Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÍN ĐỤNG VÀ TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÍN ĐỤNG VÀ TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ

4
vay . Tuy nhiên nói đến tín dụng ngân hàng (hoặc các trung gian khác) thì chỉ
bao hàm ý nghĩa là ngân hàng cho vay (tức là không nghiên cứu tới phần huy
động vốn tại các ngân hàng thương mại). Và trong khuôn khổ có hạn của luận
văn này xin được phân tích tín dụng ngân hàng với ý nghĩa như vậy.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ
ngân hàng cho khách hàng là cá nhân, doanh nghiệp hay tổ chức kinh tế trong
một thời hạn nhất định với một khoản chỉ phí nhất định
Như vậy, quan hệ tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung:
- Có sự chuyển quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang người sử
dụng.
- Sự chuyển nhượng này mang tính tạm thời hay có thời hạn.
- Sự chuyển nhượng, này có kèm theo chi phí.

Theo Khoản 14 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số: 47/2010/QH12 ghi
"Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền
hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả
bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo
lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác". Như vậy có thể hiểu
rằng, tín dụng bao gồm 4 hình thưc chính là: cho vay, bảo lãnh, chiết khấu
giấy tờ có giá và cho thuê tài chính. Cụ thể từng hình thức tín dụng này sẽ
được nêu trong phần phân loại tín dụng ngân hàng.
1.1.1.2. Đặc trưng của tín dụng ngân hàng
Theo phân tích các khái niệm tín dụng và tín dụng ngân hàng ở trên có
thể thấy một số đặc trưng của tín dụng ngân hàng như sau:
- Sự chuyển nhượng vốn từ ngân hàng sang khách hàng dựa trên cơ sở
lòng tin.
- Thời gian chuyển nhượng vốn là có hạn và được xác định rõ khi chọ

5
vay. Ngân hàng xác định thời hạn cho vay chủ yếu dựa vào chu kỳ luân
chuyển vốn của khách hàng.
- Tín dụng nói chung và tín dụng ngân hàng nói riêng có một nguyên
tắc là hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn. Đây là thuộc tính riêng có của tín
dụng. Đối với các ngân hàng, nguyên tắc này càng quan trọng vì ngân hàng
về bản chất là một doanh nghiệp kinh doanh vốn.
1.1.2. Phân loại tín dụng ngân hàng
Có rất nhiều cách phân loại tín dụng ngân hàng dựa vào các căn cứ khác
nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu. Người ta thường phân loại theo một số
tiêu thức sau:
1.1.2.1. Phân loại theo thời hạn tín dụng
Theo tiêu thức này tín dụng được phân thành 3 loại sau:
- Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dưới 12 tháng và
được cấp cho các hoạt động bổ sung sự thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động
của doanh nghiệp và phục vụ nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng của các cá nhân.
- Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ 12 tháng đến 60
tháng và chủ yếu cấp cho các hoạt động mua sắm tài sản cố định, cải tiến và
đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, xây dựng các dự án
có quy mô nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh.
-Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 60 tháng, được cấp
cho xây dựng cơ bản, đâu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình
thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất với quy mô lớn.
Với hoạt động cho vay, thời hạn cho được quy định trong Quy chế cho
vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định
số 1627/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước là “khoảng thời gian được
tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc
và lãi vốn vay đã được thỏa thuận trong họp đồng tín dụng giữa tổ chức tín

6
dụng và khách hàng”.
1.1.2.2. Phân loại theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
Cách phân loại này còn được gọi là phân loại theo mức độ bảo đảm tiền
vay hay cụ thể hơn là phân loại theo tài sản bảo đảm.
Tài sản bảo đảm là tài sản thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ hoặc thuộc
sở hữu của người thứ ba mà người này cam kết dùng tài sản đó để bảo đảm có
thể là tài sản hiện có, tài sản hình thành trong tương lai và được phép giao
dịch. Tài sản đảm bảo các khoản tín dụng cho phép ngân hàng có được nguồn
thu nợ thứ hai bằng cách bán các tài sản đó khi nguồn nợ thứ nhất từ quá trình
hoạt động, sản xuất kinh doanh) không hoàn trả hay không hoàn trả.
Theo cách phân loại này tín dụng được chia thành 2 loại:
Tín dụng có tài sản bảo đảm: Là loại tín dụng dựa trên cơ sở thế chấp,
cầm cố các tài sản bảo đảm của chính khách hàng hoặc của người thứ ba sẵn
sàng dùng tài sản của mình cam kết bảo đảm cho khoản tín dụng của khách
hàng.
Tín dụng không có tài sản bảo đảm : Là loại tín dụng "không có tài sản
cầm cố, thế châp của người vay hoặc của người thứ ba. Việc cấp tín dụng chỉ
dựa vào uy tín của bản thân khách hàng.
1.1.2.3. Phân loại theo nghiêp vụ tín dụng (hình thức cấp tín dụng)
Theo cách phân loại này tín dụng bao gồm hình thức là: cho vay, chiết
khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ
cấp tín dụng khác. Cụ thể:
- Cho vay:

Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam
kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định
trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả

7
gốc và lãi.
Cho vay là nghiệp vụ cơ bản và truyền thống của tín dụng. Hoạt động
cho vay tại nhiều ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tín dụng và mang
lại lợi nhuận khá cao cho các NHTM.
- Chiết khấu

Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi
các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước
khi đến hạn thanh toán.
Theo quy định trong Thông tư số 04/2013/TT-NHNN ngày 01/03/2013,
các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá được chiết khấu bao gồm: Hối
phiếu đòi rợ, hối phiếu nhận nợ, séc và các loại công cụ chuyển nhượng khác
được chiết khấu theo quy định của pháp luật. Trên thực tế hiện nay các ngân
hàng thường nhận chiết khâu hai loại chứng từ cơ bản: thương phiếu và chứng
từ có giá khác như trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu Kho bạc Nhà nước, sổ tiết
kiệm...
- Cho thuê tài chính

Cho thuê tài chính của ngân hàng còn được goị là cho thuê tài sản là
hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị,
phương tiên vận chuyển và các động sản khác (gọi là tài sản cho thuê) trên cơ
sở hợp đồng cho thuê giữa Bên cho thuê là các ngân hàng và Bên thuê là
khách hàng của ngân hàng.
Bên cho thuê tức Ngân hàng cam kết các tài sản theo yêu cầu của khách
hàng và nắm quyền sở hữu đối với các tài sản thuê trong suốt quá trình thuê.
Bên thuê được sử dụng tài sản thuê, thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn
thuê đã được hai bên thoả thuận và không được hủy bỏ hợp đồng thuê trước
thời hạn. Khi kết thúc thời hạn thuê, Bên thuê được chuyển quyền sở hữu,
mua lại hoặc tiếp tục thuê lại tài sản đó theo các điều kiện đã được hai bên

8
thoả thuận.
- Bao thanh toán
Bao thanh toán là hình thức tín dụng khá mới và không phổ biến tại các
NHTM Việt Nam. Ngày 19/02/2013, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
(NHNN) đã có văn bản sô 991/NHNN-TTGSNH hướng dẫn các tổ chức tín
dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện hoạt động bao thanh toán
quy định tại Quy chế hoạt động bao thanh toán ban hành kèm theo Quyết định
số 1096/2004/QĐ- NHNN ngày 06/9/2004 của Thống đốc NHNN. Theo đó
hoạt động bao thanh toán được quy định như sau:
Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên
mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải
thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng
dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ.
- Bảo lãnh ngân hàng

Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng
cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ
tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện
không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả các
tổ chức tín dụng theo thỏa thuận.
- Bảo lãnh thường có 3 bên: Bên hưởng bảo lãnh, bên được bảo lãnh và
bên bảo lãnh. Bên bảo lãnh chính là ngân hàng, tức là người phát hành các
cam kết bảo lãnh để bảo lãnh cho bên được bảo lãnh. Bên được bảo lãnh là
khách hàng của ngân hàng. Bên thứ 3 chính là bên hưởng bảo lãnh. Các cam
kết bảo lãnh được phát hành và được ngân hàng gửi trực tiếp cho bên hưởng
bảo lãnh.
1.1.2.4. Phân loại khác
- Phân loại theo đồng tiền cho vay

9
+ Tín dụng bằng đồng bản tệ: Là loại tín dụng mà ngân hàng cấp tín
dụng cho khách hàng bằng đồng tiền của nước mình.
+ Tín dụng bằng ngoại tệ: Là loại tín dụng mà ngân hàng cấp tín dụng
cho khách hàng bằng đồng ngoại tệ.
- Phân loại thẹo rủi ro tín dụng
+ Tín dụng lành mạnh: các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao
+ Tín dụng có vấn đề: các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnh
như khách hàng chậm tiêu thụ, tiến độ thực hiện kế hoạch chậm, khách hàng
gặp thiên tai, khách hàng trì hoãn nộp báo cáo tài chính.....
- Phân loại theo ngành kinh tế: Gồm tín dụng công nghiệp, nông
nghiệp- nông thôn ..
- Phân loại theo mục đích: Tín dụng sản xuất, tín dụng tiêu dùng...
1.1.3. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối vói nền kinh tế
- Tín dụng ngân hàng là đảm bảo quả trình sản xuất kinh doanh trong
nền kình tế diễn ra thường xuyên, liên tục.
Trong một nền kinh tế, nhất là kinh tế thị trường với sự phát triển cao
của hàng hóa, luôn tồn tại hai nhóm đối tượng: Một nhóm tạm thời thừa vốn
và muốn sử dụng số vốn nhàn rỗi này để kiếm lời trong một thời gian nhất
định. Nhóm khác tạm thời thiếu vốn và muốn tìm kiếm nguồn vốn nhàn rỗi
khác để đáp ứng nhu cầu hiện tại. Nhờ hoạt động tín dụng ngân hàng mà cả
hai nhóm đối tượng đều được thoả mãn kịp thời về vốn và dẫn đến quá trình
sản xuất kinh doanh diễn ra một cách thường xuyên, liên tục, nguồn vốn được
sử dụng một cách tối đa.
Mặt khác, ngân hàng thực hiện nhiệm vụ cấp tín dụng đối với mọi
thành phần kinh tế, trong một số trượng hợp còn thực hiện cho vay đối với
ngân sách nhà nước thông qua việc mua trái phiếu chính phủ, tín phiếu. Tín

10
dụng ngân hàng trở thành một kênh cung cấp tin cậy cho các nhu cầu tín dụng
trong nền kinh tế.
- Thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đồng thời
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và kiểm soát sử dụng vốn tại các doanh
nghiệp
Việc thỏa mãn một phần hay toàn bộ nhu cầu vốn của doanh nghiệp đã
tạo nên điều kiện giúp cho doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, đổi mới
công nghệ, đầu tư xây dựng cơ bản. Từ đó góp phần thúc đẩy hoạt động sản
xuất kinh doanh phát triển. Hơn nữa, việc các doanh nghiệp sử dụng vốn tín
dụng ngân hàng có nghĩa vụ hoàn trả gốc và lãi của khoản vay khi nó đến
hạn. Do vậy yêu cầu đặt ra đối với doanh nghiệp là phải quan tâm đến hiệu
quả sử dụng vốn, tránh tình trạng trì trệ sản xuất dẫn đến ứ đọng vốn. Đồng
thời viêc đưa ra quyết định cho một doanh nghiệp vay cũng đồng nghĩa với
việc ngân hàng sẽ tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp để đảm vảo các khoản vay được sử dụng đúng mục đích và
có hiệu quả.
- Tín dụng ngân hàng là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước.
Như ta đã biết cơ cấu kinh tế được quyết định bởi cơ cấu đầu tư mà tín
dụng lại quyết định đến cơ cấu đầu tư. Nhà nước thông qua hoạt động của các
Ngân hàng thương mại, chủ yếu là hoạt động tín dụng để điều chỉnh cơ cấu
kinh tế. Ngoài ra tín dụng cũng là cách để ngân hàng giúp Nhà nước quản lý
tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tể
thông qua cơ chế giám sát hoạt động cấp tín dụng của các NHTM.
1.2. Tăng trưởng tín dụng tai ngân hàng Thương mại
1.2.1. Khái niệm về tăng trưởng tín dụng ngân hàng
Do đặc điểm và vai trò quan trọng của tín dụng đối với sự phát triển kinh
tế xã hội của mỗi quốc gia, các ngân hàng đang dần coi trọng hoạt động tăng

11
trưởng tín dụng. Việc tăng trưởng tín dụng ngân hàng về doanh số, dư nợ và
sản phẩm tín dụng cũng được các ngân hàng tại mỗi quốc gia đặc biệt quan
tâm.
Từ cơ sở lý luận về tín dụng ngân hàng được làm rõ ở phần 1.1, tác giả
đưa ra khái niệm về tăng trưởng tín dụng ngân hàng như sau:
Tăng trưởng tín dụng là sự tăng lên của các khoản cho vay cho khối tư
nhân, cá nhân, tập thể hoặc tổ chức công cộng.
Tăng trưởng tín dụng ngân hàng là những hoạt động gia tăng tín dụng
của ngân hàng dành cho các khách hàng đi vay nhằm thỏa mãn hơn nữa
những nhu cầu khách hàng này.
1.2.2. Sự cần thiết phải tăng trưởng tín dụng đối với NHTM
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, việc tăng trưởng tín dụng đối với
các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân trong xã hội là vô cùng cần thiết, bởi
không chỉ là việc cứu cánh cho các doanh nghiệp thoát khỏi phá sản trong giai
đoạn khó khăn, mà còn tạo được công ăn việc làm, mở rông quy mô sản xuất
cho các doanh nghiệp và người lao động giúp nền kinh tế đi vào ổn định.
Không những vậy, tăng trưởng tín dụng ngân hàng đối trong điều kiện
kinh tế vĩ mô bất ổn còn giúp các ngân hàng mở rộng được thị trường, thu
được lợi nhuận. Bởi khi nền kinh tế dần đi vào tình trạng ổn định, tình hình
của doanh nghiệp tốt lên thì với tỷ lệ nợ, đặc biệt là vay ngân hàng còn khá
thấp, việc các DN, cá nhân sẽ tiếp tục chuyển sang vay nợ ngân hàng để tận
dụng hiệu quả đòn bẩy tài chính là hoàn toàn có khả năng. Đây chính là nhu
cầu tín dụng đối với ngân hàng nhằm tạo ra tăng trưởng tín dụng và mang lại
lợi nhuận cho ngân hàng. Tuy nhiên, với bối cảnh kinh tế vĩ mô tiềm ẩn nhiều
rủi ro, các DN sau một thời kỳ sản xuất kinh doanh khó khăn, suy yếu về mặt
tài chính, công tác tăng trưởng tín dụng không thể bỏ qua việc tăng cường
chất lượng tín dụng, cụ thể là:

12
- Đối với DN, tổ chức và các cá nhân: Tín dụng được cấp phải phù hợp
với mục đích sử dụng và đáp ứng được nhu cầu về vốn cho các khách hàng
với lãi suất, kỳ hạn hợp lý, thủ tục đơn giản thuận tiện, thu hút được nhiều
khách hàng... nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tín dụng. Khoản tín dụng phải
giúp cho khách hàng tạo ra lợi nhuận đủ để chi trả lãi cho khoản vay và tăng
được giá trị tài sản cho doanh nghiệp.
- Đối với ngân hàng: Quy mô, mức độ và giới hạn tín dụng phải phù hợp
với thực lực bản thân ngân hàng. Vốn vay ngân hàng không chỉ nâng cao hiệu
quả cho doanh nghiệp, tăng tính cạnh tranh mà còn đảm bảo sự an toàn trên
nguyên tắc hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi khi đến hạn.
1.2.3. Các tiêu chí phản ánh mức tăng trưởng tín dụng tại NHTM
Việc tăng trưởng tín dụng đối tại NHTM có thể được phản ánh qua một
số tiêu chí sau:
* Về quy mô dư nợ tín dụng đối với khách hàng: Thống kê tổng dư nợ
tín dụng đối với khách hàng hàng năm sẽ giúp xác định được:
- Mức tăng dư nợ tín dụng đối với khách hàng
M(dn) = DN(t) – DN(t-1)

(1.1)

Trong đó: M(dn) là mức tăng dư nợ tín dụng
DN(t) là dư nợ tín dụng năm t
DN(t-1) là dư nợ tín dụng năm t-1
Chỉ tiêu này đánh giá sự thay đổi quy mô tín dụng của NHTM, chỉ tiêu
này tăng thì quy mô tín dụng cho khách hàng của ngân hàng được mở rộng,
còn ngược lại thì thu hẹp.
- Tốc độ tăng dư nợ tín dụng
T(dn) = [M(dn) / DN(t-1)] * 100%
Trong đó: T(dn) là tốc độ tăng dư nợ tín dụng

(1.2)

13
M(dn) là mức tăng dư nợ tín dụng
DN(t-1) là dư nợ tín dụng năm t-1
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ thay đổi dư nợ tín dụng đối với khách hàng
năm nay so với năm trước là bao nhiêu. Tỉ lệ này tăng chứng tỏ ngân hàng có
xu hướng chú trọng vào tín dụng đối với khách hàng. Tỉ lệ này giảm những
vẫn lớn hơn 0 thì tốc độ tăng của tử số thấp hơn tốc độ tăng của mẫu số. Điều
này cho thấy có thể ngân hàng hạn chế hoạt động tăng trưởng tín dụng.
- Mở rộng khách hàng: Chỉ tiêu này cho biêt thay đổi trong số lượng
khách hàng sử dụng dịch vụ tín dụng của ngân hàng.
- Lợi nhuận thu được từ hoạt động tín dụng: Chỉ tiêu này phản ánh lợi
nhuận/tỷ trọng lợi nhuận từ hoạt động tín dụng trên tổng lợi nhuận thu được
của ngân hàng.
* Về cơ cấu tín dụng: Một số tiêu chí thể hiện khía cạnh này bao gồm:
- Dư nợ chia theo loại hình tín dụng: có thể đo lường dư nợ theo sản
phẩm cho vay hoặc thời hạn cho vay
- Dư nợ theo loại hình DN bao gồm công ty cổ phần, công ty trách
nhiệm hữu hạn, hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước.
Mỗi một loại hình doanh nghiệp sẽ có đặc điểm, nhu cầu vốn kinh doanh và
dịch vụ ngân hàng khác nhau, bởi vậy xác định các doanh nghiệp thuộc loại
hình nào sẽ giúp ích cho công tác xây dựng và hoàn thiện danh mục sản phẩm
dịch vụ hợp lý.
- Dư nợ theo ngành kinh doanh: Chỉ tiêu này xem xét trong những giai
đoạn khác nhau thì lĩnh vực kinh doanh của DN và các tổ chức cá nhân khác
mà ngân hàng cung cấp tín dụng được mở rộng, bổ sung, hay thu hẹp. Từ đó,
có thể dự đoán được nhu cầu về vốn của doanh nghiệp trong tương lai hoặc có
biện pháp quản lý rủi ro về tín dụng hợp lý khi nhận thấy quy mô hoạt động
của doanh nghiệp bị thu hẹp dần. Các lĩnh vực hoạt động kinh doanh bao

14
gồm: công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ, vận tải, ...
* Về chất lượng tín dụng: Trong điều kiện nền kinh tế vĩ mô bất ổn, môi
trường kinh doanh của doanh nghiệp bị ảnh hưởng nặng nề, do vậy chỉ tiêu
này cần được chú ý nhằm đạt được mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp duy trì, mở
rộng sản xuất kinh doanh, đồng thời đảm bảo được an toàn tín dụng cho ngân
hàng. Chất lượng tín dụng có thể được đo lường qua các chỉ tiêu sau:
- Nợ quá hạn
- Tỷ lệ Nợ quá hạn / Tổng dư nợ
- Nợ xấu
- Tỷ lệ Nợ xấu / Tổng dư nợ
Tóm lại, mỗi chỉ tiêu đánh giá mức độ tăng trưởng tín dụng đối với mỗi
khách hàng ở một phương diện nhất định. Vì vậy, để đánh giá mức độ tăng
trưởng của hoạt động tín dụng của các ngân hàng tại một thời điểm, cần đánh
giá đồng bộ các chỉ tiêu trên.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng tại NHTM
Chất lượng tín dụng là một vấn đề được quan tâm hàng đầu tại các
NHTM. Chính vì vậy các NHTM đã và đang rất nỗ lực để tìm ra các nhân tố
ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng nhằm tìm lời giải cho bài toán nâng cao
chất lương tín dụng tại ngân hàng mình. Có rất nhiều nhẳn tố ảnh hưởng tới
chất lượng tín dụng tại NHTM. Có các nhân tố chủ quan và có cả những nhân
tố khách quan. Đối với mỗi ngân hàng, tùy theo quy mô, trình độ quản lý và
mục tiêu hoạt động, các nhân tố này sẽ có những ảnh hưởng ở mức độ khác
nhau. Tuy vậy, nhìn chung có một số các nhân tố chủ yếu sau ảnh hưởng tới
chất lượng tín dụng tại các NHTM:
1.3.1. Các nhân tô chủ quan từ phía ngân hàng
- Chính sách tín dụng