Tải bản đầy đủ
2 Các nghiên cứu thực nghiệm về truyền dẫn tỷ giá

2 Các nghiên cứu thực nghiệm về truyền dẫn tỷ giá

Tải bản đầy đủ

12

sử dụng một kỹ thuật ước lượng OLS mà nó không tính đến thuộc tính của chuỗi
thời gian, ví dụ như thuộc tính không dừng của dữ liệu.
Trong những năm qua (nghĩa là sau Menon, 1995) có một số nghiên cứu thực
nghiệm về truyền dẫn tỷ giá đã cố gắng cải thiện thiếu sót của những nghiên cứu
trước đó. Một nghiên cứu toàn diện là McCarthy (2000), ông nghiên cứu truyền dẫn
tỷ giá trên mức độ tổng thể đối với những nền kinh tế công nghiệp. Ông sử dụng mô
hình VAR để ước lượng giá nhập khẩu, giá sản xuất và giá tiêu dùng trong thời kỳ
1976 – 1998 và tìm thấy rằng sự truyền dẫn của những thay đổi tỷ giá đến giá tiêu
dùng là khiêm tốn ở hầu hết các quốc gia được phân tích. Tiếp theo là nghiên cứu
của Felix P.Hufner và Michael Schroder (2002), đã làm theo tinh thần của
McCarthy (2000) và sử dụng phân tích đồng liên kết và mô hình VECM để nắm bắt
thuộc tính không dừng của một vài biến. Nghiên cứu này tập trung vào số liệu tổng
thể chứ không phải một ngành công nghiệp hay một số sản phẩm nhất định, chủ yếu
quan tâm đến tác động tổng thể của thay đổi tỷ giá đến giá tiêu dùng, một vấn đề có
liên quan nhất đến chính sách tiền tệ.
Đây là một nghiên cứu ở thị trường Châu Âu, “tác động của sự truyền dẫn tỷ
giá đến giá tiêu dùng ở thị trường Châu Âu (Exchange Rate Pass-Through to
Consumer Prices: A European Perspective)”. Hai ông phân tích ERPT ở sự thay đổi
trong giá đồng nội tệ từ sự biến động tỷ giá, điển hình là giá tiêu dùng ở khu vực
Châu Âu. Những ước lượng đầu tiên của nhóm tác giả về hệ số truyền dẫn ở một số
quốc gia cụ thể là 5 quốc gia lớn ở khu vực Châu Âu (Đức, Pháp, Italia, Tây Ban
Nha và Hà Lan) sử dụng dữ liệu trong thời kỳ 20 năm. Theo đó các tác giả xây
dựng bình quân gia quyền của những hệ số này sử dụng tầm quan trọng của mỗi
nước trong chỉ số HICP (Harmonized Index of Consumer Prices). Bài nghiên cứu
sử dụng mô hình VECM (Vector Error Correction Models) để nắm bắt thuộc tính
không dừng của hầu hết các biến sử dụng và mối tương quan đồng liên kết giữa
chúng. Ngoài ra, khi phần lớn học thuyết trước thời điểm này tập trung vào câu hỏi

13

tại sao có truyền dẫn không hoàn toàn đến giá nhập khẩu thì các tác giả lại tiến hành
đo lường những ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng.
Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ 1981 đến 2001 và bao gồm các biến chỉ số tỷ
giá hiệu lực quốc gia, lãi suất ngắn hạn, chênh lệch giữa sản lượng thực tế và sản
lượng tiềm năng (output gap), giá dầu và ba mức giá của chuỗi phân phối: giá nhập
khẩu, giá sản xuất, giá tiêu dùng. Sau khi làm một số kiểm nghiệm cơ bản, các tác
giả đã tìm thấy mối quan hệ đồng liên kết giữa các biến cho mỗi quốc gia trong
mẫu. Do đó, tác giả ước lượng VECM cho 5 quốc gia với hàm phản ứng xung nhằm
lượng hóa tác động cú sốc tỷ giá đến giá tiêu dùng.
Đối với kết quả cụ thể của các quốc gia các tác giả nhận thấy rằng Hàn Lan có
sự truyền dẫn tỷ giá đến giá tiêu dùng nhanh nhất (đạt mức 0.12 chỉ sau 6 tháng),
nhưng tác động lâu dài nhất là Ý, Pháp. Hệ số truyền dẫn là tỷ trọng mà sự thay đổi
tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến giá tiêu dùng, dao động từ 7% (pháp) đến 12% (Ý)
sau một năm. Sau 2 năm, hệ số từ 8% (Tây Ban Nha) đến 18% (Ý). Như kỳ vọng,
quy mô truyền dẫn suy giảm theo chuỗi phân phối với ảnh hưởng lớn nhất xảy ra ở
giá nhập khẩu.
Bảng 1 :Phản ứng của giá tiêu dùng CPI với 1% cú sốc tỷ giá

Bằng cách tính toán và phân tích sự khác nhau giữa mỗi quốc gia, tác giả thu
dược dãy liên quan về độ lớn tác động của tỷ giá theo các nước để giải thích cho sự
thay đổi giá. Phần lớn nhất của thay đổi giá nhập khẩu giải thích bởi thay đổi tỷ giá

14

được tìm thấy ở Đức, Hà Lan và Pháp. Tác động đến giá sản xuất liên quan phần
lớn ở Hà Lan, Tây Ban Nha và Đức còn Hà Lan và Pháp biểu thị tác động mạnh
nhất đến giá tiêu dùng. Cuối cùng các tác giả giải thích sự tác động mạnh hơn ở Hà
Lan là bởi phần nhập khẩu của quốc gia này là lớn nhất trong 5 nước nghiên cứu.
Kết quả chỉ ra rằng tỷ giá khu vực Châu Âu có tác động đến giá tiêu dùng ở khu vực
này và do đó những người điều hành chính sách cần lưu tâm tới vấn đề này.
Đối với Việt Nam, Nguyễn Thị Ngọc Trang (2012) đã nghiên cứu sự chuyển
dịch tỷ giá hối đoái vào các mức giá tại Việt Nam. Tác giả sử dụng phương pháp
đồng liên kết Johansen, mô hình véc tơ điều chỉnh sai số và mô hình véc tơ tự hồi
quy để nghiên cứu về sự chuyển dịch tỷ giá hối đối vào các mức giá ở VN trong dài
hạn. Cụ thể là tác giả đã khảo sát tác động chuyển dịch tỷ giá hối đoái danh nghĩa
có hiệu lực đến chỉ số giá nhập khẩu, chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá tiêu dùng ở
Việt Nam. Ngoài ra tác giả cũng xem xét tác động bất cân xứng của tỷ giá hối đoái
danh nghĩa có hiệu lực đến chỉ số giá nhập khẩu. Kết quả kiểm định cho thấy (1) Sự
chuyển dịch từ tỷ giá hối đoái danh nghĩa có hiệu lực đến chỉ số giá sản xuất là hoàn
toàn trong dài hạn. (2) Kết quả ước lượng cũng cho thấy tác động của chi phí sản
xuất của nhà xuất khẩu nước ngoài cũng được chuyển dịch hoàn toàn vào chỉ số giá
nhập khẩu trong dài hạn. (3) Bài viết cũng phát hiện rằng không có sự chuyển dịch
bất cân xứng từ tỷ giá hối đoái danh nghĩa có hiệu lực đến chỉ số giá nhập khẩu khi
có sự biến động lớn và biến động nhỏ trong tỷ giá hối đoái. (4) Sự chuyển dịch từ tỷ
giá hối đoái danh nghĩa có hiệu lực đến chỉ số giá nhập khẩu là lớn nhất, sau đó đến
chỉ số giá sản xuất và cuối cùng là chỉ số giá tiêu dùng. (5) Phân tách phương sai
cho thấy chỉ số giá sản xuất tác động đến chỉ số giá tiêu dùng lớn nhất (36% –
38%).
+ Nghiên cứu truyền dẫn tỷ giá đến các mức giá trong các mô hình nền
kinh tế vĩ mô mở mới nỗi khác nhau dựa vào mô hình VAR.
Cho đến năm 2005 đã có sự quan tâm trở lại của những hiểu biết về sự truyền
dẫn tỷ giá hối đoái như thế nào đến các mức giá, một vấn đề được rất nhiều sự quan

15

tâm là thay đổi tỷ giá có tác động rất thấp đến giá tiêu dùng. Đã có một vài lý thuyết
xuất hiện để giải thích vấn đề này, trong đó một nhánh lý thuyết giả định rằng giá
nhập khẩu trong mỗi thị trường là cứng nhắc tạm thời theo đồng tiền trong nước, sự
cứng nhắc này có thể do chi phí giao dịch của thay đổi tỷ giá đến giá tiêu dùng
trong ngắn hạn. Trong khi một nhánh lý thuyết khác cho rằng các mức giá cứng
nhắc theo đồng tiền của nhà sản xuất, mà nhà nhập khẩu xem xét những hàng hóa
trung gian trong quy trình sản xuất và phân phối trước khi chúng được tiêu thụ bởi
hộ gia đình. Việc sản xuất hay phân phối hàng hóa có thể làm giảm tác động của
thay đổi tỷ giá lên giá tiêu dùng thông qua quy trình sản xuất và phân phối trước khi
chúng được tiêu thụ bởi hộ gia đình.
Lúc bấy giờ, một câu hỏi đặt ra liệu rằng có hay không các mức giá được thiết
lập theo đồng tiền trong nước và nhà sản xuất hàm ý một chính sách quan trọng. Mô
hình dựa vào định giá đồng tiền nhà sản xuất (PCP) ủng hộ quan điểm tỷ giá linh
hoạt trong khi mô hình định giá đồng tiền địa phương (LCP) ủng hộ quan điểm tỷ
giá cố định. Khả năng các mô hình kinh tế có lồng ghép LCP và PCP tương thích
với bằng chứng thực nghiệm về truyền dẫn tỷ giá đến các giá khác nhau không được
nghiên cứu đầy đủ. Năm 2005, Choudhri, E.U., Faruqee, H., Hakura, D.S., 2005 đã
có một nghiên cứu tương đối hoàn chỉnh về hiệu quả của các mô hình kinh tế vĩ mô
mở mới nổi trong việc giải thích truyền dẫn tỷ giá đến một loạt các mức giá. Các
phiên bản định lượng của những mô hình kinh tế vĩ mô khác nhau được sử dụng để
thu được phản ứng năng động của một loạt các mức giá khác nhau đối với cú sốc tỷ
giá. Các phản ứng dự báo từ các mô hình vĩ mô khác nhau này được so sánh với
bằng chứng thực nghiệm dựa vào mô hình VAR để kiểm tra xem các mô hình kinh
tế vĩ mô khác nhau phù hợp tốt như thế nào với dữ liệu. Với mục đích này,
Choudhri và cộng sự đã phát triển mô hình kinh tế nhỏ lồng ghép LCP và PCP, và
kết hợp một vài đặc tính khác của đơn giá tiền lương và chi phí phân phối. Mô hình
giả định hai hàng hóa khác nhau, một là hàng hóa tiêu dùng cuối cùng được giao
dịch quốc tế và một là phi giao dịch, và một yếu tố quan trọng khác đó là lao động.
Cấu trúc đơn giản này làm tăng đến 5 chỉ số giá cho một nền kinh tế: chỉ số giá tiêu

16

dùng, chỉ số giá xuất khẩu và sản xuất, chỉ số giá nhập khẩu và giá tiền lương. Các
phiên bản mô hình định lượng được sử dụng để rút ra phản ứng của 5 mức giá từ
một cú sốc tỷ giá, các mô hình được cho như bảng sau.
Bảng 2: So sánh các mô hình kinh tế vĩ mô khác nhau
Mô hình

Hành vi định giá

Giá cả hàng hóa

Tiền lương

Chi phí phân phối

Mô hình 1

LCP

Cứng nhắc

Linh hoạt

Không

Mô hình 2

LCP

Cứng nhắc

Cứng nhắc

Không

Mô hình 3

LCP

Cứng nhắc

Cứng nhắc



Mô hình 4

Linh hoạt

Cứng nhắc

Không

Mô hình 5

Linh hoạt

Cứng nhắc



Mô hình 6

PCP

Cứng nhắc

Cứng nhắc



Mô hình 7

Kết hợp

Cứng nhắc

Linh hoạt



Mô hình 8

Kết hợp

Cứng nhắc

Cứng nhắc



Nguồn: Choudhri, E.U., Faruqee, H., Hakura, D.S., 2005
Phản ứng dự báo từ các mô hình vĩ mô khác nhau được so sánh với bằng chứng
về những cú sốc truyền dẫn tỷ giá để kiểm tra xem các biến khác nhau phù hợp tốt
với dữ liệu như thế nào. Bằng chứng về những cú sốc truyền dẫn tỷ giá tác động đến
những mức giá khác nhau dựa vào hàm phản ứng xung xuất phát từ mô hình VAR.
Nhóm tác giả đã cung cấp những bằng chứng về ERPT đến các mức giá ở nhóm
quốc gia G7 ngoại trừ Mỹ, dựa vào hàm phản ứng đẩy từ mô hình VAR. Sử dụng
dữ liệu của 7 biến nội sinh và hai biến ngoại sinh. Các biến nội sinh bao gồm: lãi
suất, tỷ giá, chỉ số giá nhập khẩu, chỉ số giá xuất khẩu, chỉ số giá sản xuất, chỉ số giá
tiêu dùng, và tỷ lệ tiền lương. Các biến ngoại sinh là lãi xuất nước ngoài và chỉ số
tiêu dùng nước ngoài. Chuỗi dữ liệu theo quý được điều chỉnh tính mùa vụ, thời
gian mẫu từ 1979:1 đến 2001:3. Mục tiêu của họ là tìm kiếm bằng chứng sự tác
động của các cú sốc tỷ giá đối với các mức giá theo thời gian là như thế nào, do đó
họ xác định tất cả cấu trúc khác nhau của mô hình VAR, nhưng họ cũng dựa vào
những giả định phù hợp với khuôn khổ lý thuyết để áp đặt các ràng buộc tối thiểu
đủ để xác định phản ứng năng động của mỗi biến đối với cú sốc tỷ giá.

17

Mô hình VAR với bốn độ trễ cho cả biến nội sinh và ngoại sinh được sử dụng
để ước lượng cho mỗi quốc gia trong mẫu. Kết quả cho thấy phản ứng của giá nhập
khẩu đối với cú sốc tỷ giá là khác biệt so với các biến còn lại, tác động của cú sốc tỷ
giá đến giá nhập khẩu gắn chặt từ giữ quý đầu tiên, sự tác động gia tăng đến quý 4
nhưng sau đó sụt giảm nhanh chóng. Các cú sốc tỷ giá có tác động rất ít trong giá
tiêu dùng và sản xuất cũng như tiền lương. Sự phản ứng của các biến, đặc biệt là giá
tiêu dùng và sản xuất, gia tăng theo thời gian nhưng ở mức vừa phải. Tác động của
một đơn vị cú sốc tỷ giá lên giá tiêu dùng sau 10 quý là 0,2.
Hình 2 : Phản ứng của các mức giá khác nhau từ một cú sốc tỷ giá: Tính Bình
quân của các quốc gia G7 ngoại trừ Mỹ.

Nguồn: Choudhri, E.U., Faruqee, H., Hakura, D.S., 2005
Để đánh giá hiệu quả của mỗi mô hình kinh tế vĩ mô khác nhau, Choudhri cùng
cộng sự thiết lập một hàm số để đo lường sự phù hợp của mỗi mô hình với dữ liệu
VAR. Kết quả cho thấy những mô hình dựa vào LCP có thể dự báo phản ứng của
các mức giá trong nước (tiêu dùng và sản xuất) và tiền lương cũng với điều kiện
những mô hình này được mở rộng để bao gồm các chi phí phân phối đối với hàng

18

nhập khẩu. Thực tế, một mô hình kinh tế lồng ghép LCP và chi phí phân phối là phù
hợp hơn với số liệu mô hình VAR so với mô hình PCP. Tuy nhiên, cả LCP và PCP
đều thể hiện sự phù hợp của phản ứng giá nhập khẩu và xuất khẩu với bằng chứng
từ mô hình VAR. Mô hình tiền lương cứng nhắc tốt nhỉnh hơn so với mô hình tiền
lương linh hoạt. Do đó mô hình kinh tế vĩ mô phù hợp nhất không chỉ giả định giá
cả hàng hóa cứng nhắc với một sự kết hợp của LCP và PCP, mà còn kết hợp tiền
lương cứng nhắc và các chi phí phân phối đối với hàng nhập khẩu.
Ở Việt Nam cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu ERPT bằng phương pháp
VAR và VAR cấu trúc. Trong đó, Tác giả Võ Văn Minh (2009) đã sử dụng mô hình
VAR để tính toán mức độ tác động của tỷ giá hối đoái lên IMP và tỷ lệ lạm phát
trong nước với dữ liệu nghiên cứu từ tháng 01 năm 2001 đến tháng 02 năm 2007.
Kết quả định lượng cho thấy mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối vào chỉ số IMP sau 6
tháng là 1.04 và sau 1 năm là 0.21. Tuy nhiên mức độ truyền dẫn đến CPI trong 4
tháng đầu là âm và mức tác động tích lũy trong 1 năm sau chỉ là 0.13 – thấp hơn
nhiều so với các nước trong khu vực. Do những tác động thấp này mà tác giả
khuyến nghị Chính phủ nên áp dụng một chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn với
biên độ biến động lớn hơn. Tuy nhiên nghiên cứu này có hai điểm hạn chế: thứ nhất
là chưa sử dụng chỉ số giá sản xuất PPI trong quá trình ước lượng, thứ hai là tác giả
chưa có được nguồn số liệu về IMP chính thức mà tiến hành tự tính toán lại thông
qua chỉ số giá xuất khẩu của các quốc gia có tỷ lệ giao thương lớn với Việt Nam.
Một nghiên cứu toàn diện hơn, Bạch Thị Phương Thảo (2011) nghiên cứu
“Truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào các chỉ số giá tại Việt Nam giai đoạn 2001 – 2011”.
Tác giả sử dụng mô hình VAR đệ qui với 2 ứng dụng là hàm phản ứng đẩy để xem
xét tác động của cú sốc tỷ giá đến các chỉ số giá trong nước và phân rã phương sai
để đo lường vai trò của từng cú sốc đến sự biến động của các chỉ số giá.
Bài viết đã khái quát được những kiến thức nền tảng nhất về vấn đề truyền dẫn
tỷ giá hối đoái, ngoài ra tác giả còn cung cấp cho người đọc những biến động tỷ giá
hối đoái, các chỉ số giá IMP, PPI, CPI và lạm phát của Việt Nam trong thời kì từ

19

2001 đến 2011. Tác giả đã nêu ra một vài nguyên nhân có khả năng gây ảnh hưởng
đến mức độ lạm phát cao ở Việt Nam và rút ra một số kết luận: (1) Quyền số cao
của lương thực thực phẩm trong rổ hàng hóa tính CPI của Việt Nam không phải là
nguyên nhân cơ bản gây nên lạm phát bởi một số quốc gia khác trong khu vực cũng
có quyền số lương thực thực phẩm cao như Thái Lan (36.06%), Philippin (45,58%),
Ấn Độ (48.47%) nhưng mức độ lạm phát ở các quốc gia này vẫn thấp hơn nhiều so
với Việt Nam. (2) Ý kiến cho rằng lạm phát cao là do biến động giá hàng hóa của
thế giới cũng không được chấp nhận vì nhiều quốc gia khác cũng ở tình trạng nhập
siêu như Việt Nam nhưng không phải chịu một mức lạm phát cao. (3) Cung tiền
tăng nhanh trong những năm qua chính là một trong những nguyên nhân quan trọng
gây nên mức độ lạm phát cao. (4) Đầu tư không hiệu quả cũng được xem là một
nguyên nhân của lạm phát. (5) Kỳ vọng lạm phát quá cao của người dân Việt Nam
cùng với tình trạng tham nhũng cao cũng được tác giả xem xét như những yếu tố
đóng góp vào tình trạng lạm phát cao của Việt Nam.
2.2.2 Một số nghiên cứu có liên quan đến quan hệ giữa ERPT và lạm phát
+ Nghiên cứu về sự bất cân xứng của truyền dẫn tỷ giá vào lạm phát.
Phần lớn những nghiên cứu về truyền dẫn tỷ giá trong thập niên 2000 đều kết
luận rằng quan hệ truyền dẫn và lạm phát là ổn định theo thời gian. Tuy nhiên, quan
điểm này ngày càng bị thách thức, đặc biệt đối với những quốc gia áp dụng lạm
phát mục tiêu dường như đã làm giảm lạm phát. Cùng thời điểm này, một vài
nghiên cứu cũng tìm thấy rằng truyền dẫn có mức độ khác nhau khi xem xét sự tăng
giá và giảm giá, nghĩa là truyền dẫn là bất cân xứng. Taylor (2000) đã cho rằng sự
sụt giảm của truyền dẫn tỷ giá có liên quan đến môi trường lạm phát thấp.
Bài báo của Taylor (2000) kiểm tra khả năng lạm phát thấp và ổn định là
nguyên nhân của sự sụt giảm trong mức độ mà các doanh nghiệp truyền dẫn sự gia
tăng của chi phí do những biến động tỷ giá vào trong mức giá. Sự sụt giảm trong
truyền dẫn tỷ giá này có thể được giải thích như sự suy giảm trong quyền định giá
của các doanh nghiệp đã được dẫn chứng bởi nhiều quan sát trong những năm gần

20

đây, đặc biệt ở Mỹ. Đây có thể là lý do đã giúp cho lạm phát được giữ ở mức thấp
khi phải đối mặt với áp lực lớn của phía cầu ở Mỹ vào cuối những năm 1990. Có
hay không truyền dẫn thấp hay quyền định giá giảm đã ảnh hưởng đến lạm phát,
những điểm chính của bài báo này đó là truyền dẫn thấp không nên xem là yếu tố
ngoại sinh cho môi trường lạm phát thấp.
Để kiểm tra khả năng lạm phát thấp đã dẫn đến quyền định giá thấp, tác giả đã
đưa ra một mô hình kinh tế vĩ mô rất đơn giản. Mô hình này chỉ ra rằng những thay
đổi trong quyền định giá được quan sát một phần là do thay đổi trong sự kỳ vọng
của những biến động giá cả và chi phí. Nói cách khác, mức độ mà một doanh
nghiệp thích ứng với sự gia tăng trong chi phí hay giá cả tại những doanh nghiệp
khác bằng sự gia tăng mức giá riêng của nó phụ thuộc vào sự gia tăng được kỳ vọng
là dai dẳng như thế nào. Mô hình định giá gồm có 3 phương trình như sau:

Tất cả các biến được tính theo phần trăm độ lệch với xu hướng. Khoảng thời
gian cho ước lượng các tham số là quý.
nghiệp trong kỳ t,

là giá được thiết lập bởi các doanh

là giá bình quân trong kỳ t,

là cung tiền và

sản lượng

trong kỳ t. Có nhiều cách để giải quyết hệ phương trình này, Taylor sử dụng thuật
toán khai triển của Fair và Taylor (1983).
Bằng cách mô phỏng và giải quyết hệ phương trình này cho các hướng đi khác
nhau của cung tiền, tác giả đã chỉ ra rằng sự tương quan giữa truyền dẫn tỷ giá và
lạm phát là như thế nào, những kết quả này có thể được tóm tắt như sau:
- Khi cung tiền tăng dần và được giữ ổn định sau đó, các doanh nghiệp sẽ tăng
giá và duy trì mức gia tăng này lâu dài, khi này sự truyền dẫn là lớn hơn và sẽ có
một sự gia tăng lớn trong lạm phát.

21

Hình 3 :Tác động của một gia tăng vĩnh viễn trong cung tiền.

Nguồn: Taylor (2000)
- Khi cung tiền tăng lên tạm thời và sau đó quay về mức ban đầu, các doanh
nghiệp sẽ tăng giá nhưng ở mức thấp và giá cả sẽ quay về mức ban đầu, do đó sự
truyền dẫn sẽ thấp hơn.

22

Hình 4: Tác động của sự gia tăng tạm thời trong cung tiền.

Nguồn: Taylor (2000)
Từ những kết quả mô phỏng, Taylor cho rằng lạm phát thấp có thể chính nó đã
làm giảm mức truyền dẫn hay làm giảm quyền định giá của các doanh nghiệp. Đặc
biệt, mô hình định giá lệch pha của ông trong điều kiện các doanh nghiệp cạnh tranh
độc quyền, ngụ ý là quyền định giá và việc duy trì sự gia tăng của chi phi đối với
doanh nghiệp có liên quan trực tiếp với nhau. Để một doanh nghiệp quyết định điều
chỉnh giá cả của nó bao nhiêu phụ thuộc vào lạm phát, vì lạm phát thấp có thể liên
quan đến sự duy trì những thay đổi ít trong chi phí và mức giá ở những doanh
nghiệp khác. Nếu giá đã được thiết lập cho vài kỳ trước đó thì sự thay đổi ít của chi
phí được duy trì, kết quả truyền dẫn sẽ nhỏ hơn, đó là đặc trưng của việc làm giảm
quyền định giá. Đều này là đúng cho dù sự gia tăng chi phí đến từ thay đổi trong giá
nhập khẩu do sụt giảm tỷ giá hay thay đổi trong giá tiêu dùng hay tiền lương.
Ở Việt Nam, cũng đã có những nghiên cứu về sự truyền dẫn bất cân xứng của tỷ
giá hối đoái. Nguyễn Thị Ngọc Trang và cộng sự (2012) đã nghiên cứu Sự chuyển
dịch tỷ giá hối đoái vào các mức giá tại VN. Bài này sử dụng phương pháp đồng
liên kết Johansen, mô hình véc tơ điều chỉnh sai số và mô hình véc tơ tự hồi quy.
Trong đó tập trung vào sự chuyển dịch bất cân xứng từ tỷ giá hối đoái vào giá nhập
khẩu. Tuy nhiên Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng không có sự chuyển dịch bất cân