Tải bản đầy đủ
III. Mục tiêu và công cụ trong kinh tế vĩ mô:

III. Mục tiêu và công cụ trong kinh tế vĩ mô:

Tải bản đầy đủ

Tiểu luận Kinh tế Vĩ mô


Công cụ:

Để đạt được những mục tiêu trên kinh tế vĩ mô trên, Nhà nước có thể sử dụng nhiều
công cụ chính sách khác nhau. Mỗi chính sách lại có công cụ riêng biệt. Dưới đây là
một số chính sách kinh tế vĩ mô chủ yếu mà chính phủ ở các nước có nền kinh tế thị
trường phát triển thường sử dụng trong lịch sử lâu dài và đa dạng của họ.
* Chính sách tài khoá: Là việc chính phủ sử dụng thuế khoá và chi tiêu công cộng
để tác động đến nền kinh tế hướng nền kinh tế tới mức sản lượng và việc làm mong
muốn.
-

Công cụ:

Chi tiêu của chính phủ (G)
Thuế (T)

-

Đối tượng:

Quy mô của chi tiêu công cộng
Chi tiêu của khu vực tư nhân
Sản lượng

-

Mục tiêu:
Ngắn hạn: ổn định nền kinh tế
Dài hạn : hướng nền kinh tế đến sự phát triển lâu dài
* Chính sách tiền tệ: tác động đến đầu tư tư nhân, hướng nền kinh tế tới mức sản

lượng và việc làm mong muốn.
-

Công cụ:

Mức cung tiền (MS)
Lãi suất (i)

-

Đối tượng:

Tác động đến đầu tư (I)

Chi tiêu của hộ gia đình (C)
Tiết kiệm (S)
Tỷ giá hối đoái (e)
-

Mục tiêu: (giống chính sách tài khoá)

* Chính sách thu nhập: bao lạm phát gồm các biện pháp mà chính phủ sử dụng nhằm
tác động trực tiếp đến tiền công, giá cả và để kiềm chế.
-

Tiền lương danh nghĩa (Wn)

-

Đối tượng: Chi tiêu của các hộ gia đình (C)
Tổng cung ngắn hạn (SAS)

Sinh Viên : Nguyễn Thu Thủy

Page 4

Tiểu luận Kinh tế Vĩ mô
-

Mục tiêu:

Kiềm chế lạm phát

* Chính sách kinh tế đối ngoại: Nhằm ổn định tỷ giá hối đoái, giữ cho thâm hụt cán
cân thanh toán quốc tế ở mức có thể chấp nhận được.
-

Công cụ:

Thuế quan

Hạn ngạch
Tỷ giá hối đoái
-

Đối tượng:

-

Mục tiêu:

Hoạt động xuất-nhập khẩu và đầu tư nước ngoài

Chống suy thoái, lạm phát
Ổn định tỷ giá và cán cân thanh toán quốc tế.
Một số khái niệm và mối quan hệ giữa các biến số kinh tế vĩ mô cơ bản
- Tổng sản phẩm quốc dân và sự tăng trưởng kinh tế:


Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là giá trị của toàn bộ hàng hoá và dịch vụ mà

một quốc gia sản xuất ra trong một thời kỳ nhất định.


Tổng sản phẩm quốc dân là thước đo cơ bản hoạt động của nền kinh tế.



Tổng sản phẩm tính theo giá hiện hành gọi là tổng sản phẩm danh nghĩa.



Tổng sản phẩm tính theo giá cố định gọi là tổng sản phẩm thực tế.

- Chu kỳ kinh doanh và sự thiếu hụt sản lượng:
+ Nền kinh tế thị trường của các nước công nghiệp phát triển tiêu biểu thường phải
chống đối với vấn đề chu kỳ kinh tế. Liên quan đến chu kỳ kinh tế là sự đình trệ sản
xuất, thất nghiệp và lạm phát.
+ Chu kỳ kinh tế là sự giao động của GNP thực tế xung quanh xu hướng tăng lên của
sản lượng tiềm năng.
+ Độ lệch giữa sản lượng tiềm năng và sản lượng thực tế gọi là sự thiếu hụt sản lượng.
Thiếu hụt sản lượng = Sản lượng tiềm năng - Sản lượng thực tế
-Tăng trưởng và thất nghiệp:
Khi một nền kinh tế có tỷ lệ tăng trưởng cao thì một trong những nguyên nhân
quan trọng là đã sử dụng tốt hơn lực lượng lao động. Như vậy tăng trưởng nhanh thì
thất nghiệp có xu hướng giảm đi
Sinh Viên : Nguyễn Thu Thủy

Page 5

Tiểu luận Kinh tế Vĩ mô
- Tăng trưởng và lạm phát:
Sự kiện lịch sử của nhiều nước cho thấy những thời kỳ kinh tế phát đạt, tăng
trưởng cao thì lạm phát có xu hướng tăng lên và ngược lại. Song mối quan hệ giữa
tăng trưởng và lạm phát như thế nào, đâu là nguyên nhân, đâu là kết quả? Vấn đề này
kinh tế vĩ mô chưa có câu trả lời rõ ràng.
- Lạm phát và thất nghiệp:
Các nhà kinh tế cho rằng, trong thời kỳ ngắn thì lạm phát càng cao, thất nghiệp
càng giảm. Trong thời kỳ dài chưa có cơ sở nói rằng lạm phát và thất nghiệp có mối
quan hệ “ trao đổi”. Trong thời kỳ dài tỷ lệ thất nghiệp phụ thuộc một cách cơ bản vào
tỷ lẹ lạm phát trong suốt thời gian đó
Trong điều kiện nước ta, quá trình chuyển đổi kinh tế chưa hoàn tất, các yếu tố
thị trường còn non yếu và chưa phát triển đồng bộ, Nhà nước đóng vai trò quan trọng
trong việc quản lý và điều tiết nền kinh tế. Vì vậy khi nghiên cứu những mối quan hệ
này trong điều kiện nước ta cần chú ý những đặc điểm trong từng giai đoạn lịch sử cụ
thể, tránh rập khuôn máy móc
A2. Vị trí của môn học trong chương trình học đại học
Kinh tế học vĩ mô là một trong hai bộ phận hợp thành kinh tế học.
Trong chương trình học đại học kinh tế học vĩ mô có vai trò quan trọng trong
việc tiếp tục bổ sung cho kinh tế học vi mô, đồng thời trang bị cho sinh viên tầm nhìn
kinh tế sâu rộng hơn trên phạm vi kinh tế quốc gia với vai trò của một nhà hoạch định
kinh tế cho đất nước. Vì vậy, việc học tập và nghiên cứu kinh tế vĩ mô là cần thiết với
tất cả sinh viên nói chung, đặc biệt hơn là với sinh viên học kinh tế, để có một kiến
thức và tầm nhin tổng quát về kinh tế trong điều kiện kinh tế hội nhập hiện nay.
Kinh tế học vĩ mô là một trong những chủ đề quan trọng nhất đối với sinh viên
vì tình hình kinh tế có ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc sống của sinh viên. Mức việc làm
và mức thất nghiệp chung sẽ quyết định khả năng tìm kiếm việc làm sau của chúng ta
sau khi tốt nghiệp, khả năng thay đổi công việc và khả năng thăng tiến trong tương lai.
Mức lạm phát sẽ ảnh hưởng đến lãi suất mà chúng ta có thể nhận được từ khoản tiết
kiệm của chúng ta trong tương lai.
Kinh tế vĩ mô sẽ giúp cung cấp cho chúng ta những nguyên lý cần thiết để hiểu
rõ tình hình kinh tế của đất nước, đánh giá các chính sách kinh tế mà Chính phủ đang
Sinh Viên : Nguyễn Thu Thủy

Page 6

Tiểu luận Kinh tế Vĩ mô
thực hiện và dự đoán các tác động của những chính sách đó tới đời sống của chúng ta
như thế nào?
Trong bối cảnh nền kinh tế Viêt Nam đang hội nhập sâu vào nền kinh tế thế
giới, đã là thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới WTO, trong đó tất
cả hàng hóa và dịch vụ được lưu chuyển qua biên giới các quốc gia.Lần đàu tiên mọi
người đều chơi theo một luật chơi chung “ Luật chơi của kinh tế thị trường toàn cầu “
Đây là một thách thức rất lớn. Người thắng sẽ có lợi nhuận ,thu nhập cao, thành đạt
trong cuộc sống và kẻ thua cuộc sẽ tụt lại đằng sau nhiều khi còn dẫn đến phá sản. Vì
vậy , vị trí bộ môn kinh tế trong các trường đại học có một ý nghĩa vô cùng quan
trọng. Nó trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về kinh tế học. về kinh tế vi
mô hay kinh tế vĩ mô. Nó giúp cho sinh viên làm quen với các khái niệm kinh tế.
B. Kết cấu của cán cân thanh toán quốc tế và các nhân tố ảnh hưởng đến cán cân
thanh toán quốc tế
Cán cân thanh toán, hay cán cân thanh toán quốc tế, ghi chép những giao dịch
kinh tế của một quốc gia với phần còn lại của thế giới trong một thời kỳ nhất định.
Những giao dịch này có thể được tiến hành bởi các cá nhân, các doanh nghiệp cư trú
trong nước hay chính phủ của quốc gia đó. Đối tượng giao dịch bao gồm các loại hàng
hóa, dịch vụ, tài sản thực, tài sản tài chính, và một số chuyển khoản. Thời kỳ xem xét
có thể là một tháng, một quý, song thường là một năm. Những giao dịch đòi hỏi sự
thanh toán từ phía người cư trú trong nước tới người cư trú ngoài nước được ghi vào
bên tài sản nợ. Các giao dịch đòi hỏi sự thanh toán từ phía người cư trú ở ngoài nước
cho người cư trú ở trong nước được ghi vào bên tài sản có.
Các yếu tố ảnh hưởng đến CCTTQT đó là: cán cân thương mại, lạm phát, thu
nhập quốc dân, tỷ giá hối đoái, sự ổn định chính trị của đất nước, khả năng trình độ
quản lý kinh tế của chính phủ.
Theo quy tắc mới về biên soạn biểu cán cân thanh toán do IMF đề ra năm 1993,
cán cân thanh toán của một quốc gia bao gồm 4 thành phần sau:
* Tài khoản vãng lai:
Tài khoản vãng lai ghi lại các giao dịch về hàng hóa, dịch vụ và một số chuyển khoản.
Tài khoản vãng lai (còn gọi là cán cân vãng lai) trong cán cân thanh toán của
một quốc gia ghi chép những giao dịch về hàng hóa và dịch vụ giữa người cư trú trong
Sinh Viên : Nguyễn Thu Thủy

Page 7