Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Tải bản đầy đủ

5

trong tỷ giá thương mại. Trong phạm vi nghiên cứu của mình, luận văn này tập
trung phân tích tác động của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế với các
lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm được trình bày trong phần tiếp theo.
2.1.2 Trung gian tài chính – tầm quan trọng đối với phát triển kinh tế
Trung gian tài chính (Financial intermediaries) hay còn gọi là các thể chế
tài chính (Financial instituition) cùng với thị trường tài chính, công cụ tài chính
và cơ sở hạ tầng tài chính tạo nên một hệ thống tài chính hoàn chỉnh. Trung gian
tài chính bao gồm ngân hàng trung ương, ngân hàng thương mại, ngân hàng phát
triển và các tổ chức tài chính phi ngân hàng.
Trung gian tài chính là tổ chức có chức năng chính là huy động vốn từ
người tiết kiệm và chuyển lượng vốn này đến các nhà đầu tư. Chức năng của
trung gian tài chính bao gồm: huy động tiết kiệm, đánh giá dự án, quản lý rủi ro,
giám sát và đánh giá các giao dịch tài chính (Schumpeter, 1911).
Thông qua cơ chế hoạt động của mình, các trung gian tài chính góp phần
đánh giá và phân bổ nguồn vốn xã hội cho các dự án mang lại hiệu quả kinh tế từ
đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Hình 2.1 Vai trò của trung gian tài chính
(Nguồn: Nguyễn Xuân Thành, chương trình Fullbright)

6

Quan điểm “phát triền về hệ thống tài chính (development hypothesis) mà
còn được gọi là quan điểm “tự do mới” coi hệ thống tài chính có một tầm quan
trọng đáng kể đối với phát triển kinh tế. Những người theo quan điểm này cho
rằng việc không có một hệ thống tài chính phát triển làm hạn chế tăng trưởng
kinh tế và do vậy, chính sách nhà nước phải hướng tới khuyến khích sự tăng
trưởng của hệ thống tài chính. Quan điểm ngược lại (và có lẽ là quan điểm tương
đối cực đoan) thì lại cho rằng hệ thống tài chính chỉ có một vai trò rất nhỏ trong
quá trình phát triển của các khu vực sản xuất và rằng hệ thống tài chính chẳng
qua là chỉ tạo ra các cơ hội cho khu vực tư nhân kiếm được lợi nhuận hay chịu
thua lỗ. quan điểm “sòng bạc” (casino hypothesis) này về hệ thống tài chính cho
rằng nhà nước hoàn toàn không cần chú ý tới hệ thống tài chính hay thậm chí còn
có thể coi đó là có hại cho tăng trưởng và phân phối thu nhập vì vậy cần kiềm
chế hay quốc hữu hóa. (Đinh Xuân Thành, bài đọc chương trình giảng dạy kinh
tế Fullbright).
Thông qua các dịch vụ của mình, trung gian tài chính đóng vai trò thiết
yếu cho sự đổi mới công nghệ và phát triển kinh tế (Schumpeter, 1911). Phát
triển trung gian tài chính có liên hệ chặt chẽ với tăng trưởng GDP bình quân đầu
người, tỷ lệ tích lũy vốn vật chất, và tăng hiệu quả thu hút vốn vật chất của nền
kinh tế (King & Levine 1993). Trung gian tài chính có tác động tích cực đến
nhân tố năng suất tổng hợp (TFP), tăng trưởng vốn vật chất và tăng tỷ lệ tiết
kiệm tư nhân (Beck, Levine & Loayza 2000).

Hình 2.2 Vai trò của hệ thống tài chính
(Nguồn: Nguyễn Xuân Thành, chương trình Fullbright)

7

2.1.3 Các chỉ số đo lường phát triển tài chính
Một hệ thống tài chính phát triển được đo lường thông qua sự phát triển
của trung gian tài chính hay độ sâu của trung gian tài chính (financial
deepening). Theo King và Levine (1993), độ sâu tài chính được đo lường bằng
các chỉ số như:
 tỷ số tiền thanh khoản của hệ thống tài chính cho nền kinh tế
(M3/GDP-LLY - Liquid Liabilities of the financial system to GDP),
 chỉ số tiền gửi ngân hàng nội địa trên tổng tiền gửi ngân hàng nội địa
và ngân hàng trung ương,
 chỉ số tín dụng phi tài chính khu vực tư nhân trên tổng tín dụng nội
địa, và
 Tỷ lệ tín dụng được cấp cho khu vực tư nhân trên GDP.
 Vai trò của các ngân hàng thương mại với các ngân hàng trung ương
Trong một nghiên cứu khác, Levine (1997) đã đo lường mức độ phát triển tài
chính bằng các chỉ số bao gồm:
 tính thanh khoản của hệ thống tài chính (tiền và thanh khoản của các trung
gian tài chính ngân hàng và phi ngân hàng) trên GDP, DEPTH.
 mức độ phân bổ tín dụng của ngân hàng trung ương và ngân hàng thương
mại (BANK): được đo bằng tỷ lệ của tín dụng ngân hàng trên tín dụng
ngân hàng và tài sản nội địa của ngân hàng trung ương,
 tỷ lệ tín dụng được phân bổ cho các công ty tư nhân trên tổng tín dụng nội
địa (loại trừ tín dụng được cấp cho ngân hàng), PRIVATE.
 tỷ lệ tín dụng cho các công ty tư nhân trên GDP, PRIVY.

8

 Bên cạnh đó, X là ma trận của các biến kiểm soát bao gồm thu nhập bình
quân, học vấn, ổn định chính trị, tỷ giá hối đoái, cán cân thương mại, tài
chính và chính sách tiền tệ.
Khác với hai nghiên cứu đề cập ở trên, các tác giả Beck, Levine và Loayza
(2000) định nghĩa biến tín dụng tư nhân (Private Credit) bằng tín dụng được các
trung gian tài chính cấp cho khu vực tư nhân trên GDP, không bao gồm tín dụng
được cấp bởi ngân hàng trung ương và ngân hàng phát triển.
Khan và Senhadji (2003) đề xuất đo lường phát triển tài chính bằng bốn chỉ
số fd1 là tỷ lệ tín dụng tư nhân trên GDP; fd2 bằng fd1 cộng với tỷ lệ vốn hóa thị
trường chứng khoán trên GDP; fd3 bằng fd2 cộng với tỷ lệ vốn hóa thị trường trái
phiếu trên GDP; và fd4 hay stockc chỉ số vốn hóa thị trường chứng khoán.
Levine (1998) chỉ ra rằng thông qua tác động gián tiếp của hệ thống luật
pháp, các quốc gia có hệ thống luật pháp nhấn mạnh quyền lợi của người cho vay
sẽ có hệ thống ngân hàng phát triển hơn các quốc gia khác, từ đó dẫn đến tỷ lệ tín
dụng tư nhân trên GDP cao hơn so với các quốc gia có hệ thống luật pháp kém
phát triển hơn. Trong mối quan hệ tương quan giữa phát triển tài chính theo
chiều sâu và tăng trưởng kinh tế, ông sử dụng biến BANK để đo lường tỷ lệ tín
dụng của ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác cho khu vực tư
nhân trên GDP.
2.1.4 Các thước đo phát triển kinh tế, nguồn lực phát triển kinh tế
Để kiểm định mối quan hệ thực nghiệm của phát triển trung gian tài chính
theo chiều sâu và tăng trưởng kinh tế, Levine (1997) đã đo lường các chỉ số tăng
trưởng kinh tế như sau:
 Tỷ lệ tăng trưởng trung bình GDP bình quân đầu người.
 Tỷ lệ tăng trưởng trung bình vốn cổ phần bình quân đầu người.

9

 Tăng trưởng tổng năng suất, là phần dư trong mô hình Solow được tính
bằng tăng trưởng GDP bình quân đầu người trừ 0.3 lần tỷ lệ tăng trưởng
trung bình vốn cổ phần bình quân đầu người.
Bên cạnh tăng trưởng GDP bình quân đầu người (GYP), King và Levine
(1993) phân tích tăng trưởng kinh tế thành tăng trưởng vốn vật chất và các yếu tố
khác bằng phương trình:
Y = kα x
Trong đó: Y là tăng trưởng GDP bình quân đầu người, k là tăng trưởng vốn vật
chất bình quân đầu người, x là biến chỉ các nguồn lực khác.
Lấy logarit từ mô hình trên ta được:
GYP = α.GK + EFF
Trong đó: GYP là tăng trưởng GDP bình quân đầu người trong dài hạn, GK là tỷ
lệ tăng trưởng của vốn vật chất bình quân đầu người, EFF được xem như phần
dư – biến hiệu quả, là tỷ lệ tăng trưởng của các yếu tố còn lại bao gồm có tốc độ
tăng trưởng công nghệ, tích lũy vốn vật chất, sự gia tăng giờ làm việc của mỗi
công nhân, sự gia tăng các yếu tố đầu vào.
Bên cạnh đó, Levine (1997) và Levine & Zervos (1998) đã sử dụng các
chỉ số tăng trưởng như sau: tỷ lệ tăng trưởng trung bình của GDP bình quân đầu
người, tỷ lệ trung bình của tăng trưởng vốn chứng khoán bình quân đầu người,
nhân tố năng suất tổng hợp và tổng kiết kiệm tư nhân để do lường tăng trưởng.
2.2 Các nghiên cứu trước đây về mối liên hệ giữa phát triển trung gian tài
chính và tăng trưởng kinh tế
Trong suốt chiều dài tồn tại của trung gian tài chính, các nhà kinh tế đã có
những quan điểm không giống nhau về đóng góp của các trung gian tài chính đối
với tăng trưởng kinh tế. Trong phần này, bài viết tổng hợp các quan điểm của các
nhà nghiên cứu về ảnh hưởng của trung gian tài chính đến tăng trưởng kinh tế

10

của một quốc gia. Một cách tổng quát, các quan điểm trên có thể được phân loại
như sau.
2.2.1 Quan điểm phát triển trung gian tài chính không đóng vai trò quan trọng
trong tăng trưởng kinh tế
Với nhiều lập luận và dẫn chứng khác nhau, các nghiên cứu trong nhóm
quan điểm này xem nhẹ hoặc bỏ qua vai trò của thị trường tài chính đối với tăng
trưởng kinh tế. Đây là những nghiên cứu xuất hiện sớm hơn, so với các nhóm
quan điểm khác được xem xét trong phần này. Một số bài viết đáng chú ý ủng hộ
quan điểm này có thể kể đến như Stiglitz (1993), Stern (1989), Lucas Jr (1988)
và Devereux and Smith (1994).
Hệ thống tài chính, và sự phát triển của hệ thống tài chính đã bị bỏ qua
trong các mô hình phát triển của Lucas Jr (1988) và Stern (1989). Trong mô hình
phát triển kinh tế của mình, cả hai nhà kinh tế này đều đưa vào rất nhiều nguồn
lực sản xuất, bao gồm vốn vật chất, lao động, vốn con người, tiến bộ công nghệ.
Tuy nhiên, các mô hình này đã không đưa vào xem xét ảnh hưởng của hệ thống
tài chính vào sản lượng hay thu nhập của quốc gia. Do đó, có thể thấy rằng, vai
trò của thị trường tài chính trong tăng trưởng kinh tế đã không được đánh giá là
quan trọng.
Trong một nghiên cứu của mình, Stiglitz (1993) tập trung sự chú ý vào
những thất bại của thị trường (market failures) một cách cụ thể cho thị trường tài
chính. Theo đó, Stiglitz (1993) chỉ ra rằng thị trường tài chính mắc phải rất nhiều
dạng thất bại thị trường (chẳng hạn như độc quyền nhóm, thông tin bất cân xứng,
ngoại tác, v.v.). Một khi điều này xảy ra, hệ thống tài chính không thể phân bổ
nguồn lực sản xuất, cụ thể là vốn, một cách hiệu quả. Sản lượng của một nền
kinh tế vì thế bị ảnh hưởng tiêu cực. Có thể thấy rằng, trong trường hợp này,
đóng góp của thị trường tài chính vào tăng trưởng kinh tế là tương đối hạn chế.
Cũng cần nói thêm rằng, Stiglitz (1993) khẳng định rằng vai trò của chính phủ
trong điều tiết thị trường tài chính trong trường hợp này là rất quan trọng đối với
thúc đẩy sản lượng quốc gia.

11

Trong một nghiên cứu khác, Devereux and Smith (1994) tìm hiểu ảnh
hưởng của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế thông qua tác động của
phát triển tài chính đến tiết kiệm. Hai tác giả này nhận định rằng, khi thị trường
tài chính phát triển, cùng với hội nhập tài chính, rủi ro trong đầu tư tài chính
giảm xuống do quá trình chia sẻ rủi ro quốc tế (international risk sharing). Ý
tưởng chính của bài viết này là tỷ lệ tiết kiệm phụ thuộc vào rủi ro thu nhập
(income risk) và rủi ro suất sinh lợi (rate-of-return risk). Đây là mối quan hệ
đồng biến, vì rủi ro càng cao đồng nghĩa với tỷ lệ tiết kiệm càng cao. Devereux
and Smith (1994) lập luận rằng, với một nền kinh tế có thị trường tài chính phát
triển, rủi ro thấp sẽ làm giảm tiết kiệm trong nền kinh tế. Do đó, tăng trưởng kinh
tế của quốc gia sẽ giảm xuống do tác động của việc giảm tiết kiệm.
Tóm lại, một nhóm các nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế đã bác bỏ, hoặc
không công nhận tầm quan trọng những đóng góp của thị trường tài chính đối
với tăng trưởng GDP của các quốc gia. Thị trường tài chính, trong các nghiên
cứu này, bị bỏ qua trong các mô hình tăng trưởng. Hoặc, nếu được nhắc đến, thì
nó mắc phải các thất bại của thị trường, hoặc làm giảm tiết kiệm và qua đó ảnh
hưởng tiêu cực đến tăng trưởng sản phẩm quốc gia. Tuy nhiên, các nghiên cứu
được đề cập trong mục này đều là xuất hiện trong thời gian cách đây khá xa.
Trong những phần tiếp theo, bài viết này sẽ tổng hợp các công trình khoa học
theo xu hướng mới hơn, ủng hộ quan điểm rằng thị trường tài chính có đóng góp
tích cực đến tăng trưởng kinh tế.
2.2.2 Quan điểm phát triển trung gian tài chính tác động tích cực đến sản
lượng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trái ngược với quan điểm của nhóm các nghiên cứu nêu ra ở phần trên,
nhóm các nghiên cứu trong mục này mạnh dạn đưa các biến đo lường phát triển
tài chính vào mô hình tăng trưởng tân cổ điển để xem xét ảnh hưởng của phát
triển tài chính đối với tăng trưởng kinh tế. Các công trình nghiên cứu trong nhóm
này, tiêu biểu như Levine (1997), Beck và Levine (2004) và Khan và Senhadji
(2003), đều ủng hộ quan điểm cho rằng trung gian tài chính có ảnh hưởng đến

12

sản lượng của một quốc gia và hệ thống tài chính phát triển sẽ đóng góp tích cực
vào tăng trưởng sản lượng của quốc gia.
King và Levine (1993) phân tích tăng trưởng kinh tế thông qua mối quan hệ
với bốn chỉ số tài chính bằng phương trình:
Y = kα x
Trong đó: Y là tăng trưởng GDP bình quân đầu người, k là tăng trưởng
vốn vật chất bình quân đầu người, x là biến chỉ các nguồn lực khác.
Lấy logarit từ mô hình trên ta được:
GYP = α.GK + EFF
Nghiên cứu này cho thấy vai trò của ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ
với tăng trưởng GDP thông qua tỷ lệ tương quan tín dụng tư nhân trên GDP và tỷ
lệ tích lũy vốn
Tương tự, Khan và Senhadji (2003) đã nghiên cứu vai trò của phát triển
trung gian tài chính trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong nghiên cứu
này, Khan và Senhadji (2003) đã cập nhật dữ liệu, với dữ liệu bảng từ 159 quốc
gia trong khoảng thời gian 1960-1999. Mô hình được sử dụng là mô hình tăng
trưởng tân cổ điển, được điều chỉnh bởi Mankiw, Romer, và Weil (1992). Trong
mô hình này, tăng trưởng GDP phụ thuộc vào các yếu tố bao gồm
 phát triển tài chính,
 tỷ lệ đầu tư trên GDP,
 tỷ lệ tăng dân số, ngoại thương, và
 thu nhập bình quân đầu người (Khan & Senhadji, 2003).
Một cách tổng quát, bằng những phương pháp mới trong kinh tế lượng và
dữ liệu được cập nhật, các nghiên cứu trong nhóm này ủng hộ nhận định rằng sự
phát triển của trung gian tài chính có tương quan dương một cách có ý nghĩa với

13

sản lượng quốc gia. Hay nói các khác, phát triển tài chính đóng góp tích cực vào
tăng trưởng kinh tế. Trong các nghiên cứu này, các lý thuyết về trung gian tài
chính đã được phát triển với bằng chứng là có nhiều chỉ số khác nhau để đo
lường sự phát triển của trung gian tài chính. Các phương pháp cũng đa dạng hơn
với việc sử dụng nhiều mô hình hồi quy khác nhau. Tuy nhiên, với bất kỳ mô
hình hay chỉ số đo lường nào, mối tương quan giữa phát triển tài chính và tăng
trưởng kinh tế vẫn giữ nguyên.
2.2.3 Quan điểm phát triển trung gian tài chính chỉ tác động đến sản lượng
trong dài hạn nhưng không đóng góp vào tăng trưởng trong ngắn hạn
Trong nhóm quan điểm này, các nhà kinh tế tập trung nhấn mạnh những
ảnh hưởng tích cực của phát triển hệ thống tài chính đối với tăng trưởng kinh tế
trong dài hạn. Bằng nhiều mô hình và phương pháp khác nhau, các nhà nghiên
cứu có cùng một quan điểm rằng phát triển tài chính có vai trò quan trọng đối với
tăng trưởng sản lượng trong dài hạn và qua đó đóng góp vào phát triển kinh tế.
Các công trình nghiên cứu được đề cập trong mục này có thể kể đến như Levine
and Zervos (1996), Levine (1998), Christopoulos and Tsionas (2004) và Ang
(2007).
Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển tài chính trong dài hạn
đã được Levine and Zervos (1996) phân tích thông qua thị trường chứng
khoán,một mảng cụ thể trong hệ thống tài chính. Sử dụng hồi quy dữ liệu chéo
của các quốc gia trên thế giới, Levine and Zervos (1996) đã chỉ ra rằng mối quan
hệ giữa phát triển tài chính, mà cụ thể là thị trường chứng khoán, với tăng trưởng
kinh tế trong dài hạn là mối quan hệ đồng biến và hoàn toàn có ý nghĩa về mặt
thống kê. Do đó, một thị trường chứng khoán phát triển sẽ góp phần vào tăng
trưởng sản lượng trong dài hạn của một quốc gia (Beck & Levine, 2004). Tuy
nhiên, nghiên cứu này lại không chỉ ra được bản chất mối quan hệ giữa hai đại
lượng nói trên. Cụ thể, trong hai yếu tố là tăng trưởng kinh tế và phát triển tài
chính, nghiên cứu nói trên không chỉ ra yếu tố nào tác động lên yếu tố nào, hay
là chiều hướng của mối quan hệ.

14

Cũng nghiên cứu về ảnh hưởng của thị trường tài chính đến tăng trưởng
kinh tế trong dài hạn, nhưng Levine (1998) lại xem xét mối quan hệ này trong
bối cảnh khác. Đó là mối quan hệ giữa môi trường pháp lý, hệ thống ngân hàng
và tăng trưởng kinh tế. Có hai mục tiêu quan trọng cần giải quyết, đó là:
 mối quan hệ giữa môi trường pháp lý và phát triển hệ thống ngân hàng; và
 mối quan hệ giữa hệ thống ngân hàng và tăng trưởng kinh tế (Levine,
1998).
Nghiên cứu này sử dụng ba thước đo của tăng trưởng kinh tế, bao gồm
tăng trưởng sản lượng (output growth), tăng trưởng vốn (capital stock growth)
và tăng trưởng năng suất (productivity growth). Một trong các kết luận quan
trọng được rút ra trong Levine (1998) là sự phát triển của hệ thống ngân hàng
tương quan dương với tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, kết quả này vẫn được giữ
nguyên khi các thước đo khác nhau của tăng trưởng kinh tế (ba thước đo nói
trên) được thay đổi trong mô hình.
Beck, Levine và Loaya (2000) đánh giá tác mối quan hệ thực nghiệm giữa
phát triển trung gian tài chính tới
(i)

tăng trưởng kinh tế,

(ii)

nhân tố năng suất tổng hợp,

(iii)

tích lũy vốn vật chất và

(iv)

tỷ lệ tiết kiệm tư nhân.

Bằng phương pháp sử dụng dữ liệu chéo và dữ liệu bảng, nghiên cứu đã
chỉ ra rằng:
(i) trung gian tài chính tác động tích cực đến nhân tố năng suất tổng hợp,
từ đó tác động tới tăng trưởng GDP;

15

(ii) mối quan hệ dài hạn của phát triển trung gian tài chính và tăng trưởng
vốn vật chất và tỷ lệ tiết kiệm có ý nghĩa rất nhỏ. Phương trình được sử dụng
trong nghiên cứu này:
Yi = α + β Finance + γ’Xi + εi
Trong đó biến Y gồm tăng trưởng, tăng trưởng vốn, tiết kiệm, Finance
gồm biến tín dụng tư nhân, thanh khoản của ngân hàng thương mại và ngân hàng
trung ương, X đại diện cho vector các biến kiểm soát tăng trưởng bao gồm thu
nhập bình quân, năm đi học trung bình, độ mở thương mại, lạm phát, quy mô
chính phủ.
Christopoulos và Tsionas (2004) nghiên cứu tác động của phát triển tài
chính theo chiều sâu (financial depth) đối với tăng trưởng kinh tế trong dài hạn
bằng mô hình:
Y = βo + β1F + β2S + β3p + u
Trong đó: Y là sản lượng đầu ra, F là biến đo lường độ sâu tài chính được đo
bằng tổng thanh khoản tiền gửi trên GDP, S là đầu ra cổ phiếu đầu tư, p là tỷ lệ
lạm phát và sai số u.
Mô hình tăng trưởng tân cổ điển (neoclassical growth model) đã được sử
dụng trong bài viết của Ang (2007) để phân tích mối quan hệ giữa phát triển tài
chính và tăng trưởng sản lượng trong dài hạn của nền kinh tế Malaysia.
Hai mô hình nghiên cứu được sử dụng như sau:

Growth  f A PRK , PUK , LF , PCY 
và Growth  f B PRK , PUK , LF , M 2Y 
Trong đó:

PRK là vốn tư nhân (private capital),
PUK là vốn công cộng (public capital)
M2Y là tỷ lệ tiền khối tiền mở rộng M2 trên GDP,