Disposable Income)
Đây là lượng thu nhập sau khi đã làm nghĩa vụ Nhà nước phản ảnh phần thu nhập
mà cá nhân có toàn quyền sử dụng.
DI = PI - Td = C + S

33