Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH

Tải bản đầy đủ

52

Với mục tiêu xác định phát triển tài chính theo chiều sâu có tác động đến
tăng trưởng kinh tế. Kết quả cho thấy hệ số của biến tỷ lệ tín dụng tư nhân trên
GDP và tỷ lệ khối tiền tệ mở rộng trên GDP và dương và có ý nghĩa. Mối liên hệ
đồng biến thông qua việc tăng tỷ lệ tiền tệ trên GDP và tăng tỷ lệ tín dụng tư
nhân trên GDP dẫn đến tăng trưởng kinh tế. Qua đó, tác giả trả lời được hai câu
hỏi nghiên cứu đã nêu ra ở phần mở đầu.
Xét trong tình hình tăng trưởng kinh tế hiện tại của Việt Nam, với hệ
thống tài chính vẫn còn nhiều hạn chế, nghiên cứu chỉ ra rằng khi phát triển tài
chính theo chiều sâu hiệu quả sẽ góp phần tích lũy vốn, phân bổ vốn hiệu quả từ
đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Kết quả này cũng ủng hộ quan điểm của các
nghiên cứu trước chứng minh tồn tại tương quan dương giữa phát triển tài chính
theo chiều sâu và tăng trưởng kinh tế.
Bên cạnh các biến nghiên cứu chính, các biến kiểm soát như lực lượng lao
động, FDI và xuất khẩu của quốc gia cũng đóng góp trong tăng trưởng GDP.
Quốc gia có giá trị xuất khẩu càng cao sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua
cán cân thương mại.
Nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá tác động của phát triển tài chính
đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Nghiên cứu này trả lời câu hỏi rằng phát
triển tài chính có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế hay không. Nghiên
cứu sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian về các chỉ số phát triển kinh tế và các chỉ số
đo lường phát triển tài chính. Phạm vi của nghiên cứu là Việt Nam, một thị
trường tài chính mới chỉ được thành lập và hoạt động trong thời gian ngắn, và
đang nỗ lực để phát triển. Mô hình nghiên cứu, là mô hình tăng trưởng kinh tế,
trong đó phát triển tài chính được đo lường bởi hai chỉ số là (i) tỷ lệ khối tiền tệ
mở rộng M2 trên GDP (M2Y), và (ii) tỷ lệ tín dụng tư nhân trên GDP (PCY).
Các nhân tố khác có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế - chẳng hạn như đầu tư,
xuất khẩu, lạm phát, đầu tư trực tiếp nước ngoài - cũng được bao gồm trong mô
hình. Mô hình này phù hợp với điều kiện về dữ liệu của Việt Nam, do trình độ
phát triển tài chính còn thấp, trong giai đoạn 1995 – 2012. Để đánh giá vai trò

53

của phát triển tài chính đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn
1995 – 2012, nghiên cứu này tiến hành kiểm định các giả thiết về các mối quan
hệ đồng biến giữa tăng trưởng kinh tế và các chỉ số đo lường phát triển tài chính,
tức là M2Y và PCY.
Kết quả của nghiên cứu này cho thấy rằng tăng trưởng tổng sản lượng
quốc nội -GDP- của Việt Nam có mối quan hệ đồng biến với các chỉ số phát triển
tài chính, tức M2Y và PCY, và những mối tương quan này có ý nghĩa về mặt
thống kê. Những mối quan hệ đồng biến này cho phép chấp nhận giả thiết nghiên
cứu, và nhận định rằng có mối quan hệ đồng biến giữa tăng trưởng kinh tế và
phát triển tài chính. Việc chấp nhận các giả thiết nghiên cứu hàm ý rằng phát
triển tài chính thực sự đóng góp một cách có ý nghĩa đến tăng trưởng kinh tế của
Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu.
5.3 Hạn chế của đề tài
Vì nhiều lý do khác nhau, luận văn này còn mắc phải một số nhược điểm
sau. Đầu tiên, luận văn chỉ sử dụng hai chỉ số đo lường độ sâu tài chính, là tỷ lệ
khối tiền rộng M2 và tỷ lệ tín dụng tư nhân trên GDP, để đo lường sự phát triển
tài chính trong điều kiện Việt Nam. Lý do là hệ thống tài chính Việt Nam chưa
phát triển nên việc thu thập dữ liệu cho các chỉ số khác không khả thi. Để đo
lường chính xác mức độ phát triển tài chính, cần có những chỉ số khác, chẳng
hạn chỉ số vốn hóa thị trường chứng khoán, chỉ số thanh khoản của hệ thống
ngân hàng, tầm quan trọng của ngân hàng thương mại đối với ngân hàng trung
ương. Do vậy, sự hạn chế trong thước đo phát triển tài chính có thể đánh giá một
cách chưa đầy đủ tác động của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế.
Thứ hai, tăng trưởng kinh tế trong mô hình nghiên cứu chỉ được đo lường
bằng tổng sản phẩm quốc nội GDP. Do đó, đóng góp của phát triển tài chính chỉ
được xem xét trong khía cạnh tác động của nó đến tăng trưởng sản lượng của nền
kinh tế. Cuối cùng, do hệ thống tài chính của Việt Nam mới hình thành và phát
triển trong thời gian gần đây (từ cuối những năm 1980) và dữ liệu được tổng hợp
hằng năm nên dữ liệu chuỗi thời gian phục vụ nghiên cứu là còn ngắn, và một số

54

biến không có đủ quan sát trong giai đoạn 1995 – 2012. Vì vậy, việc phân tích dữ
liệu với chuỗi thời gian ngắn và thiếu quan sát gặp nhiều khó khăn hơn so với
việc phân tích chuỗi thời gian có nhiều quan sát như trường hợp thông thường.
Thứ ba, nghiên cứu chưa xét đến mối liên hệ nhân quả của từng đại lượng
trong mô hình và tăng trưởng kinh tế, cũng như tác động ngược lại từ tăng
trưởng kinh tế đến các biến kể trên.
Thứ tư, nghiên cứu chưa xét đến độ trễ trong tác động của các yếu tố đến
tăng trưởng kinh tế. Do đặc thù của các chính sách tài chính, tiền tệ và đầu tư
thường có độ trễ từ khi ban hành đến khi có hiệu lực nên tác động của mỗi biến
quan sát được tới tăng trưởng bao hàm trong đó tác động của độ trễ của các năm
trước đó.
Thứ năm, do dữ liệu nghiên cứu chuỗi thời gian của đề tài chỉ thu thập
được trong khoảng thời gian là 18 năm, chưa đủ cho phân tích mô hình dữ liệu
chuỗi do dữ liệu các biến quan sát trước năm 1995 tại Việt Nam không thu thập
được.
5.4 Gợi ý chính sách
Từ những kết quả nghiên cứu đã đạt được, chính sách để theo đuổi mục
tiêu tăng trưởng kinh tế được đề xuất là chính sách hỗ trợ phát triển tài chính.
Đầu tiên, ngân hàng trung ương nên có chính sách tiền tệ thích hợp sao
cho tăng tỷ lệ khối tiền tệ mở rộng trong nền kinh tế. Chính sách tiền tệ mở rộng,
hay chính sách nới lỏng tiền tệ sẽ giúp tăng lượng tiền trong nền kinh tế, qua đó
làm tăng tỷ lệ khối tiền tệ mở rộng M2/GDP. Tuy nhiên, chính sách này thường
dẫn đến lạm phát, một trở ngại cho việc hướng đến bình ổn kinh tế vĩ mô. Một
chính sách thiết thực hơn có thể là cải thiện hoạt động của hệ thống các ngân
hàng thương mại. Vì khối tiền mở rộng M2 có bao gồm tiền gửi ngân hàng (cả
tiền gửi thanh toán lẫn tiền gửi tiết kiệm), nên một hệ thống ngân hàng hoạt động
tốt sẽ có những khoản tiền lớn trong tài khoản và từ đó, tỷ lệ khối tiền tệ mở rộng
sẽ tăng cao, góp phần vào tăng trưởng kinh tế.

55

Bên cạnh đó, chính sách hỗ trợ tăng trưởng tín dụng tư nhân cũng góp
phần vào tăng trưởng kinh tế, như kết quả nghiên cứu đã trình bày. Do vậy, một
hệ thống ngân hàng thương mại hoạt động tốt, như đã nói ở trên cũng sẽ góp
phần thúc đẩy tăng trưởng tín dụng tư nhân, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng thương mại không phải là kênh duy nhất để có
chức năng huy động vốn, cấp tín dụng cho đầu tư tư nhân. Các tổ chức tài chính
phi ngân hàng, các công ty tài chính và thị trường chứng khoán cũng có thể đảm
nhận chức năng huy động vốn và cấp tín dụng phục vụ cho sản xuất. Do đó, cần
có những chính sách hỗ trợ phát triển các tổ chức này, để tạo những nguồn huy
động vốn một cách đa dạng, phục vụ việc cấp tín dụng cho các đơn vị và cá nhân
phát triển sản xuất, góp phần thúc đẩy tăng trưởng tổng sản lượng của nền kinh
tế Việt Nam.
Do rủi ro là bản chất của từng giao dịch tài chính (Levine, 1997) nên việc
công bố thông tin có ảnh hưởng lớn đến các quyết định của nhà đầu tư. Chính
phủ nên có các biện pháp cải thiện chế độ kế toán và quy định các công ty cũng
như các tổ chức tài chính bắt buộc phải cung cấp thông tin chính xác để tránh
cho nhà đầu tư có quyết định sai lầm dẫn đến thiệt hại cho nền kinh tế.
5.5 Hướng nghiên cứu mở rộng
Luận văn này gợi ý ra một số hướng nghiên cứu mở rộng cho các nghiên
cứu cùng lĩnh vực được thực hiện trong tương lai. Thứ nhất, trong điều kiện cho
phép, các nghiên cứu trong tương lai nên đa dạng hóa các chỉ số đo lường phát
triển tài chính và không bị bó hẹp trong phạm vi chỉ gồm các thước đo độ sâu tài
chính. Thứ hai, các nghiên cứu sau này nên xem xét ảnh hưởng của phát triển tài
chính đến GDP bình quân đầu người, một thước đo tốt hơn cho tăng trưởng kinh
tế. Thứ ba, với lập luận rằng GDP hay GDP bình quân đầu người không phản
ánh được một cách đầy đủ phúc lợi của người dân tại một quốc gia, các nghiên
cứu được đề xuất xem xét tác động của phát triển tài chính đến các biến số đo
lường thu nhập quốc dân (GNI) hay GNI bình quân đầu người. Hướng mở rộng
này đề xuất phân tích mối quan hệ giữa phát triển tài chính đến thu nhập hay
phúc lợi của một quốc gia. Thứ tư, do dữ liệu nghiên cứu của đề tài chỉ có 18

56

năm quan sát, chưa đủ dài để thấy được tác động của chiều sâu tài chính đến tăng
trưởng kinh tế, nên hướng nghiên cứu cho các bài viết tiếp theo dùng dữ liệu
chuỗi thời gian định kỳ hàng tháng sẽ đáp ứng được yêu cầu về dữ liệu chuỗi
thời gian. Cuối cùng, các nghiên cứu trong sau này nên sử dụng dữ liệu với
nhiều quan sát hơn để có thể đánh giá tốt hơn mối đóng góp của phát triển tài
chính đến tăng trưởng kinh tế hay phúc lợi xã hội cũng như phân tích độ trễ của
các chính sách này tới tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu một hệ
thống tài chính đầy đủ hơn khi bao hàm thị trường tài chính và cơ sở hạ tầng tài
chính sẽ đánh giá đầy đủ hơn về thực trạng và đóng góp của hệ thống tài chính
vào tăng trưởng tại Việt Nam. Do trong khuôn khổ bài viết này, một số biến đo
lường hệ thống pháp luật và thị trường tài chính chưa thu thập được nên chưa thể
đưa ra nhận định tổng quát hơn về đóng góp của hai yếu tố này đến tăng trưởng
tại Việt Nam.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tiếng Việt
Ngô Quang Mỹ Thiên. (2012). Nghiên cứu mối liên hệ giữa phát triển tài chính
theo chiều sâu và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam. Luận văn Thạc sĩ.
Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.
Nguyễn Hải Phương Linh. (2012). Mối quan hệ của phát triển tài chính theo
chiều sâu và tăng trưởng kinh tế. Luận văn Thạc sĩ. Trường Đại học Kinh
tế Thành phố Hồ Chí Minh.
Nguyễn Đức Mậu. (2012). Tác động của sở hữu chéo đến việc tuân thủ quy định
về đảm bảo an toàn hoạt động của ngân hàng thương mại. Luận văn thạc
sĩ. Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright.
Đinh Xuân Thành (2011). Tác động của hệ thống tài chính nội địa đối với phát
triển kinh tế. Bài đọc chương trình giảng dạy kinh tế Fullbright.
2. Tiếng Anh
Acemoglu, D., Johnson, S., Robinson, J., & Thaicharoen, Y. (2003). Institutional
causes, macroeconomic symptoms: volatility, crises and growth.Journal
of monetary economics, 50(1), 49-123.
Ang, James B. (2007). Financial deepening and economic development in
Malaysia. Economic Papers: A journal of applied economics and policy,
26(3), 249-260.
Arestis, Philip & Demetriades, Panicos. (1997). Financial development an
economic growth: assessing the evidence. Economic Journal, 783-799.
Barro, R. J. (1996). Determinants of economic growth: a cross-country empirical
study (No. w5698). National Bureau of Economic Research.
Barro, R. J. (1996). Inflation and growth. Federal Reserve Bank of St. Louis
Review, 78(May/June 1996).

Beck, Thorsten, & Levine, Ross. (2004). Stock markets, banks, and growth:
Panel evidence. Journal of Banking & Finance, 28(3), 423-442.
Chow, P. C. (1987). Causality between export growth and industrial
development: empirial evidence from the NICs. Journal of development
Economics, 26(1), 55-63.
Christopoulos, Dimitris K, & Tsionas, Efthymios G. (2004). Financial
development and economic growth: evidence from panel unit root and
cointegration tests. Journal of development Economics, 73(1), 55-74.
Devereux, Michael B, & Smith, Gregor W. (1994). International risk sharing and
economic growth. International Economic Review, 535-550.
Dawson, J. W. (1998). Institutions, Investment, and Growth: New Cross‐country
and Panel Data Evidence. Economic Inquiry, 36(4), 603-619.
Demetriades, Panicos O & Hussein Khaled A. (1996). Does financial
development caus economic growth? Time-serie evidence from 16
countries. Journal of Development Economics, 387-411.
Fischer, S. (1983). Inflation and growth.
Khan, Mohsin S, & Senhadji, Abdelhak S. (2003). Financial development and
economic growth: A review and new evidence. Journal of African
Economies, 12(suppl 2), ii89-ii110.
King, Robert G., & Levine, Ross. (1993). Finance, entrepreneurship and growth.
Journal

of

Monetary

Economics,

32(3),

513-542.

doi:

http://dx.doi.org/10.1016/0304-3932(93)90028-E
Levine, Ross. (1997). Financial development and economic growth: views and
agenda. Journal of economic literature, 35(2), 688-726.
Levine, Ross. (1998). The legal environment, banks, and long-run economic
growth. Journal of Money, Credit and Banking, 596-613.