Tải bản đầy đủ
1 Lý thuyết về truyền dẫn tỷ giá

1 Lý thuyết về truyền dẫn tỷ giá

Tải bản đầy đủ

6

sẽ tăng dẫn đến sự tăng lên trong mức giá nội địa. Bởi vì những hợp đồng lương
danh nghĩa được cố định trong ngắn hạn, tiền lương thực tế giảm và sản lượng sẽ
tăng. Tuy nhiên khi tiền lương thực tế được đẩy lên theo thời gian, chi phí sản xuất
sẽ tăng, mức giá tổng thể sẽ tăng và sản lượng giảm. Do đó, cuối cùng sự giảm sút
trong tỷ giá về lâu dài sẽ tác động đến chỉ sổ giá trong nước.

7

Hình 1 :Sự truyền dẫn từ sụt giảm tỷ giá đến giá tiêu dùng
Tỷ giá gảm

Tác động trực tiếp

Nguyên liệu
nhập khẩu trở
nên đắt hơn

Hàng hóa thành
phẩm nhập
khẩu trở nên
đắt hơn

Tác động gián
tiếp

Nhu cầu
trong nước
đối với hàng
thay thế

Cầu lao
động tăng
lên

Chi phí sản
xuất gia tăng
Hàng hóa
thay thế và
xuất khẩu
trở nên đắt
hơn

Giá tiêu dùng gia tăng

Nguồn: Laflèche (1996)

Cầu xuất
khẩu tăng
lên

Tiền
lương tăng

8

Hiện nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ERPT, tuy nhiên hầu hết đều tập
trung giải thích sự tác động của ERPT đến chỉ số giá, mức độ ảnh hưởng của ERPT
đến lạm phát với giả định được ngầm hiểu sự tương tác của ERPT là tuyến tính.
Nhưng thực tế, có nhiều lý do làm cho hành vi của ERPT là phi tuyến và bất cân
xứng. Chúng ta sẽ nhận diện những nguyên nhân này từ các công trình nghiên cứu
trước ngay sau đây.
2.1.3 Tại sao truyền dẫn tỷ giá có thể là phi tuyến?
Các lý thuyết thực tiễn đóng góp một phần nhỏ đến vấn đề phi tuyến và bất đối
xứng trong sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái. Số lượng nghiên cứu sự phi tuyến trong
bối cảnh hiện nay tương đối ít ỏi, hầu hết các nghiên cứu trước đó giả định sự
truyền dẫn tỷ giá là tuyến tính hơn là kiểm định nó. Thực tế, có nhiều trường hợp
khác nhau có thể tạo ra sự bất đối xứng trong cơ chế truyền dẫn. Những bằng chứng
hiếm hoi trong phạm vi nghiên cứu này đã đưa ra một vài vai trò của tỷ giá trong
việc tạo ra sự phi tuyến. Theo các lý thuyết này, khả năng truyền dẫn bất cân xứng
có thể tăng lên đối với chiều hướng thay đổi tỷ giá, nghĩa là, phản ứng lại với sự
tăng giá và mất giá của tiền tệ (Gil-Pareja (2000) và Olivei (2002)). Mặt khác, mức
độ truyền dẫn cũng phản ứng bất đối xứng với quy mô thay đổi của tỷ giá, bởi vì có
sự tác động khác nhau của những thay đổi tỷ giá lớn so với những thay đổi tỷ giá
nhỏ (Coughlin và Pollard (2004) và Bussière (2007)). Có một số lý thuyết (kinh tế
vĩ mô) cho rằng khả năng tiềm ẩn mối quan hệ bất đối xứng giữa tỷ giá và mức giá
cả, chủ yếu, chúng ta đề cập đến ba lý do cho khả năng ERPT là bất đối xứng:
+ Mục tiêu thị phần: đối với sự mất giá đồng tiền của quốc gia nhập khẩu, các
doanh nghiệp nước ngoài có thể tuân theo chiến lược định giá theo thị trường
(PTM) bằng việc điều chỉnh lại mức giá để duy trì thị phần. Tuy nhiên, với trường
hợp tăng giá, họ duy trì mức tăng giá của chúng và chấp nhận giá nhập khẩu giảm
trong đồng tiền của thị trường đến. Đo đó, mức độ truyền dẫn tỷ giá sẽ khác nhau
đối với chiều hướng thay đổi của tỷ giá. Nếu các doanh nghiệp cố gắng duy trì sự

9

cạnh tranh và duy trì thị phần, thì sự tăng giá đồng tiền của quốc gia nhập khẩu có
thể gây ra tuyền dẫn cao hơn sự mất giá.
+ Những ràng buộc: cũng như đã được đề cập trong các lý thuyết kinh tế vi mô,
đa số doanh nghiệp có thể bị những hạn chế trong ngắn hạn. Thực tế là, đối mặt với
sự tăng giá của đồng tiền quốc gia nhập khẩu, các nhà xuất khẩu sẽ gia tăng năng
lực cạnh tranh về giá bằng việc chuyển những thay đổi trong tỷ giá vào trong mức
giá của họ. Nhưng nếu các doanh nghiệp thực sự có đủ năng lực mà khả năng gia
tăng doanh số trong thị trường đến bị giới hạn, họ có thể bị cám dỗ để gia tăng mức
tăng giá thay vì hạ thấp mức giá theo đồng tiền của nhà nhập khẩu. Cũng như lập
luận của Knetter (1994), nếu các doanh nghiệp xuất khẩu chịu sự ràng buộc về hạn
chế số lượng, thì một sự tăng giá đồng tiền của quốc gia nhập khẩu có thể gây ra
truyền dẫn thấp hơn sự mất giá.
Điều quan trọng cần lưu ý là hai lập luận trên đã có một ý nghĩa rõ ràng khả
năng phi tuyến trong ERPT, nhưng đồng thời chúng cũng làm phát sinh cách giải
thích trái ngược nhau của sự bất cân xứng. Theo sự giải thích “mục tiêu thị phần”,
truyền dẫn sẽ lớn hơn khi đồng tiền của nhà nhập khẩu tăng giá so với mất giá.
Trong khi giả thuyết “điều kiện ràng buộc” cho rằng ngược lại, và truyền dẫn tỷ giá
sẽ lớn nhất khi tỷ giá hối đoái giảm. Về thực nghiệm, các nghiên cứu trước đây
cũng đã cung cấp những bằng chứng không rõ ràng về sự bất cân xứng của ERPT.
Trong một vài trường hợp truyền dẫn có liên quan đến sự mất giá đồng tiền hơn là
sự tăng giá; tuy nhiên trong một số trường hợp khác, kết quả hoàn toàn ngược lại.
Gil-Pareja (2000) đã phân tích sự khác nhau của truyền dẫn trong một số ngành
công nghiệp thông qua một mẫu gồm các nước ở khu vực Châu Âu. Theo Coughlin
và Pollard (2004), hướng trái chiều nhau của những kết quả nhấn mạnh một điều
quan trọng của sự phân tích truyền dẫn ở mức độ công nghiệp. Nếu sự bất cân xứng
khác nhau giữa những ngành công nghiệp thì có thể làm mơ hồ sự bất cân xứng
hiện hữu ở mức độ tổng thể.

10

+ Chi phí thực đơn: vì các chi phí liên quan đến thay đổi trong mức giá, các nhà
xuất khẩu có thể từ bỏ việc thay đổi mức giá của họ khi đồng tiền của nhà nhập
khẩu thay đổi nhỏ. Tuy nhiên, khi tỷ giá thay đổi vượt qua một vài ngưỡng nào đó
thì các doanh nghiệp sẽ thay đổi mức giá của họ. Do đó, theo giả thuyết chi phí thực
đơn, ERPT có thể là bất cân xứng đối với độ lớn của các cú sốc tỷ giá, vì mức giá sẽ
được điều chỉnh thường xuyên đối với những thay đổi tỷ giá lớn hơn là so với một
thay đổi tỷ giá nhỏ. Trong nghiên cứu của Coughlin và Pollard (2004) đối với giá
nhập khẩu của 30 ngành công nghiệp tại Mỹ, họ tìm thấy rằng hầu hết các doanh
nghiệp phản ứng bất cân xứng đối với những thay đổi lớn và nhỏ của tỷ giá hối
đoái, và ERPT có tương quan dương với độ lớn của thay đổi.
Chúng ta đã nhận thấy rằng các lý thuyết hiện tại đặc biệt quan tâm đến tính phi
tuyến trong truyền dẫn tỷ giá liên quan đến độ lớn và chiều hướng của những thay
đổi tỷ giá. Bên cạnh đó, có một vài yếu tố kinh tế vĩ mô sẽ làm thay đổi hành vi các
doanh nghiệp nước ngoài, và do đó có thể là nguồn gốc của sự phi tuyến trong
truyền dẫn. Một trong những yếu tố kinh tế vĩ mô đó là môi trường lạm phát. Như
đã được lập luận bởi Taylor (2000), với cơ chế lạm phát thấp và ổn định sẽ kéo theo
sự suy giảm trong mức độ truyền dẫn tỷ giá hối đoái ở nhiều nước công nghiệp phát
triển. Theo đó, ERPT sẽ thấp hơn trong môi trường lạm phát ổn định. Do đó, có thể
nghĩ rằng thay đổi năng động của sự truyền dẫn phụ thuộc vào cơ chế lạm phát, mà
nó có thể được mô hình hóa theo cách phi tuyến. Đã có một số công trình nghiên
cứu ERPT liên quan đến mức độ lạm phát trong khuôn khổ phi tuyến. Sử dụng mô
hình ngưỡng dựa theo đường cong Phillips, Przystupa và Wróbel (2011) bác bỏ giả
thuyết truyền dẫn bất đối xứng do môi trường lạm phát ở Ba Lan. Theo hướng
ngược lại, Shintani et al. (2013) và Nogueira Jr. và Leon-Ledesma (2008) đã tìm
thấy sự tương quan dương và có ý nghĩ thống kê giữa ERPT và lạm phát trong
khuôn khổ mô hình hồi quy chuyển tiếp trơn (STR) .
Một nguồn gốc quan trọng khác của sự truyền dẫn phi truyến là chu kỳ kinh tế.
Người ta cho rằng khi nền kinh tế bùng nổ, ERPT sẽ cao hơn trong thời kỳ suy

11

thoái. Một cách trự giác, các doanh nghiệp thấy rằng sẽ dễ dàng hơn để truyền dẫn
những thay đổi tỷ giá hối đoái khi nền kinh tế tăng trưởng nhanh, so với khi đang
trong thời kỳ suy thoái và doanh số đang sụt giảm. Trong thực nghiệm, trực giác
này được xác nhân bởi Goldfajn và Werlang (2000). Phân tích dữ liệu bảng của 71
quốc gia, họ tìm thấy rằng đồng tiền mất giá có mức truyền dẫn lớn hơn vào trong
các mức giá cả khi nền kinh tế tăng trưởng. Correa và Minella (2006) và Przystupa
và Wróbel (2011) đã cũng cố hành vi bất cân xứng của ERPT với sự tăng trưởng
trong khuôn khổ ngưỡng đường cong Phillips. Với mô hình STR, Nogueira Jr. và
Leon-Ledesma (2008) tìm thấy ba trong số sáu quốc gia có sự truyền dẫn phản ứng
phi tuyến với tăng trưởng sản lượng.
Do đó, mục tiêu luân văn này là đóng góp thêm một bằng chứng thực nghiệm
về mối quan hệ phi tuyến giữa ERPT và làm phát với số liệu thụ thập tại Việt Nam.
Với mục tiêu này, luận văn sẽ phân tích sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái theo giả thuyết
của Taylor (2000) về sự tương quan thuận giữa ERPT và lạm phát bằng các mô
hình tự hồi quay chuyển tiếp trơn (STAR). Phương pháp nghiên cứu của luận văn
này có liên quan chặt chẽ với bài nghiên cứu của Shintani và cộng sự (2013).
2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về truyền dẫn tỷ giá
2.2.1 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa ERPT và các mức giá cả.
+ Nghiên cứu truyền dẫn tỷ giá đến giá tiêu dùng theo mô hình VECM
Theo Menon (1995) có một số thiếu sót của những nghiên cứu thực nghiệm về
tuyền dẫn tỷ giá hối đoái trước thời điểm này. Đầu tiên, phạm vi nghiên cứu phần
lớn tập trung ở Mỹ (khoảng 35% những nghiên cứu truyền dẫn đến năm 1995 tập
trung ở Mỹ và 7% ở Đức). Thứ hai, nhiều nghiên cứu thực nghiệm sử dụng phân
tích OLS truyền thống và ít quan tâm đến thuộc tính chuỗi thời gian của dữ liệu.
Thứ ba, những nghiên cứu trước đó chỉ tập trung vào dữ liệu các ngành công nghiệp
hay các sản phẩm cụ thể chứ không tập trung vào số liệu tổng thể. Trong số những
hạn chế này, Menon đặc biệt chỉ trích rằng hầu hết những nghiên cứu thực nghiệm

12

sử dụng một kỹ thuật ước lượng OLS mà nó không tính đến thuộc tính của chuỗi
thời gian, ví dụ như thuộc tính không dừng của dữ liệu.
Trong những năm qua (nghĩa là sau Menon, 1995) có một số nghiên cứu thực
nghiệm về truyền dẫn tỷ giá đã cố gắng cải thiện thiếu sót của những nghiên cứu
trước đó. Một nghiên cứu toàn diện là McCarthy (2000), ông nghiên cứu truyền dẫn
tỷ giá trên mức độ tổng thể đối với những nền kinh tế công nghiệp. Ông sử dụng mô
hình VAR để ước lượng giá nhập khẩu, giá sản xuất và giá tiêu dùng trong thời kỳ
1976 – 1998 và tìm thấy rằng sự truyền dẫn của những thay đổi tỷ giá đến giá tiêu
dùng là khiêm tốn ở hầu hết các quốc gia được phân tích. Tiếp theo là nghiên cứu
của Felix P.Hufner và Michael Schroder (2002), đã làm theo tinh thần của
McCarthy (2000) và sử dụng phân tích đồng liên kết và mô hình VECM để nắm bắt
thuộc tính không dừng của một vài biến. Nghiên cứu này tập trung vào số liệu tổng
thể chứ không phải một ngành công nghiệp hay một số sản phẩm nhất định, chủ yếu
quan tâm đến tác động tổng thể của thay đổi tỷ giá đến giá tiêu dùng, một vấn đề có
liên quan nhất đến chính sách tiền tệ.
Đây là một nghiên cứu ở thị trường Châu Âu, “tác động của sự truyền dẫn tỷ
giá đến giá tiêu dùng ở thị trường Châu Âu (Exchange Rate Pass-Through to
Consumer Prices: A European Perspective)”. Hai ông phân tích ERPT ở sự thay đổi
trong giá đồng nội tệ từ sự biến động tỷ giá, điển hình là giá tiêu dùng ở khu vực
Châu Âu. Những ước lượng đầu tiên của nhóm tác giả về hệ số truyền dẫn ở một số
quốc gia cụ thể là 5 quốc gia lớn ở khu vực Châu Âu (Đức, Pháp, Italia, Tây Ban
Nha và Hà Lan) sử dụng dữ liệu trong thời kỳ 20 năm. Theo đó các tác giả xây
dựng bình quân gia quyền của những hệ số này sử dụng tầm quan trọng của mỗi
nước trong chỉ số HICP (Harmonized Index of Consumer Prices). Bài nghiên cứu
sử dụng mô hình VECM (Vector Error Correction Models) để nắm bắt thuộc tính
không dừng của hầu hết các biến sử dụng và mối tương quan đồng liên kết giữa
chúng. Ngoài ra, khi phần lớn học thuyết trước thời điểm này tập trung vào câu hỏi