Tải bản đầy đủ
4 Các nghiên cứu thực nghiệm

4 Các nghiên cứu thực nghiệm

Tải bản đầy đủ

18

Oke, Michael Ojo. và Adeusi S.O. (2012) nghiên cứu “Tác động của
cải cách thị trường vốn đến tăng trưởng kinh tế: Kinh nghiệm từ Nigerian”
(Impact of capital market reforms on economic growth: The Nigerian
Experience).
Nội dung: Xem xét tác động của phát triển thị trường vốn đến tăng
trưởng kinh tế tại Nigeria giai đoạn năm 1981 đến năm 2010. Cụ thể là tác giả
sử dụng các biến số về vốn hóa thị trường, tổng khối lượng giao dịch, tổng giá
trị giao dịch, chỉ số giá chứng khoán, lạm phát và tăng trưởng kinh tế để tìm ra
bằng chứng thực nghiệm cho nghiên cứu này.
Phương pháp: Tác giả tiến hành kiểm định nghiệm đơn vị theo phương
pháp kiểm định tính dừng ADF. Kiểm định đồng liên kết Johansen để phân
tích dữ liệu chuỗi thời gian. Từ kết quả kiểm định đồng liên kết, tác giả sử
dụng mô hình hiệu chỉnh sai số (ECM) để xác định mức độ tác động trong
ngắn hạn giữa các biến thị trường vốn tới tăng trưởng kinh tế.
Kết quả: Cho thấy việc phát triển thị trường vốn có ảnh hưởng tích cực
đến tăng trưởng kinh tế. Cụ thể là các biến vốn hóa thị trường, khối lượng giao
dịch, giá trị giao dịch, chỉ số giá chứng khoán đều có tác động đến biến tăng
trưởng kinh tế mà đại diện là biến GDP.
F.T.Kolapo và A O. Adaramola (2012) với nghiên cứu “Tác động của
thị trường vốn Nigeria đến tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn từ năm 1990
đến năm 2010” (The impact of the Nigerian Capital market on Economic
Growth (1990-2010)),
Nội dung: Kiểm ta tác động của thị trường vốn Nigeria đến tăng trưởng
kinh tế giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2010. Các biến số được sử dựng để
phân tích gồm: Biến tăng trưởng kinh tế được đại diện bởi Tổng sản phẩm
quốc nội (GDP), các biến đại diện cho thị trường vốn bao gồm: Vốn hóa thị

19

trường (MCAP), tổng chứng khoán phát hành mới (TNI), tổng giá trị giao dịch
(VLT) và tổng khối lượng giao dịch (LEGS).
Phương pháp: Tác giả sử dụng kiểm định đồng liên kết Johansen và
kiểm định nhân quả Granger để tìm ra mối quan hệ giữa thị trường vốn và tăng
trưởng kinh tế.
Kết quả: Thị trường vốn Nigeria và tăng trưởng kinh tế có mối liên kết
với nhau. Điều này cho thấy một mối quan hệ lâu dài tồn tại giữa thị trường
vốn và tăng trưởng kinh tế ở Nigeria. Kết quả kiểm định nhân quả Granger cho
thấy mối quan hệ hai chiều giữa GDP và Tổng giá trị giao dịch; quan hệ nhân
quả một chiều từ vốn hóa thị trường tới GDP và không có quan hệ ngược từ
GDP vào thị trường này. Hơn nữa, không có quan hệ nhân quả giữa GDP và
tổng chứng khoán phát hành mới cũng như GDP và độ trễ. Đây là một bằng
chứng cho thấy tầm quan trọng của thị trường vốn đến tăng trưởng kinh tế của
đất nước. Các bằng chứng từ các nghiên cứu này cho thấy rằng các hoạt động
trên thị trường vốn có xu hướng tác động tích cực đến nền kinh tế.
Odetayo T.A và Sajuyigbe A.S (2012), nghiên cứu “Tác động của thị
trường vốn Nigaria đến tăng trưởng kinh tế và phát triển” (Impact of nigerian
capital market on economic growth and development).
Nội dung: Xem xét tác động của thị trường vốn Nigeria đến tăng trưởng
kinh tế và phát triển giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2011. Dữ liệu được thu
thập từ báo cáo của Ủy ban Chứng khoán, thị trường chứng khoán, Ngân hàng
Trung Ương và Tổng cục thống kê của Nigeria.
Phương pháp: Tác giả sử dụng phương pháp hồi quy bình phương bé
nhất thông qua phần mềm Stata phiên bản 10 để phân tích dữ liệu.
Kết quả: Kết quả thực nghiệm cho thấy rằng chỉ số của thị trường vốn
có tác động đáng kể đến GDP. Đồng thời bài nghiên cứu này cũng nhằm đưa

20

ra các gợi ý rằng: Chính phủ nên đưa ra các biện pháp xây dựng lòng tin của
nhà đầu tư trên thị trường vốn bằng cách tạo ra các giao dịch công bằng, tăng
cường các công cụ đầu tư trên thị trường, cung cấp cơ sở hạ tầng cũng như môi
trường kinh doanh thông thoáng cho các nhà đầu tư mua và giữ chứng khoán.
Barna, F.; Mura, P.O. (2010) nghiên cứu “Phát triển thị trường vốn và
tăng trưởng kinh tế: Trường hợp của Romania” (Capital market development
and economic growth: The case of Romania).
Nội dung: Thị trường vốn đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát
triển kinh tế của các thị trường vốn mới nổi. Thị trường hoạt động tốt sẽ đảm
bảo rằng cả doanh nghiệp và các nhà đầu tư đều nhận được mức giá cả hợp lý
cho các chứng khoán của mình. Chính vì thế, tác giả đã nghiên cứu mối tương
quan giữa phát triển thị trường vốn và tăng trưởng kinh tế tại Romania giai
đoạn từ năm 2000 đến năm 2009 thông qua hai chỉ tiêu về tổng sản phẩm quốc
nội (GDP) và chỉ số giá chứng khoán của Romania (BET).
Phương pháp: Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng phương pháp kiểm
định nghiệm đơn vị và hàm hồi quy để phân tích dữ liệu hàng quý từ năm 2000
đến năm 2009.
Kết quả: Sự phát triển của thị trường vốn có mối tương quan tích cực tới
tăng trưởng kinh tế, nhưng tương quan mạnh nhất là từ tăng trưởng kinh tế
đến thị trường vốn, điều này cho thấy rằng phát triển tài chính theo sau tăng
trưởng kinh tế, tăng trưởng kinh tế sẽ làm thay đổi và phát triển các thể chế tài
chính.
Mishra và cộng sự (2010) nghiên cứu “Tác động của hiệu suất thị
trường vốn đến tăng trưởng kinh tế của Ấn Độ” (Capital Market Efficiency
and Economic Growth: The Case of India)

21

Nội dung: Xem xét tác động của hiệu suất thị trường vốn đến tăng
trưởng kinh tế tại Ấn Độ giai đoạn từ quý đầu tiên của năm 1991 đến quý đầu
tiên của năm 2010.
Phương pháp: Tác giả sử dụng mô hình hồi quy để phân tích dữ liệu
chuỗi thời gian. Với các chỉ số vốn hóa thị trường, tổng giá trị thị trường và chỉ
số giá chứng khoán trong giai đoạn từ quý đầu tiên của năm 1991 đến quý đầu
tiên của năm 2010.
Kết quả: Nghiên cứu của các ông cho thấy rằng có mối quan hệ giữa
hiệu suất thị trường vốn và tăng trưởng kinh tế tại Ấn Độ. Mối quan hệ này
được thiết lập thông qua tỷ lệ vốn hóa thị trường cao và tổng giá trị thị trường.
Quy mô của thị trường vốn lớn thì tỷ lệ vốn hóa thị trường càng lớn hơn và tỷ
lệ thuận với khả năng huy động vốn và đa dạng hóa rủi ro trên diện rộng của
nền kinh tế. Vốn hóa thị trường ngày càng tăng tại Ấn Độ chắc chắn sẽ mang
lại hiệu quả cho thị trường vốn và cũng góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế
của đất nước.
Ewah et al, (2009)“Đánh giá về tính hiệu quả của thị trường vốn đến
tăng trưởng kinh tế của Nigeria” (Appraisal of Capital Market Efficiency on
growth in Nigeria).
Nội dung: Bài nghiên cứu nhằm đánh giá về tính hiệu quả của thị trường
vốn đến tăng trưởng kinh tế của Nigeria. Với các biến được sử dụng trong mô
hình là: Vốn hóa thị trường, cung tiền, lãi suất, tổng giá trị giao dịch và trái
phiếu chính phủ.
Phương pháp: Tác giả sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian từ năm 1963 đến
năm 2004. Mô hình được sử dụng để phân tích là mô hình hồi quy đa nhân tố
và phương pháp bình phương bé nhất (OLS).

22

Kết quả: Các tác giả nhận thấy rằng thị trường vốn ở Nigeria có tiềm
năng gây tăng trưởng nhưng nó đã không đóng góp đáng kể vào sự phát triển
kinh tế của Nigeria vì vốn hóa thị trường thấp, vốn hóa hấp thụ thấp và thiếu
tính thanh khoản.
Laura O. B., Victor D. và Delia C. (2008) nghiên cứu “Mối tương quan
giữa phát triển thị trường vốn và tăng trưởng kinh tế: Trường hợp của
Romania” (Correlations between capital market development and economic
growth: the case of Romania).
Nội dung: Kiểm tra mối tương quan giữa phát triển thị trường vốn và
tăng trưởng kinh tế tại Romania. Các biến số được sử dụng trong bài nghiên
cứu là thị trường vốn và tăng trưởng kinh tế. Trong đó, biến đại diện cho thị
trường vốn là: Vốn hóa thị trường, số lượng cổ phiếu niêm yết, khối lượng
giao dịch, chỉ số thanh khoản, chỉ số giá chứng khoán (BET). Và biến số đại
diện cho tăng trưởng kinh tế là tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
Phương pháp: Dữ liệu được tập hợp theo quý giai đoạn từ năm 2000 đến
năm 2006. Hàm hồi quy và mô hình VAR được sử dụng để kiểm định mối
tương quan giữa phát triển thị trường vốn và tăng trưởng kinh tế.
Kết quả: Phát triển thị trường vốn có tương quan tích cực đến tăng
trưởng kinh tế. Đồng thời, tăng trưởng kinh tế cũng có tác động ngược lại đến
thị trường vốn. Tuy nhiên, mối tương quan từ tăng trưởng kinh tế đến phát
triển thị trường vốn thì mạnh hơn. Điều này cho thấy rằng tăng trưởng kinh tế
sẽ kéo theo phát triển thị trường vốn và tăng trưởng kinh tế sẽ quyết định sự
thay đổi và phát triển của các tổ chức tài chính.
Wan-Chun Liu and Chen-Min Hsu (2006) nghiên cứu “Vai trò của
phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế: Kinh nghiệm của Đài Loan, Hàn

23

Quốc và Nhật Bản” (The role of financial development in economic growth:
The experiences of Taiwan, Korea, and Japan)
Nội dung: Bài nghiên cứu nhằm kiểm tra mối quan hệ giữa phát triển tài
chính và các nguồn tăng trưởng tại ba nước châu Á, cụ thể là Đài Loan, Hàn
Quốc và Nhật Bản.
Phương pháp: Tác giả sử dụng phương pháp bình phương bé nhất để
phân tích dữ liệu giai đoạn từ năm 1981 đến năm 2001 cho ba nền kinh tế Đài
Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản.
Kết quả: Qua bài nghiên cứu các tác giả cho thấy bằng chứng thực
nghiệm rằng: 1/ Đầu tư cao sẽ đẩy mạnh tăng trưởng tại Nhật Bản trong khi tỷ
lệ đầu tư cao / GDP không thật sự dẫn đến hiệu suất tăng trưởng tốt hơn nếu
đầu tư không được phân bổ hiệu quả, ví dụ như trường hợp của Đài Loan và
Hàn Quốc; 2/ Xuất khẩu tăng sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho Đài
Loan và Hàn Quốc; 3/ Phát triển thị trường chứng khoán có tác động tích cực
đến tăng trưởng kinh tế Đài Loan; 4/ Nền kinh tế Đài Loan bị ảnh hưởng rất ít
sau cuộc khủng hoảng kinh tế; 5/ Sau khi bãi bỏ quy định về ngoại hối thì
nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài có tác động tiêu cực đến cả ba nền kinh tế.
Trong khi đó, nguồn vốn đầu tư vào thì cũng có tác động tiêu cực nhưng
không đáng kể.
Hondroyiannis G., Lolos S. và Papapetrou E. (2005) nghiên cứu “Thị
trường tài chính và tăng trưởng kinh tế tại Hy Lạp từ 1986 đến 1999”
(Financial Markets and Economic Growth in Greece, 1986 - 1999).
Nội dung: Bài nghiên cứu nhằm đánh giá thực nghiệm về mối quan hệ
giữa phát triển hệ thống ngân hàng, thị trường chứng khoán và hiệu quả kinh tế
cho trường hợp Hy Lạp. Các chỉ số được sử dụng trong bài nghiên cứu là:
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), vốn hóa thị trường và tín dụng ngân hàng.

24

Phương pháp: Tác giả sử dụng mô hình VAR, mô hình hiệu chỉnh sai số
(ECM) để phân tích dữ liệu cho giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1999.
Kết quả: Kết quả thực nghiệm cho thấy có tồn tại mối quan hệ hai chiều
giữa tài chính và tăng trưởng trong dài hạn. Đồng thời mô hình hiệu chỉnh sai
số (ECM) cũng chỉ ra rằng cả ngân hàng và thị trường chứng khoán đều có
thúc đẩy tăng trưởng trong dài hạn nhưng không nhiều.
Tóm lại, qua các nghiên cứu thực nghiệm được trình bày bên trên cho
thấy hầu hết các tác giả đều xây dựng mô hình dựa trên các biến đại diện cho
tăng trưởng kinh tế là GDP, và đại diện cho thị trường vốn là các biến tổng
khối lượng giao dịch, tổng giá trị giao dịch, vốn hóa thị trường, chỉ số giá
chứng khoán để xác định mức độ tác động của thị trường vốn tới tăng trưởng
kinh tế. Riêng nghiên cứu của tác giả Oke, Michael Ojo. và Adeusi S.O (2012)
đã đưa thêm vào mô hình nghiên cứu biến lạm phát.
Biến lạm phát được đưa vào mô hình bởi vì tác giả muốn loại bỏ ảnh
hưởng của lạm phát tới kết quả tăng trưởng vì trong giai đoạn nghiên cứu tỉ lệ
lạm phát của Nigeria cao. Đối chiếu với tình hình Việt Nam, giai đoạn nghiên
cứu cho thấy phần lớn giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2012 lạm phát ở Việt
Nam với mức khá cao. Điều này tương đồng với nền kinh tế Nigeria. Vì vậy
tác giả đã lựa chọn mô hình nghiên cứu bao gồm biến phụ thuộc là tăng trưởng
kinh tế (đại diện là GDP), biến độc lập là thị trường vốn và lạm phát. Trong đó
đại diện cho thị trường vốn là các biến: Tổng khối lượng giao dịch, tổng giá trị
giao dịch, giá trị vốn hóa thị trường, chỉ số giá chứng khoán để làm mô hình
gốc cho bài nghiên cứu của mình. Việc lựa chọn mô hình nghiên cứu này sẽ
giúp đánh giá chính xác hơn tác động của thị trường vốn tới tăng trưởng kinh
tế Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu.
Đồng thời, hầu hết các nghiên cứu trên đều cho ra kết quả, phát triển thị
trường vốn có tác động đến tăng trưởng kinh tế.

25

Kết luận chương 2
Tóm lại, trong chương này tác giả đã đề cập đến ba nội dung lớn quan
trọng. Thứ nhất, tác giả tổng kết lại các lý thuyết về thị trường vốn. Thứ hai,
tác giả cũng đã tổng hợp được hầu hết các lý thuyết liên quan tới tăng trưởng
kinh tế gồm các quan điểm khác nhau về tăng trưởng kinh tế, các lý thuyết về
tăng trưởng kinh tế cũng như các mô hình tăng trưởng kinh tế đang được
nghiên cứu và áp dụng trên thế giới. Hơn nữa, cũng trong phần này tác giả đã
trình bày ý nghĩa của tăng trưởng kinh tế đối với bất kỳ một quốc gia nào.
Phần cuối cùng, tác giả cung cấp những nhận định khác nhau trên thế giới về
tác động của phát triển thị trường vốn đến tăng trưởng kinh tế.

26

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP, DỮ LIỆU VÀ MÔ HÌNH
NGHIÊN CỨU
3.1 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong bài là phân tích định
lượng, dữ liệu được sử dụng là bộ dữ liệu chuỗi thời gian được thu thập theo
quý từ năm 2001 đến năm 2012. Việc sử dụng số liệu theo quý cho phép có
một chuỗi số liệu tương đối lớn để có thể đưa ra những kết quả có độ tin cậy
về mặt thống kê. Trong bài nghiên cứu này tác giả sử dụng phân tích nghiệm
đơn vị để kiểm định tính dừng (Augmented Dickey-Fuller) của chuỗi dữ liệu;
kiểm định đồng liên kết Johansen để xác định có tồn tại mối quan hệ giữa các
biến trong dài hạn hay không; mô hình vector hiệu chỉnh sai số (VECM) để
xem xét mối quan hệ cân bằng trong dài hạn và ngắn hạn của các biến nghiên
cứu; kiểm định mối quan hệ nhân quả Granger để xác định mối quan hệ nhân
quả giữa các biến nghiên cứu; cuối cùng là phân tích phân rã phương sai để
giải thích tác động của các biến.
Tất cả các dữ liệu được thu thập và chọn lọc bằng Excel và chạy mô
hình thông qua phần mềm Eviews.
3.1.1 Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu
Để kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu tác giả sử dụng kiểm định
nghiệm đơn vị (unit root test), kiểm định PP (Phillips Peron) cũng được tham
khảo để tăng thêm tính chính xác đối với kết luận về tính dừng của các chuỗi.
Một trong các giả thuyết của mô hình hồi quy là các biến độc lập phải phi ngẫu
nhiên. Nếu chúng ta ước lượng mô hình có chuỗi dữ liệu của các biến độc lập
không dừng sẽ tạo ra hồi quy giả mạo và làm sai lệch kết quả mô hình.
Augmented Dickey - Fuller đưa ra tiêu chuẩn kiểm định có dạng như sau:
H0: p=1 (chuỗi không dừng)

H1: p≠1 (chuỗi dừng)

27

Ta ước lượng mô hình: t = p/se(p) có phân phối theo quy luật DF
Nếu t > tα thì bác bỏ giả thuyết H0. Trong trường hợp này thì chuỗi
dừng.
Nếu t < tα thì chấp nhận giả thuyết H0. Trong trường hợp này thì chuỗi
dữ liệu là chuỗi không dừng.
Độ trễ trong kiểm định ADF được lựa chọn dựa trên các chỉ tiêu AIC
(Akaike Information Criterion) và SIC (Schwarz Information Criterion). Kiểm
định giả thuyết H0 (Null hypothesis) là tồn tại một nghiệm đơn vị β = 0 và nó
sẽ bị bác bỏ nếu giá trị tuyệt đối kiểm định ADF lớn hơn giá trị tới hạn của nó.
Trong kiểm định ADF, giá trị kiểm định ADF không theo phân phối chuẩn, vì
vậy giá trị tới hạn được dựa trên bảng giá trị tính sẵn của Mackinnon (1991).
So sánh giá trị kiểm định ADF với giá trị tới hạn của Mackinnon chúng ta sẽ
có được kết luận về tính dừng cho các chuỗi quan sát. Ngoài ra, chúng ta có
thể thực hiện kiểm định tự tương quan đối với sai số trong kiểm định về tính
dừng nhằm lựa chọn được độ trễ hợp lý.
3.1.2 Kiểm định đồng liên kết
Khi ước lượng mô hình hồi quy với các biến số là các chuỗi thời gian
không dừng thường dẫn đến kết quả hồi quy giả mạo. Tuy nhiên Engle và
Granger (1987)4 cho rằng nếu kết hợp các chuỗi thời gian không dừng có thể là
một chuỗi dừng và các chuỗi thời gian không dừng đó được cho là đồng liên
kết. Kết hợp tuyến tính dừng được gọi là phương trình đồng liên kết và có thể
được giải thích như mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa các biến trong mô hình.
Hiện nay có nhiều phương pháp kiểm định đồng liên kết như kiểm định Engle
– Granger, Johansen,…. Trong đó kiểm định Johansen dựa trên nền tảng mô
hình VAR. Có hai dạng kiểm định Johansen là trace test và eigenvalue test, hai
phương pháp này tương đương nhau.
4

Đoạt giải Nobel kinh tế năm 2003