Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT & TỔNG QUAN CÁCNGHIÊN CỨU

CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT & TỔNG QUAN CÁCNGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ

6

sẽ tăng dẫn đến sự tăng lên trong mức giá nội địa. Bởi vì những hợp đồng lương
danh nghĩa được cố định trong ngắn hạn, tiền lương thực tế giảm và sản lượng sẽ
tăng. Tuy nhiên khi tiền lương thực tế được đẩy lên theo thời gian, chi phí sản xuất
sẽ tăng, mức giá tổng thể sẽ tăng và sản lượng giảm. Do đó, cuối cùng sự giảm sút
trong tỷ giá về lâu dài sẽ tác động đến chỉ sổ giá trong nước.

7

Hình 1 :Sự truyền dẫn từ sụt giảm tỷ giá đến giá tiêu dùng
Tỷ giá gảm

Tác động trực tiếp

Nguyên liệu
nhập khẩu trở
nên đắt hơn

Hàng hóa thành
phẩm nhập
khẩu trở nên
đắt hơn

Tác động gián
tiếp

Nhu cầu
trong nước
đối với hàng
thay thế

Cầu lao
động tăng
lên

Chi phí sản
xuất gia tăng
Hàng hóa
thay thế và
xuất khẩu
trở nên đắt
hơn

Giá tiêu dùng gia tăng

Nguồn: Laflèche (1996)

Cầu xuất
khẩu tăng
lên

Tiền
lương tăng

8

Hiện nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ERPT, tuy nhiên hầu hết đều tập
trung giải thích sự tác động của ERPT đến chỉ số giá, mức độ ảnh hưởng của ERPT
đến lạm phát với giả định được ngầm hiểu sự tương tác của ERPT là tuyến tính.
Nhưng thực tế, có nhiều lý do làm cho hành vi của ERPT là phi tuyến và bất cân
xứng. Chúng ta sẽ nhận diện những nguyên nhân này từ các công trình nghiên cứu
trước ngay sau đây.
2.1.3 Tại sao truyền dẫn tỷ giá có thể là phi tuyến?
Các lý thuyết thực tiễn đóng góp một phần nhỏ đến vấn đề phi tuyến và bất đối
xứng trong sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái. Số lượng nghiên cứu sự phi tuyến trong
bối cảnh hiện nay tương đối ít ỏi, hầu hết các nghiên cứu trước đó giả định sự
truyền dẫn tỷ giá là tuyến tính hơn là kiểm định nó. Thực tế, có nhiều trường hợp
khác nhau có thể tạo ra sự bất đối xứng trong cơ chế truyền dẫn. Những bằng chứng
hiếm hoi trong phạm vi nghiên cứu này đã đưa ra một vài vai trò của tỷ giá trong
việc tạo ra sự phi tuyến. Theo các lý thuyết này, khả năng truyền dẫn bất cân xứng
có thể tăng lên đối với chiều hướng thay đổi tỷ giá, nghĩa là, phản ứng lại với sự
tăng giá và mất giá của tiền tệ (Gil-Pareja (2000) và Olivei (2002)). Mặt khác, mức
độ truyền dẫn cũng phản ứng bất đối xứng với quy mô thay đổi của tỷ giá, bởi vì có
sự tác động khác nhau của những thay đổi tỷ giá lớn so với những thay đổi tỷ giá
nhỏ (Coughlin và Pollard (2004) và Bussière (2007)). Có một số lý thuyết (kinh tế
vĩ mô) cho rằng khả năng tiềm ẩn mối quan hệ bất đối xứng giữa tỷ giá và mức giá
cả, chủ yếu, chúng ta đề cập đến ba lý do cho khả năng ERPT là bất đối xứng:
+ Mục tiêu thị phần: đối với sự mất giá đồng tiền của quốc gia nhập khẩu, các
doanh nghiệp nước ngoài có thể tuân theo chiến lược định giá theo thị trường
(PTM) bằng việc điều chỉnh lại mức giá để duy trì thị phần. Tuy nhiên, với trường
hợp tăng giá, họ duy trì mức tăng giá của chúng và chấp nhận giá nhập khẩu giảm
trong đồng tiền của thị trường đến. Đo đó, mức độ truyền dẫn tỷ giá sẽ khác nhau
đối với chiều hướng thay đổi của tỷ giá. Nếu các doanh nghiệp cố gắng duy trì sự

9

cạnh tranh và duy trì thị phần, thì sự tăng giá đồng tiền của quốc gia nhập khẩu có
thể gây ra tuyền dẫn cao hơn sự mất giá.
+ Những ràng buộc: cũng như đã được đề cập trong các lý thuyết kinh tế vi mô,
đa số doanh nghiệp có thể bị những hạn chế trong ngắn hạn. Thực tế là, đối mặt với
sự tăng giá của đồng tiền quốc gia nhập khẩu, các nhà xuất khẩu sẽ gia tăng năng
lực cạnh tranh về giá bằng việc chuyển những thay đổi trong tỷ giá vào trong mức
giá của họ. Nhưng nếu các doanh nghiệp thực sự có đủ năng lực mà khả năng gia
tăng doanh số trong thị trường đến bị giới hạn, họ có thể bị cám dỗ để gia tăng mức
tăng giá thay vì hạ thấp mức giá theo đồng tiền của nhà nhập khẩu. Cũng như lập
luận của Knetter (1994), nếu các doanh nghiệp xuất khẩu chịu sự ràng buộc về hạn
chế số lượng, thì một sự tăng giá đồng tiền của quốc gia nhập khẩu có thể gây ra
truyền dẫn thấp hơn sự mất giá.
Điều quan trọng cần lưu ý là hai lập luận trên đã có một ý nghĩa rõ ràng khả
năng phi tuyến trong ERPT, nhưng đồng thời chúng cũng làm phát sinh cách giải
thích trái ngược nhau của sự bất cân xứng. Theo sự giải thích “mục tiêu thị phần”,
truyền dẫn sẽ lớn hơn khi đồng tiền của nhà nhập khẩu tăng giá so với mất giá.
Trong khi giả thuyết “điều kiện ràng buộc” cho rằng ngược lại, và truyền dẫn tỷ giá
sẽ lớn nhất khi tỷ giá hối đoái giảm. Về thực nghiệm, các nghiên cứu trước đây
cũng đã cung cấp những bằng chứng không rõ ràng về sự bất cân xứng của ERPT.
Trong một vài trường hợp truyền dẫn có liên quan đến sự mất giá đồng tiền hơn là
sự tăng giá; tuy nhiên trong một số trường hợp khác, kết quả hoàn toàn ngược lại.
Gil-Pareja (2000) đã phân tích sự khác nhau của truyền dẫn trong một số ngành
công nghiệp thông qua một mẫu gồm các nước ở khu vực Châu Âu. Theo Coughlin
và Pollard (2004), hướng trái chiều nhau của những kết quả nhấn mạnh một điều
quan trọng của sự phân tích truyền dẫn ở mức độ công nghiệp. Nếu sự bất cân xứng
khác nhau giữa những ngành công nghiệp thì có thể làm mơ hồ sự bất cân xứng
hiện hữu ở mức độ tổng thể.

10

+ Chi phí thực đơn: vì các chi phí liên quan đến thay đổi trong mức giá, các nhà
xuất khẩu có thể từ bỏ việc thay đổi mức giá của họ khi đồng tiền của nhà nhập
khẩu thay đổi nhỏ. Tuy nhiên, khi tỷ giá thay đổi vượt qua một vài ngưỡng nào đó
thì các doanh nghiệp sẽ thay đổi mức giá của họ. Do đó, theo giả thuyết chi phí thực
đơn, ERPT có thể là bất cân xứng đối với độ lớn của các cú sốc tỷ giá, vì mức giá sẽ
được điều chỉnh thường xuyên đối với những thay đổi tỷ giá lớn hơn là so với một
thay đổi tỷ giá nhỏ. Trong nghiên cứu của Coughlin và Pollard (2004) đối với giá
nhập khẩu của 30 ngành công nghiệp tại Mỹ, họ tìm thấy rằng hầu hết các doanh
nghiệp phản ứng bất cân xứng đối với những thay đổi lớn và nhỏ của tỷ giá hối
đoái, và ERPT có tương quan dương với độ lớn của thay đổi.
Chúng ta đã nhận thấy rằng các lý thuyết hiện tại đặc biệt quan tâm đến tính phi
tuyến trong truyền dẫn tỷ giá liên quan đến độ lớn và chiều hướng của những thay
đổi tỷ giá. Bên cạnh đó, có một vài yếu tố kinh tế vĩ mô sẽ làm thay đổi hành vi các
doanh nghiệp nước ngoài, và do đó có thể là nguồn gốc của sự phi tuyến trong
truyền dẫn. Một trong những yếu tố kinh tế vĩ mô đó là môi trường lạm phát. Như
đã được lập luận bởi Taylor (2000), với cơ chế lạm phát thấp và ổn định sẽ kéo theo
sự suy giảm trong mức độ truyền dẫn tỷ giá hối đoái ở nhiều nước công nghiệp phát
triển. Theo đó, ERPT sẽ thấp hơn trong môi trường lạm phát ổn định. Do đó, có thể
nghĩ rằng thay đổi năng động của sự truyền dẫn phụ thuộc vào cơ chế lạm phát, mà
nó có thể được mô hình hóa theo cách phi tuyến. Đã có một số công trình nghiên
cứu ERPT liên quan đến mức độ lạm phát trong khuôn khổ phi tuyến. Sử dụng mô
hình ngưỡng dựa theo đường cong Phillips, Przystupa và Wróbel (2011) bác bỏ giả
thuyết truyền dẫn bất đối xứng do môi trường lạm phát ở Ba Lan. Theo hướng
ngược lại, Shintani et al. (2013) và Nogueira Jr. và Leon-Ledesma (2008) đã tìm
thấy sự tương quan dương và có ý nghĩ thống kê giữa ERPT và lạm phát trong
khuôn khổ mô hình hồi quy chuyển tiếp trơn (STR) .
Một nguồn gốc quan trọng khác của sự truyền dẫn phi truyến là chu kỳ kinh tế.
Người ta cho rằng khi nền kinh tế bùng nổ, ERPT sẽ cao hơn trong thời kỳ suy

11

thoái. Một cách trự giác, các doanh nghiệp thấy rằng sẽ dễ dàng hơn để truyền dẫn
những thay đổi tỷ giá hối đoái khi nền kinh tế tăng trưởng nhanh, so với khi đang
trong thời kỳ suy thoái và doanh số đang sụt giảm. Trong thực nghiệm, trực giác
này được xác nhân bởi Goldfajn và Werlang (2000). Phân tích dữ liệu bảng của 71
quốc gia, họ tìm thấy rằng đồng tiền mất giá có mức truyền dẫn lớn hơn vào trong
các mức giá cả khi nền kinh tế tăng trưởng. Correa và Minella (2006) và Przystupa
và Wróbel (2011) đã cũng cố hành vi bất cân xứng của ERPT với sự tăng trưởng
trong khuôn khổ ngưỡng đường cong Phillips. Với mô hình STR, Nogueira Jr. và
Leon-Ledesma (2008) tìm thấy ba trong số sáu quốc gia có sự truyền dẫn phản ứng
phi tuyến với tăng trưởng sản lượng.
Do đó, mục tiêu luân văn này là đóng góp thêm một bằng chứng thực nghiệm
về mối quan hệ phi tuyến giữa ERPT và làm phát với số liệu thụ thập tại Việt Nam.
Với mục tiêu này, luận văn sẽ phân tích sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái theo giả thuyết
của Taylor (2000) về sự tương quan thuận giữa ERPT và lạm phát bằng các mô
hình tự hồi quay chuyển tiếp trơn (STAR). Phương pháp nghiên cứu của luận văn
này có liên quan chặt chẽ với bài nghiên cứu của Shintani và cộng sự (2013).
2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về truyền dẫn tỷ giá
2.2.1 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa ERPT và các mức giá cả.
+ Nghiên cứu truyền dẫn tỷ giá đến giá tiêu dùng theo mô hình VECM
Theo Menon (1995) có một số thiếu sót của những nghiên cứu thực nghiệm về
tuyền dẫn tỷ giá hối đoái trước thời điểm này. Đầu tiên, phạm vi nghiên cứu phần
lớn tập trung ở Mỹ (khoảng 35% những nghiên cứu truyền dẫn đến năm 1995 tập
trung ở Mỹ và 7% ở Đức). Thứ hai, nhiều nghiên cứu thực nghiệm sử dụng phân
tích OLS truyền thống và ít quan tâm đến thuộc tính chuỗi thời gian của dữ liệu.
Thứ ba, những nghiên cứu trước đó chỉ tập trung vào dữ liệu các ngành công nghiệp
hay các sản phẩm cụ thể chứ không tập trung vào số liệu tổng thể. Trong số những
hạn chế này, Menon đặc biệt chỉ trích rằng hầu hết những nghiên cứu thực nghiệm

12

sử dụng một kỹ thuật ước lượng OLS mà nó không tính đến thuộc tính của chuỗi
thời gian, ví dụ như thuộc tính không dừng của dữ liệu.
Trong những năm qua (nghĩa là sau Menon, 1995) có một số nghiên cứu thực
nghiệm về truyền dẫn tỷ giá đã cố gắng cải thiện thiếu sót của những nghiên cứu
trước đó. Một nghiên cứu toàn diện là McCarthy (2000), ông nghiên cứu truyền dẫn
tỷ giá trên mức độ tổng thể đối với những nền kinh tế công nghiệp. Ông sử dụng mô
hình VAR để ước lượng giá nhập khẩu, giá sản xuất và giá tiêu dùng trong thời kỳ
1976 – 1998 và tìm thấy rằng sự truyền dẫn của những thay đổi tỷ giá đến giá tiêu
dùng là khiêm tốn ở hầu hết các quốc gia được phân tích. Tiếp theo là nghiên cứu
của Felix P.Hufner và Michael Schroder (2002), đã làm theo tinh thần của
McCarthy (2000) và sử dụng phân tích đồng liên kết và mô hình VECM để nắm bắt
thuộc tính không dừng của một vài biến. Nghiên cứu này tập trung vào số liệu tổng
thể chứ không phải một ngành công nghiệp hay một số sản phẩm nhất định, chủ yếu
quan tâm đến tác động tổng thể của thay đổi tỷ giá đến giá tiêu dùng, một vấn đề có
liên quan nhất đến chính sách tiền tệ.
Đây là một nghiên cứu ở thị trường Châu Âu, “tác động của sự truyền dẫn tỷ
giá đến giá tiêu dùng ở thị trường Châu Âu (Exchange Rate Pass-Through to
Consumer Prices: A European Perspective)”. Hai ông phân tích ERPT ở sự thay đổi
trong giá đồng nội tệ từ sự biến động tỷ giá, điển hình là giá tiêu dùng ở khu vực
Châu Âu. Những ước lượng đầu tiên của nhóm tác giả về hệ số truyền dẫn ở một số
quốc gia cụ thể là 5 quốc gia lớn ở khu vực Châu Âu (Đức, Pháp, Italia, Tây Ban
Nha và Hà Lan) sử dụng dữ liệu trong thời kỳ 20 năm. Theo đó các tác giả xây
dựng bình quân gia quyền của những hệ số này sử dụng tầm quan trọng của mỗi
nước trong chỉ số HICP (Harmonized Index of Consumer Prices). Bài nghiên cứu
sử dụng mô hình VECM (Vector Error Correction Models) để nắm bắt thuộc tính
không dừng của hầu hết các biến sử dụng và mối tương quan đồng liên kết giữa
chúng. Ngoài ra, khi phần lớn học thuyết trước thời điểm này tập trung vào câu hỏi

13

tại sao có truyền dẫn không hoàn toàn đến giá nhập khẩu thì các tác giả lại tiến hành
đo lường những ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng.
Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ 1981 đến 2001 và bao gồm các biến chỉ số tỷ
giá hiệu lực quốc gia, lãi suất ngắn hạn, chênh lệch giữa sản lượng thực tế và sản
lượng tiềm năng (output gap), giá dầu và ba mức giá của chuỗi phân phối: giá nhập
khẩu, giá sản xuất, giá tiêu dùng. Sau khi làm một số kiểm nghiệm cơ bản, các tác
giả đã tìm thấy mối quan hệ đồng liên kết giữa các biến cho mỗi quốc gia trong
mẫu. Do đó, tác giả ước lượng VECM cho 5 quốc gia với hàm phản ứng xung nhằm
lượng hóa tác động cú sốc tỷ giá đến giá tiêu dùng.
Đối với kết quả cụ thể của các quốc gia các tác giả nhận thấy rằng Hàn Lan có
sự truyền dẫn tỷ giá đến giá tiêu dùng nhanh nhất (đạt mức 0.12 chỉ sau 6 tháng),
nhưng tác động lâu dài nhất là Ý, Pháp. Hệ số truyền dẫn là tỷ trọng mà sự thay đổi
tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến giá tiêu dùng, dao động từ 7% (pháp) đến 12% (Ý)
sau một năm. Sau 2 năm, hệ số từ 8% (Tây Ban Nha) đến 18% (Ý). Như kỳ vọng,
quy mô truyền dẫn suy giảm theo chuỗi phân phối với ảnh hưởng lớn nhất xảy ra ở
giá nhập khẩu.
Bảng 1 :Phản ứng của giá tiêu dùng CPI với 1% cú sốc tỷ giá

Bằng cách tính toán và phân tích sự khác nhau giữa mỗi quốc gia, tác giả thu
dược dãy liên quan về độ lớn tác động của tỷ giá theo các nước để giải thích cho sự
thay đổi giá. Phần lớn nhất của thay đổi giá nhập khẩu giải thích bởi thay đổi tỷ giá

14

được tìm thấy ở Đức, Hà Lan và Pháp. Tác động đến giá sản xuất liên quan phần
lớn ở Hà Lan, Tây Ban Nha và Đức còn Hà Lan và Pháp biểu thị tác động mạnh
nhất đến giá tiêu dùng. Cuối cùng các tác giả giải thích sự tác động mạnh hơn ở Hà
Lan là bởi phần nhập khẩu của quốc gia này là lớn nhất trong 5 nước nghiên cứu.
Kết quả chỉ ra rằng tỷ giá khu vực Châu Âu có tác động đến giá tiêu dùng ở khu vực
này và do đó những người điều hành chính sách cần lưu tâm tới vấn đề này.
Đối với Việt Nam, Nguyễn Thị Ngọc Trang (2012) đã nghiên cứu sự chuyển
dịch tỷ giá hối đoái vào các mức giá tại Việt Nam. Tác giả sử dụng phương pháp
đồng liên kết Johansen, mô hình véc tơ điều chỉnh sai số và mô hình véc tơ tự hồi
quy để nghiên cứu về sự chuyển dịch tỷ giá hối đối vào các mức giá ở VN trong dài
hạn. Cụ thể là tác giả đã khảo sát tác động chuyển dịch tỷ giá hối đoái danh nghĩa
có hiệu lực đến chỉ số giá nhập khẩu, chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá tiêu dùng ở
Việt Nam. Ngoài ra tác giả cũng xem xét tác động bất cân xứng của tỷ giá hối đoái
danh nghĩa có hiệu lực đến chỉ số giá nhập khẩu. Kết quả kiểm định cho thấy (1) Sự
chuyển dịch từ tỷ giá hối đoái danh nghĩa có hiệu lực đến chỉ số giá sản xuất là hoàn
toàn trong dài hạn. (2) Kết quả ước lượng cũng cho thấy tác động của chi phí sản
xuất của nhà xuất khẩu nước ngoài cũng được chuyển dịch hoàn toàn vào chỉ số giá
nhập khẩu trong dài hạn. (3) Bài viết cũng phát hiện rằng không có sự chuyển dịch
bất cân xứng từ tỷ giá hối đoái danh nghĩa có hiệu lực đến chỉ số giá nhập khẩu khi
có sự biến động lớn và biến động nhỏ trong tỷ giá hối đoái. (4) Sự chuyển dịch từ tỷ
giá hối đoái danh nghĩa có hiệu lực đến chỉ số giá nhập khẩu là lớn nhất, sau đó đến
chỉ số giá sản xuất và cuối cùng là chỉ số giá tiêu dùng. (5) Phân tách phương sai
cho thấy chỉ số giá sản xuất tác động đến chỉ số giá tiêu dùng lớn nhất (36% –
38%).
+ Nghiên cứu truyền dẫn tỷ giá đến các mức giá trong các mô hình nền
kinh tế vĩ mô mở mới nỗi khác nhau dựa vào mô hình VAR.
Cho đến năm 2005 đã có sự quan tâm trở lại của những hiểu biết về sự truyền
dẫn tỷ giá hối đoái như thế nào đến các mức giá, một vấn đề được rất nhiều sự quan

15

tâm là thay đổi tỷ giá có tác động rất thấp đến giá tiêu dùng. Đã có một vài lý thuyết
xuất hiện để giải thích vấn đề này, trong đó một nhánh lý thuyết giả định rằng giá
nhập khẩu trong mỗi thị trường là cứng nhắc tạm thời theo đồng tiền trong nước, sự
cứng nhắc này có thể do chi phí giao dịch của thay đổi tỷ giá đến giá tiêu dùng
trong ngắn hạn. Trong khi một nhánh lý thuyết khác cho rằng các mức giá cứng
nhắc theo đồng tiền của nhà sản xuất, mà nhà nhập khẩu xem xét những hàng hóa
trung gian trong quy trình sản xuất và phân phối trước khi chúng được tiêu thụ bởi
hộ gia đình. Việc sản xuất hay phân phối hàng hóa có thể làm giảm tác động của
thay đổi tỷ giá lên giá tiêu dùng thông qua quy trình sản xuất và phân phối trước khi
chúng được tiêu thụ bởi hộ gia đình.
Lúc bấy giờ, một câu hỏi đặt ra liệu rằng có hay không các mức giá được thiết
lập theo đồng tiền trong nước và nhà sản xuất hàm ý một chính sách quan trọng. Mô
hình dựa vào định giá đồng tiền nhà sản xuất (PCP) ủng hộ quan điểm tỷ giá linh
hoạt trong khi mô hình định giá đồng tiền địa phương (LCP) ủng hộ quan điểm tỷ
giá cố định. Khả năng các mô hình kinh tế có lồng ghép LCP và PCP tương thích
với bằng chứng thực nghiệm về truyền dẫn tỷ giá đến các giá khác nhau không được
nghiên cứu đầy đủ. Năm 2005, Choudhri, E.U., Faruqee, H., Hakura, D.S., 2005 đã
có một nghiên cứu tương đối hoàn chỉnh về hiệu quả của các mô hình kinh tế vĩ mô
mở mới nổi trong việc giải thích truyền dẫn tỷ giá đến một loạt các mức giá. Các
phiên bản định lượng của những mô hình kinh tế vĩ mô khác nhau được sử dụng để
thu được phản ứng năng động của một loạt các mức giá khác nhau đối với cú sốc tỷ
giá. Các phản ứng dự báo từ các mô hình vĩ mô khác nhau này được so sánh với
bằng chứng thực nghiệm dựa vào mô hình VAR để kiểm tra xem các mô hình kinh
tế vĩ mô khác nhau phù hợp tốt như thế nào với dữ liệu. Với mục đích này,
Choudhri và cộng sự đã phát triển mô hình kinh tế nhỏ lồng ghép LCP và PCP, và
kết hợp một vài đặc tính khác của đơn giá tiền lương và chi phí phân phối. Mô hình
giả định hai hàng hóa khác nhau, một là hàng hóa tiêu dùng cuối cùng được giao
dịch quốc tế và một là phi giao dịch, và một yếu tố quan trọng khác đó là lao động.
Cấu trúc đơn giản này làm tăng đến 5 chỉ số giá cho một nền kinh tế: chỉ số giá tiêu

16

dùng, chỉ số giá xuất khẩu và sản xuất, chỉ số giá nhập khẩu và giá tiền lương. Các
phiên bản mô hình định lượng được sử dụng để rút ra phản ứng của 5 mức giá từ
một cú sốc tỷ giá, các mô hình được cho như bảng sau.
Bảng 2: So sánh các mô hình kinh tế vĩ mô khác nhau
Mô hình

Hành vi định giá

Giá cả hàng hóa

Tiền lương

Chi phí phân phối

Mô hình 1

LCP

Cứng nhắc

Linh hoạt

Không

Mô hình 2

LCP

Cứng nhắc

Cứng nhắc

Không

Mô hình 3

LCP

Cứng nhắc

Cứng nhắc



Mô hình 4

Linh hoạt

Cứng nhắc

Không

Mô hình 5

Linh hoạt

Cứng nhắc



Mô hình 6

PCP

Cứng nhắc

Cứng nhắc



Mô hình 7

Kết hợp

Cứng nhắc

Linh hoạt



Mô hình 8

Kết hợp

Cứng nhắc

Cứng nhắc



Nguồn: Choudhri, E.U., Faruqee, H., Hakura, D.S., 2005
Phản ứng dự báo từ các mô hình vĩ mô khác nhau được so sánh với bằng chứng
về những cú sốc truyền dẫn tỷ giá để kiểm tra xem các biến khác nhau phù hợp tốt
với dữ liệu như thế nào. Bằng chứng về những cú sốc truyền dẫn tỷ giá tác động đến
những mức giá khác nhau dựa vào hàm phản ứng xung xuất phát từ mô hình VAR.
Nhóm tác giả đã cung cấp những bằng chứng về ERPT đến các mức giá ở nhóm
quốc gia G7 ngoại trừ Mỹ, dựa vào hàm phản ứng đẩy từ mô hình VAR. Sử dụng
dữ liệu của 7 biến nội sinh và hai biến ngoại sinh. Các biến nội sinh bao gồm: lãi
suất, tỷ giá, chỉ số giá nhập khẩu, chỉ số giá xuất khẩu, chỉ số giá sản xuất, chỉ số giá
tiêu dùng, và tỷ lệ tiền lương. Các biến ngoại sinh là lãi xuất nước ngoài và chỉ số
tiêu dùng nước ngoài. Chuỗi dữ liệu theo quý được điều chỉnh tính mùa vụ, thời
gian mẫu từ 1979:1 đến 2001:3. Mục tiêu của họ là tìm kiếm bằng chứng sự tác
động của các cú sốc tỷ giá đối với các mức giá theo thời gian là như thế nào, do đó
họ xác định tất cả cấu trúc khác nhau của mô hình VAR, nhưng họ cũng dựa vào
những giả định phù hợp với khuôn khổ lý thuyết để áp đặt các ràng buộc tối thiểu
đủ để xác định phản ứng năng động của mỗi biến đối với cú sốc tỷ giá.