Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

Tải bản đầy đủ

8

những lợi thế của thị trường vốn không bao gồm các quỹ mà thời gian trả nợ
ngắn. Những lợi thế này chỉ được sử dụng cho các quỹ có thời gian trung và
dài hạn, các quỹ của Nhà nước và địa phương mà không có áp lực nhiều về
thời gian để hoàn trả vốn vay.
2.2 Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế
2.2.1 Khái niệm về tăng trưởng kinh tế
Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế cho thấy rằng có nhiều quan điểm khác
nhau về khái niệm này. Sau đây tác giả trình bày một số khái niệm tiêu biểu về
tăng trưởng kinh tế:
Godwin (2007) định nghĩa tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng
sản phẩm quốc nội (GDP) hay tổng sản phẩm quốc dân (GNP) trong một thời
gian nhất định. Trong đó, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hay tổng sản phẩm
quốc dân (GNP) được điều chỉnh theo lạm phát.
Samuelson và cộng sự (2001) phát biểu rằng tăng trưởng kinh tế là sự
gia tăng GDP tiềm năng hoặc sản lượng của một quốc gia. Nghĩa là tăng
trưởng kinh tế chỉ xảy ra khi ranh giới khả năng sản xuất của một quốc gia
vượt ra khỏi lãnh thổ của một nước.
Johnson (2000) định nghĩa tăng trưởng kinh tế là một phần của lý thuyết
kinh tế để giải thích tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế theo thời gian, được đo
lường bằng tỷ lệ phần trăm tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
hay tổng sản phẩm quốc gia (GNP). Trong đó, GDP và GNP được điều chỉnh
thích hợp để làm giảm các ảnh hưởng về lạm phát.
Tóm lại, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng giá trị hàng hóa và dịch vụ
được sản xuất ra bởi một nền kinh tế. Cụ thể là nó được đo lường bằng sự gia

9

tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hay tổng sản phẩm quốc gia (GNP)
trong một thời gian nhất định.
2.2.2 Các mô hình tăng trưởng kinh tế
Mô hình tăng trưởng kinh tế là một trong những cách diễn đạt quan
điểm cơ bản nhất về tăng trưởng kinh tế thông qua các biến số kinh tế và mối
liên hệ giữa chúng. Ngay từ khi mới ra đời, các mô hình tăng trưởng kinh tế đã
trở thành công cụ hữu ích, giúp các nhà kinh tế mô tả và lượng hoá tăng trưởng
của nền kinh tế một cách rõ ràng hơn, cụ thể hơn. Cho đến nay, cùng với sự
phát triển của lịch sử kinh tế học, các mô hình tăng trưởng đã chiếm một vị trí
quan trọng trong các nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn về tăng trưởng
kinh tế ở mỗi quốc gia. Theo dòng thời gian, các lý thuyết và mô hình tăng
trưởng được sắp xếp thành: (1) Lý thuyết tăng trưởng cổ điển (thế kỷ XVIII),
(2) Lý thuyết tăng trưởng của Karl Marx (thế kỷ XIX), (3) Mô hình tăng
trưởng trường phái Keynes (đầu thế kỷ XX), (4) Mô hình tăng trưởng Tân cổ
điển (giữa thế kỷ XX), và (5) Mô hình tăng trưởng nội sinh (cuối thế kỷ XX).
Trong phần này tác giả chỉ trình bày bốn mô hình được quan tâm phổ biến nhất
hiện nay.
2.2.2.1 Lý thuyết tăng trưởng cổ điển
Lý thuyết này được hình thành từ các nhà kinh tế tiêu biểu như: Adam
Smith, R.Malthus, David Ricardo.
Adam Smith cho rằng tích lũy vốn và tiến bộ công nghệ cùng các nhân
tố xã hội, thể chế đều đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển
kinh tế của một quốc gia. Tăng sản lượng đầu ra thông qua việc tăng số lượng
đầu vào tương ứng. Tuy nhiên, vì đất đai là có hạn nên đến một lúc nào đó sản
lượng đầu ra sẽ tăng chậm dần.

10

R. Malthus thì cho rằng dân số tăng theo cấp số nhân, còn sản lượng
tăng theo cấp số cộng do bị hạn chế bởi tài nguyên thiên nhiên. Nếu muốn duy
trì tăng sản lượng thì phải giảm mức tăng dân số. Vì dân số tiếp tục tăng sẽ đẩy
nền kinh tế đến một điểm mà ở đó người lao động chỉ còn sống ở mức tối
thiểu.
David Ricardo với luận điểm cơ bản là đất đai là nguồn gốc của tăng
trưởng kinh tế. Nhưng đất sản xuất lại có giới hạn do đó người sản xuất phải
mở rộng diện tích trên đất xấu hơn để sản xuất, dẫn đến chí phí sản xuất lương
thực, thực phẩm cao, giá bán hàng hóa tăng, tiền lương danh nghĩa tăng và lợi
nhuận của chủ đất ngày càng giảm. Mà lợi nhuận là nguồn tích lũy để mở rộng
đầu tư nên dẫn đến tăng trưởng giảm. Do đó, đất đai là giới hạn đối với sự tăng
trưởng2.
Tóm lại, các nhà kinh tế Adam Smith, R.Malthus và David Ricardo đều
nhấn mạnh đến vai trò của nguồn lực tự nhiên trong tăng trưởng kinh tế.
2.2.2.2 Mô hình tăng trưởng trường phái Keynes
Mô hình Keynes được phát hiện ra bởi nhà kinh tế học John Maynard
Keynes. Tác phẩm nổi tiếng của ông là: Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi
suất và tiền tệ. Theo ông, Sản lượng nền kinh tế là do lượng cầu quyết định, do
đó muốn tăng lượng cầu thì phải gia tăng đầu tư. Ông đã nghiên cứu mối quan
hệ giữa gia tăng sản lượng quốc gia và gia tăng đầu tư thông qua mô hình số
nhân như sau:
k

∆Y
∆I

Suy ra : 0 Y= k. 0 I
Trong đó:
2

Xem thêm: David Ricardo “ Principles of Political Economy and Taxation”

11

Y là thay đổi của sản lượng
k là số nhân
I là thay đổi của đầu tư
Ông cũng cho rằng thu nhập được chia thành tiêu dùng và tiết kiệm,
đồng thời thu nhập cũng có thể chia thành tiêu dùng và đầu tư. Từ đó ông cho
rằng Tiết kiệm (S) = Đầu tư (I).
Dựa trên phương pháp luận của Keynes, hai nhà kinh tế học Roy. F.
Harrod (1939) và Evsey Domar (1946) đã đưa mô hình tăng trưởng kinh tế
như sau:
St = It (Tiết kiệm luôn bằng đầu tư)
It = 0K (Đầu tư năm t bằng vốn hiện vật gia tăng trong năm t)
Tốc độ tăng trưởng:
g=



=



=

:



Vì St = It nên It/Yt = St/Yt
Nếu gọi: St/Yt = s là tỷ lệ tiết kiệm của nền kinh tế, thì
It/0Y = 0K/0Y = k tỷ số gia tăng giữa vốn đầu ra (hệ số ICOR –
Incremental capital output ratio)
Ta sẽ có g = s/k
Hệ số ICOR cho biết để tăng thêm 1 đồng sản lượng thì cần đầu tư thêm
bao nhiêu đồng vốn.

12

Tóm lại, Lý thuyết trường phái Keynes nhấn mạnh đến vai trò của tư
bản/vốn (K) đối với tăng trưởng kinh tế.
2.2.2.3 Mô hình tăng trưởng tân cổ điển
Mô hình tăng trưởng Solow là một mô hình thuyết minh về cơ chế
tăng trưởng kinh tế do Robert Solow3 và Trevor Swan xây dựng nên. Ông cho
rằng có nhiều vấn đề phát sinh từ hàm sản xuất trong mô hình Harrod Domar.
Theo ông thì bỏ hàm sản xuất có hệ số cố định và thay nó bằng hàm sản xuất
tân cổ điển, hàm này có tính linh hoạt hơn và có sự thay đổi giữa các yếu tố
sản xuất. Trong mô hình Solow, các tỷ số vốn - sản lượng; vốn - lao động
không còn cố định nữa mà thay đổi tùy theo nguồn vốn và lao động trong nền
kinh tế.
Hàm sản xuất tân cổ điển có dạng như sau:
Y = f (K,L)
Giả sử hiệu suất của nền kinh tế không thay đổi theo quy mô thì:
Y. = f(K. , L. ) hay Y/L = f (K/L)
Trong đó y = Y/L là sản lượng bình quân cho một lao động
k = K/L là vốn bình quân cho một lao động
Mối quan hệ giữa y và k được biểu diễn qua đồ thị:

3

Robert Solow nhận được giải Nobel kinh tế năm 1987

13

Đồ thị 2.1: Mối quan hệ giữa sản lượng và vốn
Hàm sản xuất dốc lên từ trái sang phải có nghĩa là y và k có mối quan hệ
đồng biến. Bên cạnh đó, độ dốc của hàm sản xuất giảm dần có nghĩa là k tăng
thì y tăng nhưng tốc độ tăng chậm dần và đến một lúc nào đó k tăng y sẽ
không tăng nữa.
Tốc độ tăng chậm dần là do quy luật lợi tức cận biên giảm dần. Quy luật
này cho thấy khối lượng đầu ra ngày càng giảm, trong khi khối lượng đầu vào
vẫn giữ cố định. Lý do mọi nguồn lực đều khan hiếm nên các đơn vị nguồn
lực thêm vào sau đó có chi phí cơ hội tăng dần. Nghĩa là năng suất của các
nguồn lực này giảm so với đơn vị ban đầu. Để nền kinh tế vượt qua điểm dừng
thì cần phải có tiến bộ khoa học và tăng trưởg kinh tế trong dài hạn.
Như vậy, lý thuyết tân cổ điển nhấn mạnh đến vai trò của khoa học công
nghệ đối với tăng trưởng trong dài hạn nhưng lại không chỉ ra các yếu tố quyết
định tiến bộ công nghệ. Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế sau này cố gắng đưa
tiến bộ công nghệ vào mô hình để xem xét điều gì quyết định tiến bộ công
nghệ.

14

2.2.2.4 Mô hình tăng trưởng nội sinh
Có rất nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những lý thuyết khác nhau về mô
hình tăng trưởng nội sinh. Tuy nhiên, tác giả tiêu biểu cho lý thuyết này phải
kể đến là Paul Romer và nhóm các nhà nghiên cứu gồm Lucas (1988),
Azariadion và Drazen (1990), Rebalo (1991), Kremer và Thompson (1994),
Mankiw, D. Romer và Weil (1992).
Thứ nhất, Paul Romer, ông đã đưa ra lý thuyết tăng trưởng kinh tế
trong đó tiến bộ khoa học công nghệ được quyết định bởi vốn tri thức, mà vốn
tri thức lại phụ thuộc vào hoạt động đầu tư cho lĩnh vực R&D của nền kinh tế.
Tuy nhiên phần lớn các doanh nghiệp không sẵn lòng đầu tư cho hoạt động
R&D nên Chính phủ cần thực hiện các chính sách nhằm thúc đẩy hoạt động
này như:
+ Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
+ Trợ cấp cho hoạt động R&D
+ Trợ cấp cho giáo dục
Ông chỉ ra rằng vốn tri thức là một loại vốn đặc biệt. Xét trên gốc độ vi
mô thì chúng có lợi tức giảm dần, nhưng xét trên góc độ vĩ mô thì chúng có lợi
tức tăng dần theo quy mô.
Thứ hai là các mô hình về vốn nhân lực được phát triển bởi Lucas
(1988), Azariadion và Drazen (1990), Rebalo (1991), Kremer và Thompson
(1994), Mankiw, D. Romer và Weil (1992) đã nhìn nhận, vốn nhân lực như là
yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất tách biệt với công nghệ.

15

2.2.3 Ý nghĩa của tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế làm cho mức thu nhập của cư dân tăng, phúc lợi xã
hội và chất lượng cuộc sống của cộng đồng được cải thiện.
Tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện giải quyết công ăn việc làm, giảm thất
nghiệp (Theo Okun: GDP thực tế tăng 2,5% so với mức tiềm năng thì tỷ lệ thất
nghiệp giảm đi 1%).
Tăng trưởng kinh tế sẽ tạo tiền đề vật chất để củng cố an ninh quốc
phòng, chế độ chính trị, nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước đối với xã hội.
Đối với những nước đang phát triển như Việt Nam thì tăng trưởng kinh
tế còn là điều kiện để khắc phục sự tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước
đã phát triển.
2.3 Thị trường vốn tác động đến tăng trưởng kinh tế
Như chúng ta đã biết vốn được huy động từ rất nhiều nguồn khác nhau
trong đó có thị trường vốn. Theo tính chất bắc cầu trong kinh tế thì thị trường
vốn có một tác động rất lớn tới sự phát triển kinh tế của đất nước. Thu nhập
quốc dân tăng, GDP tăng từ đó làm cho nền kinh tế tăng trưởng. Tuy nhiên khi
nguồn vốn đầu tư tăng đến một mức nào đó thì kinh tế không thể tăng trưởng
thêm được do nền kinh tế cũng phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khác nhau
như: Lao động, tài nguyên thiên nhiên, hay chính sách tài khoá của Chính phủ.
Nước ta xuất phát từ một nước nông nghiệp nghèo nàn và lạc hậu thì
nguồn vốn lại là một yếu tố vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế của
đất nước. Không có tiền chúng ta không thể làm gì được, không có tiền không
thể đầu tư thêm máy móc thiết bị, nhà xưởng, không thể tận dụng nguồn lao
động dồi dào của đất nước, không thể tận dụng những gì mà thiên nhiên đã ban
tặng cho chúng ta. Kể từ khi đất nước ta chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung

16

bao cấp sang nền kinh tế thị trường thì nguồn vốn là một yếu tố rất quan trọng.
Chính phủ đã cố gắng tạo ra những cơ chế chính sách hợp lý tuỳ thuộc vào
từng hoàn cảnh của đất nước ta, để có thể phát huy tối đa mọi khả năng và
nguồn lực của đất nước. Nhằm phát triển thị trường vốn, góp phần thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế.
Theo phương pháp tiếp cận của Levine (1997) thì quá trình tác động của
thị trường tài chính tới tăng trưởng kinh tế được thể hiện qua sơ đồ sau:

17

Tiếp cận thị trường
- Chi phí thông tin
- Chi phí giao dịch

Thị trường và trung
gian tài chính

-

Chức năng tài chính
Huy động tiết kiệm
Phân bổ nguồn lực
Kiểm soát công ty
Thuận tiện quản trị rủi ro
Dễ dàng giao dịch hàng hóa, dịch vụ.

Các kênh để tăng
trưởng
- Tích lũy vốn
- Đổi mới công nghệ

Tăng trưởng

Hình 2.1: Quá trình tác động của thị trường tài chính tới tăng trưởng
kinh tế (Nguồn: Levine - 1997)
2.4 Các nghiên cứu thực nghiệm
Có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa phát triển thị trường vốn và
tăng trưởng kinh tế. Trong bài nghiên cứu này tác giả giới thiệu một số nghiên
cứu thực nghiệm tiêu biểu làm tài liệu tham khảo chính cho bài nghiên cứu
này.

18

Oke, Michael Ojo. và Adeusi S.O. (2012) nghiên cứu “Tác động của
cải cách thị trường vốn đến tăng trưởng kinh tế: Kinh nghiệm từ Nigerian”
(Impact of capital market reforms on economic growth: The Nigerian
Experience).
Nội dung: Xem xét tác động của phát triển thị trường vốn đến tăng
trưởng kinh tế tại Nigeria giai đoạn năm 1981 đến năm 2010. Cụ thể là tác giả
sử dụng các biến số về vốn hóa thị trường, tổng khối lượng giao dịch, tổng giá
trị giao dịch, chỉ số giá chứng khoán, lạm phát và tăng trưởng kinh tế để tìm ra
bằng chứng thực nghiệm cho nghiên cứu này.
Phương pháp: Tác giả tiến hành kiểm định nghiệm đơn vị theo phương
pháp kiểm định tính dừng ADF. Kiểm định đồng liên kết Johansen để phân
tích dữ liệu chuỗi thời gian. Từ kết quả kiểm định đồng liên kết, tác giả sử
dụng mô hình hiệu chỉnh sai số (ECM) để xác định mức độ tác động trong
ngắn hạn giữa các biến thị trường vốn tới tăng trưởng kinh tế.
Kết quả: Cho thấy việc phát triển thị trường vốn có ảnh hưởng tích cực
đến tăng trưởng kinh tế. Cụ thể là các biến vốn hóa thị trường, khối lượng giao
dịch, giá trị giao dịch, chỉ số giá chứng khoán đều có tác động đến biến tăng
trưởng kinh tế mà đại diện là biến GDP.
F.T.Kolapo và A O. Adaramola (2012) với nghiên cứu “Tác động của
thị trường vốn Nigeria đến tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn từ năm 1990
đến năm 2010” (The impact of the Nigerian Capital market on Economic
Growth (1990-2010)),
Nội dung: Kiểm ta tác động của thị trường vốn Nigeria đến tăng trưởng
kinh tế giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2010. Các biến số được sử dựng để
phân tích gồm: Biến tăng trưởng kinh tế được đại diện bởi Tổng sản phẩm
quốc nội (GDP), các biến đại diện cho thị trường vốn bao gồm: Vốn hóa thị