Tải bản đầy đủ
Chương 2: Đánh giá cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam thời kì 2003 -2007

Chương 2: Đánh giá cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam thời kì 2003 -2007

Tải bản đầy đủ

Tiểu luận Kinh tế Vĩ mô
Mặc dù gặp những tác động bất lợi của kinh tế thế giới và thiên tai, dịch bệnh ở
trong nước, nhưng kinh tế-xã hội Việt Nam đã có nhiều thành tích đáng khích lệ về
tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu hút vốn đầu tư, tiêu thụ trong nước
và xuất khẩu, thị trường chứng khoán, vị thế quốc tế, giảm nghèo...; đồng thời cũng
còn một số hạn chế, bất cập.
Thành tích nổi bật là tăng trưởng kinh tế cao nhất so với tốc độ tăng của 12 năm
trước đó, đạt được mức cao của mục tiêu do Quốc hội đề ra, thuộc loại cao so với các
nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Tăng trưởng kinh tế cao đã góp phần làm cho quy
mô kinh tế lớn lên. GDP tính theo giá thực tế đạt khoảng 1.143 nghìn tỉ đồng, bình
quân đầu người đạt khoảng 13,42 triệu đồng, tương đương với 71,5 tỉ USD và 839
USD/người! Đây là tín hiệu khả quan để có thể sớm thực hiện được mục tiêu thoát
khỏi nước nghèo và kém phát triển có thu nhập thấp vào ngay năm tới.
Cùng với tăng trưởng kinh tế cao là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích
cực. Theo nhóm ngành kinh tế, nông, lâm nghiệp-thủy sản vốn tăng thấp, năm nay lại
gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh lớn nên tăng thấp và tỷ trọng trong GDP của
nhóm ngành này tiếp tục giảm (hiện chỉ còn dưới 20%). Công nghiệp-xây dựng tiếp
tục tăng hai chữ số, cao nhất trong ba nhóm ngành, nên tỷ trọng trong GDP tiếp tục
tăng (hiện đạt gần 42%), phù hợp với giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước. Dịch vụ được mở cửa rộng hơn sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO), nên đã tăng cao hơn tốc độ chung, nhờ đó đã chặn được
sự sút giảm trong tỷ trọng GDP của nhóm ngành này trong thời kỳ 1995 - 2004 và cao
hơn năm trước. Theo thành phần kinh tế, kinh tế ngoài nhà nước, đặc biệt là kinh tế tự
nhiên, tăng trưởng cao hơn tốc độ chung, nên tỷ trọng của khu vực này trong GDP đã
cao lên và hiện đã đạt cao hơn khu vực nhà nước (46% so với dưới 37%). Khu vực có
vốn đầu tư nước ngoài tăng trưởng cao hơn tốc độ chung, nên tỷ trọng trong GDP
cũng cao lên (hiện đạt trên 17%). Khu vực ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài có tổng tỷ trọng trong GDP cao hơn, lại có tốc độ tăng cao hơn khu vực
nhà nước, nên đã trở thành động lực của tăng trưởng kinh tế chung, phù hợp với đường
lối đổi mới, mở cửa, hội nhập.
Tăng trưởng kinh tế cao đạt được do sự tác động của cả hai yếu tố đầu vào và
đầu ra.Ở đầu vào, vốn đầu tư phát triển so với GDP đạt 40,6%, là tỷ lệ thuộc loại cao
Sinh Viên : Nguyễn Thu Thủy

Page 16

Tiểu luận Kinh tế Vĩ mô
nhất từ trước tới nay, cũng thuộc loại cao nhất so với các nước và vùng lãnh thổ trên
thế giới (có chăng chỉ thấp thua tỷ lệ trên 44% của nước Cộng hòa Nhân dân Trung
Hoa - tỷ lệ góp phần làm cho kinh tế nước này liên tục trong nhiều năm tăng trưởng
hai chữ số). Đáng lưu ý, trong khi tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước
trong tổng vốn đầu tư phát triển tiếp tục giảm xuống, thì tỷ trọng vốn đầu tư của khu
vực kinh tế ngoài nhà nước tăng lên (đạt 38%); hiệu quả đầu tư của khu vực này lại
cao gấp đôi khu vực kinh tế nhà nước. Vốn đầu tư nước ngoài đạt kỷ lục mới ở cả ba
nguồn. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp đạt được sự vượt trội cả về tổng số vốn đăng ký
mới và bổ sung (20,3 tỉ); cả về quy mô bình quân một dự án (trên 14 triệu USD/dự
án); cả về cơ cấu đầu tư vào nhóm ngành dịch vụ; cả về lượng vốn thực hiện (4,6 tỉ
USD). Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức cuối năm 2006 (cam kết cho năm 2007)
đạt mức kỷ lục (4,4 tỉ USD); cuối năm 2007 (cam kết cho năm 2008) còn đạt kỷ lục
cao hơn (trên 5,4 tỉ USD). Lượng vốn giải ngân năm nay đạt 2 tỉ USD, vừa vượt kế
hoạch, vừa đạt cao nhất từ trước tới nay. Nguồn vốn đầu tư gián tiếp năm nay ước đạt
5,6 tỉ USD, cao gấp 4,3 lần năm trước.
Chỉ số tăng trưởng GDP hiện nay giảm xuống rất thấp và lạm phát ở mức rất cao (trên
20%). Chỉ số tăng trưởng GDP hiện nay rất thấp, chỉ còn 6,7% mặc dù tốc độ tăng
trưởng của Việt Nam năm 2007 cao nhất trong 10 năm qua. Mục tiêu tăng trưởng GDP
năm 2008 do Quốc hội đề ra từ kỳ họp cuối năm trước là 8,5- 9%, Thủ tướng Chính
phủ chỉ đạo phấn đấu đạt trên 9%. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế quý 1/2008 đã chậm
lại so với tốc độ của quý 1/2007. Ở đầu ra, cả tiêu thụ trong nước và xuất khẩu tăng
cao. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và danh thu dịch vụ tiêu dùng tăng tới gần 23%; nếu
loại trừ yếu tố tăng giá bình quân năm nay so với năm trước (8,3%), thì vẫn còn cao
gấp 1,6 lần tốc độ tăng GDP (13,7% so với 8,48%). Dung lượng thị trường ước đạt gần
45 tỉ USD, với dân số đông mà hằng năm vẫn còn tănog cao, tiêu dùng của dân cư vừa
tăng về số lượng, vừa đa dạng về mẫu mã, chủng loại, vừa cao hơn về chất lượng và tỷ
lệ tiêu dùng thông qua việc mua và bán trên thị trường tăng nhanh, vừa là động lực của
tăng trưởng kinh tế trong nước, vừa có tác động "mời gọi" các nhà đầu tư nước ngoài.
Xuất khẩu đạt sự vượt trội cả về quy mô (48,4 tỉ USD, bằng trên 68% so với GDP), cả
về tốc độ tăng (21,5%, vượt kế hoạch, cao gấp 2,3 lần tốc độ tăng GDP).

Sinh Viên : Nguyễn Thu Thủy

Page 17

Tiểu luận Kinh tế Vĩ mô
Tăng trưởng kinh tế cao nên chỉ số phát triển con người (HDI) đạt được nhiều
sự vượt trội. HDI tăng lên qua các năm (1985 mới đạt 0,590, năm 1990 đạt 0,620, năm
1995 đạt 0,672, năm 2000 đạt 0,711, năm 2005 đạt 0,733, khả năng năm 2007 đạt trên
0,75%). Thứ bậc về HDI tăng lên trong khu vực Đông Nam Á, ở châu Á và trên thế
giới. Thứ bậc trên thế giới về HDI cao hơn thứ bậc về GDP bình quân đầu người tính
bằng USD theo tỷ giá sức mua tương đương (105 so với 123), cao hơn hàng chục nước
có GDP bình quân đầu người cao hơn Việt Nam, phù hợp với nền kinh tế thị trường
mà nước ta lựa chọn là nền kinh tế thị trường theo định hướng dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Tỷ lệ nghèo đã giảm (từ 17,8% xuống còn
14,8%).
Vị trí quốc tế của Việt Nam gia tăng với việc chính thức trở thành thành viên
WTO, được bầu làm Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp
Quốc,...Bên cạnh những thành tích trên, tình hình kinh tế - xã hội năm 2007 cũng bộc
lộ một số hạn chế, bất cập. Ngoài những hạn chế, bất cập tồn tại từ những năm trước,
Tóm lại: nền kinh tế việt nam trong giai đoạn này tuy có nhiều điều kiện thuận
lợi hơn các giai đoạn trước nhưng cũng có nhiều khó khăn cần khắc phục. Lạm phát
tuy đã giảm nhưng vẫn còn ảnh hưởng đén nền kinh tế, Hơn nữa đây là giai đoạn chịu
nhiều ảnh hưởng của tình hình thế giới, đặc biệt về lĩnh vực kinh tế ngoại thương thì
càng chịu nhiều ảnh hưởng do các đối tác nước ngoài của chúng ta rơi vào khó khăn.
Vì có những bất ổn về kinh tế như vậy, CP Việt Nam phải kịp thời đưa ra các chính
sách kinh tế vĩ mô đặc biệt chính sách kinh tế đối ngoại trong giai đoạn này là rất cần
thiết để vừa giữ gìn sự ổn định của nền kinh tế vừa thực hiện mục tiêu tăng trưởng,
vừa hội nhập, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế vừa bảo vệ nền kinh tế nước nhà trước
những cơn biến động của thế giới.
B.

Thu thập số liệu về các khoản mục trong cán cân thanh toán quốc tế thời kì

2000-2006.
Ngân hàng Nhà nước đã từng công bố cán cân thanh toán quốc tế của VN năm
2005 thặng dư khoảng 1,9 tỷ USD, gấp hơn hai lần so với mức 863 triệu USD năm
trước. Đóng góp một phần không nhỏ vào kết quả này là 750 triệu USD vốn nước
ngoài vay được sau đợt phát hành trái phiếu quốc tế hồi tháng 11.

Sinh Viên : Nguyễn Thu Thủy

Page 18

Tiểu luận Kinh tế Vĩ mô
Theo nhận định của Ngân hàng Nhà nước, diễn biến cán cân thanh toán quốc tế
của VN năm 2005 chịu nhiều tác động bởi việc giá cả hàng hoá tăng cao, thiên tai, bão
lụt liên tiếp xảy ra trên nhiều vùng trong cả nước.
Bên cạnh đó, tình hình kinh tế quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, giá dầu tăng
mạnh, giá vàng và lãi suất trên thị trường quốc tế có chiều hướng tăng, dịch cúm gia
cầm có nguy cơ lan rộng trên toàn thế giới. Tuy nhiên, thâm hụt cán cân vãng lai tiếp
tục được thu hẹp và cán cân vốn thặng dư ở mức cao, góp phần cải thiện tình hình cán
cân thanh toán nói chung.
Dự kiến, cán cân vãng lai cả năm thâm hụt khoảng 270 triệu USD (chiếm 0,5%
GDP) giảm mạnh so với mức thâm hụt 969 triệu USD (2,1% GDP) của năm 2004, chủ
yếu do cán cân thương mại và dịch vụ được thu hẹp.
Kim ngạch xuất khẩu năm nay ước đạt 31,8 tỷ USD, tăng 20% so với năm
2004, trong khi chỉ tiêu đề ra là 30,7 tỷ USD. Đồng thời, chuyển tiền tư nhân (chủ yếu
là chuyển tiền kiều hối), đạt 3 tỷ USD, tiếp tục duy trì thặng dư ở mức cao, tương
đương mức thặng dư của cán cân vốn.
Cán cân vốn dự kiến đạt thặng dư ở mức 3 tỷ USD, tăng mạnh so với năm 2004
do các luồng vốn nước ngoài vào Việt Nam (FDI, ODA, vay thương mại trung dài
hạn) tiếp tục tăng lên, việc phát hành 750 triệu USD
trái phiếu Chính phủ, qua đó đã góp phần tăng cung ngoại tệ.
Do môi trường đầu tư của VN tiếp tục được cải thiện, năm 2005 vốn đầu tư
trực tiếp của nước ngoài (vốn đăng ký mới) ước đạt 1,8 triệu USD, cao hơn so với mức
1,61 tỷ USD của năm 2004. Vay trả nợ nước ngoài trung và dài hạn thặng dư 850 triệu
USD, giảm so với mức 1,061 tỷ USD của năm 2004 do giải ngân vốn ODA và vay của
doanh nghiệp qua hệ thống ngân hàng giảm, trong khi trả nợ tăng so với năm 2004.
Đặc biệt, trong năm 2005 lần đầu tiên VN đã phát hành 750 triệu USD trái phiếu
Chính phủ ra thị trường quốc tế nên đầu tư vào giấy tờ có giá thặng dư ở mức 750 triệu
USD. Số tiền này được cho Vinashin vay lại qua tài khoản mở tại Ngân hàng Đầu tư &
phát triển VN, qua đó góp phần tăng huy động ngoại tệ của hệ thống ngân hàng
thương mại, đáp ứng nhu cầu ngoại tệ trong nước.
Theo ngân hàng Nhà nước, thặng dư cán cân thanh toán quốc tế tăng cao góp
phần làm giảm sức ép điều chỉnh tỷ giá ngoại tệ và kiềm chế lạm phát trong nước.
Sinh Viên : Nguyễn Thu Thủy

Page 19

Tiểu luận Kinh tế Vĩ mô
Trong năm qua, có những thời điểm nền kinh tế có hiện tượng cung ngoại tệ lớn hơn
cầu ngoại tệ. Vào những thời điểm đó, Ngân hàng Nhà nước đã can thiệp bằng cách
mua ngoại tệ nhằm tăng quỹ dự trữ ngoại hối Nhà nước. Đến nay, dự trữ ngoại hối
Nhà nước của VN đã đạt ở mức trên 10 tuần nhập khẩu hàng hoá, tăng so với mức 9
tuần vào cuối năm 2004.
Các cấu phần trong Cán cân vãng lai của Việt Nam giai đoạn
1997 -2008

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ CEIC Datab

Sinh Viên : Nguyễn Thu Thủy

Page 20

Tiểu luận Kinh tế Vĩ mô
Tình hình cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam thời kỳ 2003-2006
( Đơn vị: nghìn USD)
Năm

2003

2004

2005

2006

-2,581

-3,854

-2,453

-2,776

Cán cân dịch vụ

-778

61

-219

-8

Cán cân thu nhập

-811

-891

-1,219

-1,419

Chuyển nhượng ròng

2,239

3,093

3,380

4,049

Khu vực tư nhân

2,100

2,919

3,150

3,800

139

174

230

249

-1,931

-1.591

-479

-164

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

1,450

1,610

1,889

2,315

Khoản vay trung và dài hạn

457

1,162

921

1,025

Khoản vay ngắn hạn

26

-54

46

-30

Danh mục vốn đầu tư

__

__

865

1,313

Tài khoản tiền gửi

1,372

35

-634

-1,535

Tài khoản vốn

2,533

2,753

3,087

3,088

777

-279

-459

1,398

Cán cân tổng thể

2,151

883

2,131

4,322

% GDP

2003

2004

2005

2006

Cán cân thương mại

Khu vực Nhà nước
Cán cân vãng lai

Lỗi và sai sót

Sinh Viên : Nguyễn Thu Thủy

Page 21

Tiểu luận Kinh tế Vĩ mô
Bảng khả năng chịu đựng thâm hụt của tài khoản vãng lai 2003-2006
Năm

2003

2004

2005

2006

-4.9

-3.4

-0.9

-0.3

-10.5

-8.9

-7.3

-6.9

Cán cân thương mại (% GDP)

-6.5

-5

-4.6

-4.6

Xuất khẩu ( %GDP )

50.9

58.2

61.2

65.2

7.8

6.0

5.6

5.3

Nợ nước ngoài/GDP (%)

33.7

33.5

32.2

30.2

Nợ nước ngoài /xuất khẩu (%)

67.1

53

48.3

43

Dự trữ ngoại hối/nhập khẩu (%)

24.7

21.9

24.5

26.9

Dự trữ ngoại hối/nợ nước ngoài (%)

41.5

41.3

50.8

62.6

Cán cân tiết kiệm đầu tư (% GDP)

-4.9

-3.4

-0.9

-0.3

5691

6314

8557

11483

13535

15266

16833

18330

Cán cân vãng lai (% GDP)
Cán cân vãng lai ngoại trừ chuyển giao
dòng ( % GDP )

Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài/xuất khâu (%)

Dự trữ ngoại hối ( triệu USD)
Nợnước ngoài ( triệu USD)

“Khả năng chịu đựng được của cán cân vãng lai” được định nghĩa nhằm hàm ý thể
hiện tính bền vững của các nguồn tài trợ thâm hụt cán cân vãng lai trong điều kiện:



-

Nhập khẩu tăng cùng với mức tăng của GDP thực
Không có sự sụt giảm các dòng thanh toán quốc tế bình thường
Không có sự sụt giảm dự trữ ngoại hối
Thâm hụt cán cân vãng lai được coi là có khả năng chịu đựng được do được

đánh giá trên những tiêu chí sau:

Mức thâm hụt cán cân vãng lai/GDP giai doaạn 2003-2007 luôn ở mức thấp và
giảm dần

Tỉ lệ nợ nước ngoài so với GDP của Việt Nam trong duy trì ở nức dưới 40% so
với ngưỡng an toàn là 50%

Bên cạnh đó những chỉ tiêu như nợ nước ngoài so với xuất khẩu, nghĩa vụ trả nợ
nước ngoài trên xuất khẩu luôn nằm ở mức an toàn ( ngưỡng an toàn cho phép lần lượt
là 150 và 25%)

Tình trạng nhập siêu đã dần được cải thiện khong đáng lo ngại.
Việt Nam : Suy giảm cán cân thanh toán quốc tế (Đơn vị : triệu USD)
Năm
Sinh Viên : Nguyễn Thu Thủy

2003

2004

2005

2006
Page 22

Tiểu luận Kinh tế Vĩ mô
Cán cân mậu dịch(1)

-2,581

-3,854

-2,439

-2,776

-Xuất khẩu (FOB)

20,149

26,485

32,447

39,826

-Nhập khẩu (FOB)

22,730

30,339

34,886

42,602

Dịch vụ (2)

-778

61

-219

-8

- Xuất khẩu

3,272

3,867

4,176

5,100

- Nhập khẩu

4,050

3,806

4,395

5,108

-811

-891

-1,219

-1,429

-Số thu

125

188

364

668

Số tiền trả

936

1,079

1,583

2,097

Chuyển khoản ròng(4)

2,239

3,093

3,380

4,049

Khu vực kinh tế tư nhân

2,100

2,919

3,150

3,800

Khu vực kinh tế chính phủ

139

174

230

249

Tổng cộng (1+2+3+4)=(5)

-1,931

-1,591

-497

-164

1,450

1,610

1,889

2,315

457

1,162

921

1,025

26

-54

46

-30





865

1,313

(10)

1,372

35

-634

-1,535

Tổng cộng (6+7+8+9+10)=(11)

2,533

2,753

3,087

3,088

777

-279

-459

1,398

2,151

883

2,131

4,322

Thu nhập từ đầu tư (3)

Đầu tư nước ngoài(6)
Vay trung hạn và dài hạn(7)
Vay ngắn hạn(8)
Vốn đầu tư tư nhân(9)

Sai số (12)
Cán cân toàn diện (5+11+12)

Kim ngạch xuất khẩu tháng 01 năm 2005 ước tính đạt 2 tỷ USD, tăng
19,6% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch xuất khẩu không kể dầu thô đạt 1,55 tỷ
USD, tăng 23% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt
gần 0,84 tỷ USD, tăng 18,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 0,71 tỷ USD,
tăng 29,1%.
Trị giá xuất khẩu của hầu hết mặt hàng chủ yếu đều tăng (trừ lạc, sữa và dầu
thực vật). Các mặt hàng đóng góp nhiều cho tăng kim ngạch xuất khẩu tháng 01/2005
là dầu thô, hàng dệt may, giày dép, điện tử, máy tính, gạo và sản phẩm gỗ...
Sinh Viên : Nguyễn Thu Thủy

Page 23

Tiểu luận Kinh tế Vĩ mô
Kim ngạch nhập khẩu ước tính đạt 2,2 tỷ USD, tăng 18,3% so với cùng kỳ năm
trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 1,42 tỷ USD, tăng 17,4%; khu
vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 0,78 tỷ USD, tăng 20%. Kim ngạch nhập khẩu
một số mặt hàng phục vụ sản xuất trong nước tiếp tục tăng, nhưng do giá một số mặt
hàng nhập khẩu vẫn tăng cao nên lượng nhập khẩu không tăng tương xứng hoặc giảm.
Nhập siêu tháng 01/2005 đạt 200 triệu USD, bằng 10% kim ngạch xuất khẩu.
Kim ngạch xuất khẩu tháng 1/2004 ước tính đạt 1,65 tỷ USD, tăng 2,2% so với tháng
1 năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 768 triệu USD và giảm 5,6%
trong khi khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 10% (dầu thô tăng 6,2% và các mặt
hàng khác tăng 13,1%). Kim ngạch xuất khẩu tháng 1 năm nay tăng thấp do những
mặt hàng chủ lực như thuỷ sản, giày dép đều chỉ tăng nhẹ so với cùng kỳ và hàng dệt
may giảm tới 14,8%.
Các mặt hàng điện tử, máy tính; cà phê; thủ công, mỹ nghệ; cao su và sản phẩm gỗ
đều có kim ngạch xuất khẩu tăng nhưng mỗi mặt hàng mới chỉ xuất khẩu được khoảng
35-55 triệu USD.
Kim ngạch nhập khẩu tháng 1 ước đạt 1,82 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ, trong
đó khu vực trong nước tăng 7,9% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 21,4%.
Nhập khẩu các nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu phục vụ sản xuất trong nước đều
tăng cao so với tháng 1 năm trước. Nhập khẩu máy móc thiết bị trong tháng đầu năm
ước tính mới đạt 350 triệu USD và tăng 7,7%. Nhập khẩu ô tô và xe máy đều giảm so
với tháng 1 năm trước. Nhập siêu tháng 1 khoảng 170 triệu USD
Một số chỉ số quan trọng về nền kinh tế Việt Nam 2003-2006
Các chỉ tiêu
*GDP (tốc độ tăng, % )
*Tích lũy tài sản
GDP (%)
Đầu tư trực tiếp nước ngoài - tỉ USD
Đầu tư gián tiếp
(cổ phiếu) - tỉ USD
Kiều hối - tỉ USD
*Số dư ngân sách/GDP (%)
*Cán cân xuất nhập khẩu/GDP (%)
Cán cân thanh toán/GDP (%)
Sinh Viên : Nguyễn Thu Thủy

2003
7,3

2004
7,8

2005
8,4

2006
8,2

35,4
1,4

35,5
1,6

35,6
1,9

35,7
2,3

0
2,2
-4,7
-8,4
-4,9

0
3,1
-3,3
-7,6
-2,1

0.9
3,4
-4,6
-4,2
-1,0

1,3
4,0
-4,1
-3,3
-0,5
Page 24

Tiểu luận Kinh tế Vĩ mô
*Giá (tỷ lệ tăng, %)
Tiền tệ (tỷ lệ tăng, %)
Tín dụng (tỷ lệ tăng, %)
Nợ nước ngoài
Tỉ USD
Nợ nước ngoài/
GDP (%)
Nợ phải trả/
xuất khẩu (%)
Dự trữ ngoại tệ (tỉ USD)

3,1
24,9
28,4

7,8
29,5
35,7

8,3
29,7

16,0

18,0

19,3

41,0

40,5

37,7

3,4
6,2

26
9,0

Tỷ lệ dân nghèo đói (%)



2,6
7,0
29 ***

7,5
33,6

13,3

(19,5**)

Hệ số bất bình đẳng (thu nhập của 20%
giàu nhất so với 20% nghèo nhất)
Nguồn: Tổng cục Thống Kê (*), Asian Development Bank, World Bank, IMF. Tỷ lệ tăng
tiền tệ năm 2000 IMF đưa ra là 39%, nhưng ADB là 50%. ** Theo Viện Khoa học Xã hội
Việt Nam (trên Website Worldbank) *** Theo Thống kê LHQ.
Cán cân thanh toán của Việt Nam: 2004-2007 (đơn vị: tỉ USD)

(Nguồn: Tổng hợp IMF, www.asset.vn (*) Tính toán % với GDP)
C. Trình bày quan điểm về thực trạng cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam
thời kì 2003-2007 và những năm tiếp theo.
Một trong những vấn đề được đặc biệt quan tâm trong quản lý kinh tế vĩ mô giai
đoạn hội nhập sâu rộng WTO chính là diễn biến thanh toán quốc tế. Nhận diện đầy đủ
những thuận lợi và khó khăn về thực trạng cán cân thanh toán quốc tế là điều hết sức
quan trọng và cần thiết, để từ đó có những giải pháp, chính sách đúng đắn nhằm khai
Sinh Viên : Nguyễn Thu Thủy

Page 25

Tiểu luận Kinh tế Vĩ mô
thác tối đa lợi ích của hội nhập mà vẫn ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển kinh tế bền
vững.
Vào thời điểm cuối năm 2006, khi Việt Nam được chấp thuận về mặt nguyên
tắc gia nhập WTO, Chính phủ Việt Nam đã có những dự báo về tác động của việc gia
nhập WTO tới tình hình kinh tế - xã hội. Trong đó có dự báo “Thị trường xuất khẩu”
được mở rộng, kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng nhưng dự kiến không có đột phá lớn trong
ngắn hạn”, “Kim ngạch nhập khẩu sẽ tăng do đầu tư nước ngoài tăng, chủ thể được
quyền kinh doanh nhập khẩu ngày càng trở nên đa dạng hơn. Tuy nhiên, sẽ không có
đột biến bởi sự giảm thuế của Việt Nam là theo lộ trình đã được cam kết”. Tóm lại,
xuất nhập khẩu sẽ chịu tác động của việc thực hiện các cam kết theo lộ trình gia nhập
WTO.
Song, thực tế diễn ra khác so với những dự báo. Năm 2007, Việt Nam gia
nhập WTO cũng chính là năm kinh tế thế giới có nhiều biến động, tác động mạnh tới
hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế của Việt Nam. Không chỉ Việt Nam mà các
nền kinh tế trên thế giới cũng không thể dự báo được mức tăng đột biến của giá cả
hàng hoá trên thế giới, đặc biệt, giá dầu, giá vàng liên tiếp biến động với những biên
độ cao.
Trước những diễn biến khó lường của kinh tế thế giới, việc hoạt động thương
mại và đầu tư quốc tế mở rộng đã tác động tới cán cân thanh toán quốc tế của Việt
Nam. Thâm hụt cán cân vãng lai tăng mạnh, vượt xa mức cảnh báo với mức tăng từ
0,27% GDP năm 2006 lên mức 9,8% GDP năm 2007 và tiếp tục gia tăng tới trên 20%
GDP trong 6 tháng đầu năm 2008 do cán cân thương mại, dịch vụ, thu nhập đều thâm
hụt, đặc biệt là sự mở rộng về thâm hụt cán cân thương mại từ mức 4,6% GDP năm
2006 lên mức 15% GDP trong năm 2007 và khoảng 30% trong 6 tháng đầu năm 2008.
Thâm hụt cán cân vãng lai gia tăng bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân. Thứ nhất,
nhu cầu đầu tư và tiêu dùng gia tăng sau khi Việt Nam gia nhập WTO; Thứ hai, nhu
cầu nhập khẩu cao nhờ được tài trợ bởi luồng vốn nước ngoài như nguồn vốn đầu tư
trực tiếp, đầu tư gián tiếp và các khoản vay nước ngoài; Thứ ba, giá cả hàng hoá quốc
tế tăng cao, đặc biệt là giá các nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất đã khiến kim
ngạch nhập khẩu tăng mạnh; Thứ tư , nhập khẩu tăng mạnh và cao hơn nhiều so với
xuất khẩu chứng tỏ khi thực hiện các cam kết đa phương trong WTO, giảm nhiều dòng
Sinh Viên : Nguyễn Thu Thủy

Page 26