Tải bản đầy đủ
2 Các nghiên cứu trước đây về mối liên hệ giữa phát triển trung gian tài chính và tăng trưởng kinh tế

2 Các nghiên cứu trước đây về mối liên hệ giữa phát triển trung gian tài chính và tăng trưởng kinh tế

Tải bản đầy đủ

10

của một quốc gia. Một cách tổng quát, các quan điểm trên có thể được phân loại
như sau.
2.2.1 Quan điểm phát triển trung gian tài chính không đóng vai trò quan trọng
trong tăng trưởng kinh tế
Với nhiều lập luận và dẫn chứng khác nhau, các nghiên cứu trong nhóm
quan điểm này xem nhẹ hoặc bỏ qua vai trò của thị trường tài chính đối với tăng
trưởng kinh tế. Đây là những nghiên cứu xuất hiện sớm hơn, so với các nhóm
quan điểm khác được xem xét trong phần này. Một số bài viết đáng chú ý ủng hộ
quan điểm này có thể kể đến như Stiglitz (1993), Stern (1989), Lucas Jr (1988)
và Devereux and Smith (1994).
Hệ thống tài chính, và sự phát triển của hệ thống tài chính đã bị bỏ qua
trong các mô hình phát triển của Lucas Jr (1988) và Stern (1989). Trong mô hình
phát triển kinh tế của mình, cả hai nhà kinh tế này đều đưa vào rất nhiều nguồn
lực sản xuất, bao gồm vốn vật chất, lao động, vốn con người, tiến bộ công nghệ.
Tuy nhiên, các mô hình này đã không đưa vào xem xét ảnh hưởng của hệ thống
tài chính vào sản lượng hay thu nhập của quốc gia. Do đó, có thể thấy rằng, vai
trò của thị trường tài chính trong tăng trưởng kinh tế đã không được đánh giá là
quan trọng.
Trong một nghiên cứu của mình, Stiglitz (1993) tập trung sự chú ý vào
những thất bại của thị trường (market failures) một cách cụ thể cho thị trường tài
chính. Theo đó, Stiglitz (1993) chỉ ra rằng thị trường tài chính mắc phải rất nhiều
dạng thất bại thị trường (chẳng hạn như độc quyền nhóm, thông tin bất cân xứng,
ngoại tác, v.v.). Một khi điều này xảy ra, hệ thống tài chính không thể phân bổ
nguồn lực sản xuất, cụ thể là vốn, một cách hiệu quả. Sản lượng của một nền
kinh tế vì thế bị ảnh hưởng tiêu cực. Có thể thấy rằng, trong trường hợp này,
đóng góp của thị trường tài chính vào tăng trưởng kinh tế là tương đối hạn chế.
Cũng cần nói thêm rằng, Stiglitz (1993) khẳng định rằng vai trò của chính phủ
trong điều tiết thị trường tài chính trong trường hợp này là rất quan trọng đối với
thúc đẩy sản lượng quốc gia.

11

Trong một nghiên cứu khác, Devereux and Smith (1994) tìm hiểu ảnh
hưởng của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế thông qua tác động của
phát triển tài chính đến tiết kiệm. Hai tác giả này nhận định rằng, khi thị trường
tài chính phát triển, cùng với hội nhập tài chính, rủi ro trong đầu tư tài chính
giảm xuống do quá trình chia sẻ rủi ro quốc tế (international risk sharing). Ý
tưởng chính của bài viết này là tỷ lệ tiết kiệm phụ thuộc vào rủi ro thu nhập
(income risk) và rủi ro suất sinh lợi (rate-of-return risk). Đây là mối quan hệ
đồng biến, vì rủi ro càng cao đồng nghĩa với tỷ lệ tiết kiệm càng cao. Devereux
and Smith (1994) lập luận rằng, với một nền kinh tế có thị trường tài chính phát
triển, rủi ro thấp sẽ làm giảm tiết kiệm trong nền kinh tế. Do đó, tăng trưởng kinh
tế của quốc gia sẽ giảm xuống do tác động của việc giảm tiết kiệm.
Tóm lại, một nhóm các nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế đã bác bỏ, hoặc
không công nhận tầm quan trọng những đóng góp của thị trường tài chính đối
với tăng trưởng GDP của các quốc gia. Thị trường tài chính, trong các nghiên
cứu này, bị bỏ qua trong các mô hình tăng trưởng. Hoặc, nếu được nhắc đến, thì
nó mắc phải các thất bại của thị trường, hoặc làm giảm tiết kiệm và qua đó ảnh
hưởng tiêu cực đến tăng trưởng sản phẩm quốc gia. Tuy nhiên, các nghiên cứu
được đề cập trong mục này đều là xuất hiện trong thời gian cách đây khá xa.
Trong những phần tiếp theo, bài viết này sẽ tổng hợp các công trình khoa học
theo xu hướng mới hơn, ủng hộ quan điểm rằng thị trường tài chính có đóng góp
tích cực đến tăng trưởng kinh tế.
2.2.2 Quan điểm phát triển trung gian tài chính tác động tích cực đến sản
lượng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trái ngược với quan điểm của nhóm các nghiên cứu nêu ra ở phần trên,
nhóm các nghiên cứu trong mục này mạnh dạn đưa các biến đo lường phát triển
tài chính vào mô hình tăng trưởng tân cổ điển để xem xét ảnh hưởng của phát
triển tài chính đối với tăng trưởng kinh tế. Các công trình nghiên cứu trong nhóm
này, tiêu biểu như Levine (1997), Beck và Levine (2004) và Khan và Senhadji
(2003), đều ủng hộ quan điểm cho rằng trung gian tài chính có ảnh hưởng đến

12

sản lượng của một quốc gia và hệ thống tài chính phát triển sẽ đóng góp tích cực
vào tăng trưởng sản lượng của quốc gia.
King và Levine (1993) phân tích tăng trưởng kinh tế thông qua mối quan hệ
với bốn chỉ số tài chính bằng phương trình:
Y = kα x
Trong đó: Y là tăng trưởng GDP bình quân đầu người, k là tăng trưởng
vốn vật chất bình quân đầu người, x là biến chỉ các nguồn lực khác.
Lấy logarit từ mô hình trên ta được:
GYP = α.GK + EFF
Nghiên cứu này cho thấy vai trò của ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ
với tăng trưởng GDP thông qua tỷ lệ tương quan tín dụng tư nhân trên GDP và tỷ
lệ tích lũy vốn
Tương tự, Khan và Senhadji (2003) đã nghiên cứu vai trò của phát triển
trung gian tài chính trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong nghiên cứu
này, Khan và Senhadji (2003) đã cập nhật dữ liệu, với dữ liệu bảng từ 159 quốc
gia trong khoảng thời gian 1960-1999. Mô hình được sử dụng là mô hình tăng
trưởng tân cổ điển, được điều chỉnh bởi Mankiw, Romer, và Weil (1992). Trong
mô hình này, tăng trưởng GDP phụ thuộc vào các yếu tố bao gồm
 phát triển tài chính,
 tỷ lệ đầu tư trên GDP,
 tỷ lệ tăng dân số, ngoại thương, và
 thu nhập bình quân đầu người (Khan & Senhadji, 2003).
Một cách tổng quát, bằng những phương pháp mới trong kinh tế lượng và
dữ liệu được cập nhật, các nghiên cứu trong nhóm này ủng hộ nhận định rằng sự
phát triển của trung gian tài chính có tương quan dương một cách có ý nghĩa với

13

sản lượng quốc gia. Hay nói các khác, phát triển tài chính đóng góp tích cực vào
tăng trưởng kinh tế. Trong các nghiên cứu này, các lý thuyết về trung gian tài
chính đã được phát triển với bằng chứng là có nhiều chỉ số khác nhau để đo
lường sự phát triển của trung gian tài chính. Các phương pháp cũng đa dạng hơn
với việc sử dụng nhiều mô hình hồi quy khác nhau. Tuy nhiên, với bất kỳ mô
hình hay chỉ số đo lường nào, mối tương quan giữa phát triển tài chính và tăng
trưởng kinh tế vẫn giữ nguyên.
2.2.3 Quan điểm phát triển trung gian tài chính chỉ tác động đến sản lượng
trong dài hạn nhưng không đóng góp vào tăng trưởng trong ngắn hạn
Trong nhóm quan điểm này, các nhà kinh tế tập trung nhấn mạnh những
ảnh hưởng tích cực của phát triển hệ thống tài chính đối với tăng trưởng kinh tế
trong dài hạn. Bằng nhiều mô hình và phương pháp khác nhau, các nhà nghiên
cứu có cùng một quan điểm rằng phát triển tài chính có vai trò quan trọng đối với
tăng trưởng sản lượng trong dài hạn và qua đó đóng góp vào phát triển kinh tế.
Các công trình nghiên cứu được đề cập trong mục này có thể kể đến như Levine
and Zervos (1996), Levine (1998), Christopoulos and Tsionas (2004) và Ang
(2007).
Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển tài chính trong dài hạn
đã được Levine and Zervos (1996) phân tích thông qua thị trường chứng
khoán,một mảng cụ thể trong hệ thống tài chính. Sử dụng hồi quy dữ liệu chéo
của các quốc gia trên thế giới, Levine and Zervos (1996) đã chỉ ra rằng mối quan
hệ giữa phát triển tài chính, mà cụ thể là thị trường chứng khoán, với tăng trưởng
kinh tế trong dài hạn là mối quan hệ đồng biến và hoàn toàn có ý nghĩa về mặt
thống kê. Do đó, một thị trường chứng khoán phát triển sẽ góp phần vào tăng
trưởng sản lượng trong dài hạn của một quốc gia (Beck & Levine, 2004). Tuy
nhiên, nghiên cứu này lại không chỉ ra được bản chất mối quan hệ giữa hai đại
lượng nói trên. Cụ thể, trong hai yếu tố là tăng trưởng kinh tế và phát triển tài
chính, nghiên cứu nói trên không chỉ ra yếu tố nào tác động lên yếu tố nào, hay
là chiều hướng của mối quan hệ.

14

Cũng nghiên cứu về ảnh hưởng của thị trường tài chính đến tăng trưởng
kinh tế trong dài hạn, nhưng Levine (1998) lại xem xét mối quan hệ này trong
bối cảnh khác. Đó là mối quan hệ giữa môi trường pháp lý, hệ thống ngân hàng
và tăng trưởng kinh tế. Có hai mục tiêu quan trọng cần giải quyết, đó là:
 mối quan hệ giữa môi trường pháp lý và phát triển hệ thống ngân hàng; và
 mối quan hệ giữa hệ thống ngân hàng và tăng trưởng kinh tế (Levine,
1998).
Nghiên cứu này sử dụng ba thước đo của tăng trưởng kinh tế, bao gồm
tăng trưởng sản lượng (output growth), tăng trưởng vốn (capital stock growth)
và tăng trưởng năng suất (productivity growth). Một trong các kết luận quan
trọng được rút ra trong Levine (1998) là sự phát triển của hệ thống ngân hàng
tương quan dương với tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, kết quả này vẫn được giữ
nguyên khi các thước đo khác nhau của tăng trưởng kinh tế (ba thước đo nói
trên) được thay đổi trong mô hình.
Beck, Levine và Loaya (2000) đánh giá tác mối quan hệ thực nghiệm giữa
phát triển trung gian tài chính tới
(i)

tăng trưởng kinh tế,

(ii)

nhân tố năng suất tổng hợp,

(iii)

tích lũy vốn vật chất và

(iv)

tỷ lệ tiết kiệm tư nhân.

Bằng phương pháp sử dụng dữ liệu chéo và dữ liệu bảng, nghiên cứu đã
chỉ ra rằng:
(i) trung gian tài chính tác động tích cực đến nhân tố năng suất tổng hợp,
từ đó tác động tới tăng trưởng GDP;

15

(ii) mối quan hệ dài hạn của phát triển trung gian tài chính và tăng trưởng
vốn vật chất và tỷ lệ tiết kiệm có ý nghĩa rất nhỏ. Phương trình được sử dụng
trong nghiên cứu này:
Yi = α + β Finance + γ’Xi + εi
Trong đó biến Y gồm tăng trưởng, tăng trưởng vốn, tiết kiệm, Finance
gồm biến tín dụng tư nhân, thanh khoản của ngân hàng thương mại và ngân hàng
trung ương, X đại diện cho vector các biến kiểm soát tăng trưởng bao gồm thu
nhập bình quân, năm đi học trung bình, độ mở thương mại, lạm phát, quy mô
chính phủ.
Christopoulos và Tsionas (2004) nghiên cứu tác động của phát triển tài
chính theo chiều sâu (financial depth) đối với tăng trưởng kinh tế trong dài hạn
bằng mô hình:
Y = βo + β1F + β2S + β3p + u
Trong đó: Y là sản lượng đầu ra, F là biến đo lường độ sâu tài chính được đo
bằng tổng thanh khoản tiền gửi trên GDP, S là đầu ra cổ phiếu đầu tư, p là tỷ lệ
lạm phát và sai số u.
Mô hình tăng trưởng tân cổ điển (neoclassical growth model) đã được sử
dụng trong bài viết của Ang (2007) để phân tích mối quan hệ giữa phát triển tài
chính và tăng trưởng sản lượng trong dài hạn của nền kinh tế Malaysia.
Hai mô hình nghiên cứu được sử dụng như sau:

Growth  f A PRK , PUK , LF , PCY 
và Growth  f B PRK , PUK , LF , M 2Y 
Trong đó:

PRK là vốn tư nhân (private capital),
PUK là vốn công cộng (public capital)
M2Y là tỷ lệ tiền khối tiền mở rộng M2 trên GDP,

16

PCY là tỷ lệ tín dụng tư nhân trên GDP,
LF là lực lượng lao động.
T là biến thời gian
Trong mô hình này, Ang (2007) đã sử dụng hai biến giả đại diện cho suy
thoái kinh tế toàn cầu và khủng hoảng tài chính Châu Á. Biến D85-86 = 1 nếu
t=1985 – 1986 và D85-86 = 0 nếu ngược lại. biến D97-98 = 1 nếu t = 1997 –
1998 và D97-98 = 0 nếu ngược lại. Kết quả phân tích dữ liệu chuỗi thời gian cho
thấy rằng những cải thiện trong trung gian tài chính đã góp phần thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế thông qua việc tạo điều kiện ứng dụng phát triển công nghệ (Ang,
2007). Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng những bằng chứng thực nghiệm trong
trường hợp của Malaysia cho thấy rằng, trong ngắn hạn, không có mối quan hệ
giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế.
Một cách tổng quát, bằng nhiều công cụ và dữ liệu cũng như phương pháp
nghiên cứu khác nhau, các nghiên cứu trong nhóm này đều cung cấp bằng chứng
cho nhận định rằng không có mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng
trưởng kinh tế trong ngắn hạn. Tuy nhiên, trong dài hạn, câu chuyện lại hoàn
toàn khác. Sự phát triển của hệ thống tài chính có ảnh hưởng một cách có ý nghĩa
và tích cực đối với tăng trưởng kinh tế. Đóng góp của hệ thống tài chính có thể
thông qua thị trường chứng khoán (Levine & Zervos, 1996), hệ thống ngân hàng
(Levine, 1998) hay hỗ trợ tiến bộ công nghệ Ang (2007), để thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế của một quốc gia. Trong nhóm quan điểm này, các nhà kinh tế tập trung
nhấn mạnh những ảnh hưởng tích cực của phát triển hệ thống tài chính đối với
tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Bằng nhiều mô hình và phương pháp khác
nhau, các nhà nghiên cứu có cùng một quan điểm rằng phát triển tài chính có vai
trò quan trọng đối với tăng trưởng sản lượng trong dài hạn và qua đó đóng góp
vào phát triển kinh tế. Các công trình nghiên cứu được đề cập trong mục này có
thể kể đến như Levine (1998), Christopoulos và Tsionas (2004) và Ang (2007).

17

2.2.4 Quan điểm phát triển trung gian tài chính chỉ tác động đến sản lượng
khi phát triển tài chính đạt dến một mức độ phát triển nhất định
Trong mối quan hệ tương quan giữa phát triển tài chính và tăng trưởng
kinh tế, một số nhà kinh tế học đã chỉ ra rằng khi tài chính đạt đến một mức độ
phát triển nhất định mới có tác động đến tăng trưởng kinh tế. Trong nghiên cứu
của mình, King và Levine (1993) đã chỉ ra tương quan mạnh giữa mức độ phát
triển tài chính, tốc độ tích lũy vốn vật chất và hiệu quả phát triển cao hơn với tốc
độ tăng trưởng kinh tế nhanh hơn.
Bằng nghiên cứu thực nghiệm, Demetriades và Hussein (1996) đã chứng
minh mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế là mối quan hệ
hai chiều.. Trong một số trường hợp quốc gia, mối quan hệ chỉ có tăng trưởng
kinh tế ảnh hưởng đến phát triển tài chính. Nghiên cứu này đã đưa ra bằng chứng
rằng phát triển tài chính không nhất thiết tác động đến tăng trưởng kinh tế.
Theo nghiên cứu thực nghiệm từ 16 quốc gia đang phát triển, kết quả
kiểm tra mối quan hệ nhân quả giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế
biến động qua các quốc gia (Arestis & Demetriades, 1997). Kết quả nghiên cứu
dữ liệu thực tế của 12 quốc gia đưa ra bằng chứng cho thấy mối liên hệ giữa phát
triển tài chính và tăng trưởng bị ảnh hưởng lớn bởi tác động của tính chất và sự
vận hành của các trung gian tài chính và các chính sách mà các quốc gia này theo
đuổi.
2.2.5 Kết quả nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả trên thế giới về mối
quan hệ phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế.
Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy các trung gian tài chính làm giảm chi
phí thu thập thông tin và giảm chi phí giao dịch (Levine, 1997). Trong những
nghiên cứu lý thuyết, tác động của phát triển trung gian tài chính đến tăng trưởng
kinh tế được mô hình hóa một cách nghiêm ngặt, thông qua những kênh ảnh
hưởng khác nhau. Đồng thời, các nghiên cứu thực nghiệm đã nghiêm túc kiểm
tra tính đúng đắn của các mô hình lý thuyết này. Kết quả đã được Levine (1997)
tổng hợp lại rằng giữa phát triển trung gian tài chính và tăng trưởng kinh tế có

18

mối tương quan dương, tương quan này là ổn định và có ý nghĩa thống kê. Điều
này hàm ý rằng sự phát triển của hệ thống tài chính có đóng góp tích cực đến
tăng trưởng sản lượng quốc gia. Các nước với các trung gian tài chính hoạt động
hiệu quả trong việc hé lộ các rào cản thông tin sẽ có một tốc độ tăng trưởng kinh
tế nhanh hơn thông qua nhiều đầu tư hơn các nước kém hiệu quả hơn trong việc
thu thập và xử lý thông tin (Levine, 1997). Bên cạnh đó, các nước khác nhau về
hệ thống luật pháp và tiêu chuẩn kế toán có các mức độ phát triển tài chính khác
nhau. Nghiên cứu cho thấy chế độ kế toán và luật pháp nhấn mạnh quyền của
người đi vay, thực thi hợp đồng và thực hành kế toán sẽ thúc đẩy phát triển tài
chính và gia tăng tốc độ phát triển kinh tế (Levine, Loayza & Beck, 2000).
Khan và Senhadji (2003) đã tìm ra mối tương quan dương có ý nghĩa giữa
phát triển các trung gian tài chính và tăng trưởng kinh tế. Mối tương quan này
xuất hiện ở cả ba chỉ số đo lường phát triển tài chính. Từ đó, nghiên cứu này kết
luận: “chiều sâu trung gian tài chính là một yếu tố quan trọng xác định sự khác
biệt về tăng trưởng kinh tế giữa các quốc gia” (Khan & Senhadji, 2003, p. ii105).
Mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế được nêu ra
trong Levine (1997) bằng cách tổng quan các nghiên cứu của các tác giả khác
trong lĩnh vực này. Theo những nghiên cứu này, trung gian tài chính có các chức
năng quan trọng như tạo cơ chế chuyển đổi rủi ro, phân bổ nguồn vốn, giám sát
quản lý công ty, điều chuyển tiết kiệm và hỗ trợ trao đổi hàng hóa một cách dễ
dàng (Levine, 1997).
Trong một nghiên cứu khác, Beck và Levine (2004) đánh giá một cách cụ
thể tác động của sự phát triển thị trường chứng khoán và sự phát triển của các
ngân hàng, hai thành phần chủ đạo của một hệ thống tài chính, đến sự tăng
trưởng của sản lượng quốc gia. Sự đánh giá riêng lẻ này bắt nguồn từ nhận định
rằng các ngân hàng và thị trường chứng khoán cung cấp các dịch vụ tài chính
khác nhau, và do đó sẽ ảnh hưởng khác nhau đến sản lượng quốc gia (Beck &
Levine, 2004). Khác với những nghiên cứu trước đó, Beck và Levine (2004) sử
dụng hai mô hình hồi quy cho dữ liệu bảng, được tổng hợp từ 40 quốc gia trong

19

thời gian 1976-1998. Kết quả của nghiên cứu cho thấy, cả thị trường chứng
khoán và hệ thống ngân hàng đều ảnh hưởng một cách có ý nghĩa trong cả hai
mô hình hồi quy tăng trưởng kinh tế. Hay nói cách khác, sự phát triển của trung
gian tài chính đóng góp một cách tích cực vào tăng trưởng kinh tế.
Bằng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm dùng bảng động dữ liệu từ 74
quốc qua, Felix và Neven (2003) đã đưa ra nhận định mối liên hệ giữa tài chính
và tăng trưởng biến thiên tùy theo mức độ của phát triển tài chính của quốc gia
đó. Ở các quốc gia có mức độ phát triển tài chính thấp, tiến bộ tăng thêm trong
thị trường tài chính có tác dộng không rõ ràng đến tăng trưởng. Trong các quốc
gia có hệ thống tài chính phát triển ở mức trung bình, phát triển tài chính có tác
động mạnh và tích cực đến tăng trưởng. Cuối cùng, ở các quốc gia có hệ thống
tài chính phát triển ở mức cao, tác động này tích cực nhưng giảm đi (Felix &
Neven, 2003).
Khác với các nghiên cứu trước, vốn chỉ sử dụng dữ liệu chéo (crosssectional data) hoặc dữ liệu chuỗi thời gian (time-series data), Christopoulos và
Tsionas (2004) sử dụng dữ liệu bảng (panel data) từ 10 quốc gia đang phát triển
gồm Colombia, Paraguay, Peru, Mexico, Ecuador, Honduras, Kenya, Thailand,
Comincana và Jamaica từ năm 1970 tới năm 2000 để phân tích mối quan hệ
giữa độ sâu tài chính và tăng trưởng sản lượng. Christopoulos và Tsionas (2004)
kết luận rằng quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế, trong dài
hạn, là mối quan hệ đồng biến và là quan hệ một chiều theo hướng phát triển tài
chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Hơn nữa, kết quả nghiên cứu thực nghiệm
của Christopoulos và Tsionas (2004) còn chỉ ra rằng mối quan hệ trên không
xuất hiện trong ngắn hạn, mà chỉ có ý nghĩa trong dài hạn.

20

2.3 Thực trạng phát triển tài chính và các nghiên cứu về mối liên hệ
giữa trung gian tài chính và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
Theo các nghiên cứu được thực hiện trước đây, tồn tại mối quan hệ giữa
phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam, mối quan hệ này là
tương quan dương và có ý nghĩa thống kê.
Theo Ngô Quang Mỹ Thiên (2012) phát triển tài chính có tác động đến
tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 1995 -2010. Mô hình được sử dụng
trong nghiên cứu này như sau:
Mô hình a: lnGDP =f(PRK, PUK, LF, M2Y)
Mô hình b: lnGDP =f(PRK, PUK, LF, PCY)
Trong đó các biến PRK, PUK, LF, M2Y, PCY lần lượt là vốn tư nhân,
vốn công cộng, lực lượng lao động, tỷ lệ khối tiền mở rộng trên GDP và tỷ lệ tín
dụng cấp cho khu vực tư nhân trên GDP.
Kết quả kiểm định nhân quả Granger và kiểm định mô hình Vector
Autoregression Model cho thấy tồn tại mối quan hệ dài hạn giữa vốn khu vực tư,
vốn khu vực công, lực lượng lao động, tỷ lệ tín dụng tư nhân và tỷ lệ khối tiền tệ
mở rộng và tăng trưởng kinh tế. Bằng chứng thực nghiệm cho thấy phát triển tài
chính có mối quan hệ tích cực với tăng trưởng kinh tế trong dài hạn nhưng không
có tác động trong ngắn hạn (Ngô Quang Mỹ Thiên, 2012).
Cũng cùng mục tiêu nghiên cứu xác định mức độ đóng góp của phát triển
tài chính theo chiều sâu và tăng trưởng kinh tế, tác giả Nguyễn Hải Phương Linh
(2012) sử dụng dữ liệu bảng cho mười quốc gia ở Châu Á trong giai đoạn từ năm
1990 tới năm 2011 cũng đi tới kết luận phát triển tài chính theo chiều sâu có tác
động tích cực đến tăng trưởng. Mô hình được sử dụng trong nghiên cứu này:
lnGDP = b0 + b1M2OFGDP + b2PCOFGDP +b3LnL + b4LNK +
b5EXPENDITURE + b6TRADE + b7INF