Tải bản đầy đủ
4 Kinh nghiêm phat triên ngân hang ban le cua ngân hang ơ Viêt Nam

4 Kinh nghiêm phat triên ngân hang ban le cua ngân hang ơ Viêt Nam

Tải bản đầy đủ

tương ma bât cư ngân hang nao cung đêu muôn nhăm đên: nhân viên văn phong, chu
doanh nghiêp tư nhân, chu hô kinh doanh ca thê cân thanh toan tiên hang nhanh chóng...
Một trong những thành tựu đặc săc khac của ACB trong việc xây dựng chiến lược
sản phẩm của mình đó là xây dựng trung tâm CallCenter 247 để hỗ trợ khách hàng
24/24 về các thông tin về sản phẩm dịch vụ. Bên canh đó, ACB triên khai trung tâm
giao dich ngoai giơ, hoat đông vao cac buổi tôi tư thư 2 đên thư 6 hang tuân tai cac
thanh phô lơn nhăm hô trơ tôi đa yêu câu cua khach hang.
Luôn khac biêt vơi nhưng bươc đi manh me, ACB la ngân hang đây mạnh cung
cấp các sản phẩm phái sinh và là ngân hàng tiên phong trong việc sáng lập sàn giao
dịch vàng đầu tiên tại Việt Nam, đem lai lơi nhuân đang kê cho ACB trong thơi điêm
siêt chăt tin dung.
Ngoài ra, văn hóa kinh doanh đi sâu vào khai thác sự chuyên nghiệp, hiệu quả, ACB
đã tạo dựng được cho mình một đội ngũ nhân viên năng lực tốt, nâng cao hiệu quả hoạt
động doanh nghiệp. Năm 2009, năng suất lao động tăng đáng kể, số lượng nhân sự chỉ
tăng 6% trong khi quy mô kinh doanh tăng 40%. ACB cung la ngân hang Viêt Nam đâu
tiên triên khai manh me va đat đươc nhiêu thanh công trong công tac xây dưng hinh anh
thương hiêu vơi hinh anh chiêc ghê đa vưng chăc luôn đươc khach hang nhân ra ơ bât cư
nơi đâu trên cac kênh truyên hinh, tap chi.
Có thể thấy rằng nhiều NHTM của Việt Nam đặt mục tiêu trở thành ngân hàng bán
lẻ hàng đầu hoặc phát triển song song cả dịch vụ ngân hàng bán buôn lẫn ngân hàng
bán lẻ, song những ngân hàng này vẫn chưa đ ư ợ c công nhận là ngân hàng bán lẻ tốt
nhât hoăc nêu có thi cung không duy tri đươc “phong đô” trong thơi gian dai. Các
NHTM trong nước liên tục tạo thêm các tiện ích mới của các sản phẩm dịch vụ cộng
với việc mở rộng các kênh phân phối truyền thống lẫn phi truyền thống nhằm tạo
tiền đề cho sự phát triển của dịch vụ NHBL trong tương lai. Song do tính dễ bắt
chước của các sản phẩm, dịch vụ nên hầu hết các ngân hàng đều có danh mục sản phẩm,
dịch vụ tương tự nhau, chưa tạo được sự khác biệt trong cung cấp dịch vụ NHBL đến
khách hang. Môt nguyên nhân khac có thê nhân thây la do sư phat triên không đông đêu
cac san phâm ban le cua môt ngân hang, dân đên han chê trong khai thac tiêm năng
khach hang, ban cheo san phâm, khó duy tri long trung thanh cua khach hang đôi vơi san

phâm.
Kinh nghiệm thành công trong lĩnh vực bán lẻ của ANZ Việt Nam và ACB cho
thấy, để đẩy mạnh hoạt động bán lẻ của mình, BIDV cần xác định hướng đi đúng đắn,
tập trung vào những thế mạnh để nâng tầm của chất lượng dịch vụ, cải tiến quy trình…
nhằm tạo được lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ khác, phục vụ lợi ích cao nhất cho
khách hàng sử dụng dịch vụ NHBL.

TOM TĂT CHƯƠNG 1
Trong chương 1, luận văn đã tóm tắt về cơ sở lý luận của chiến lược kinh doanh va
dich vu ngân hang ban le va nêu khai quat quy trinh xây dưng chiên lươc. Để xây dựng
chiến lược kinh doanh khả thi, nhà quản trị phải dựa trên cơ sở mục tiêu và sứ mạng
của ngân hàng, phân tích môi trường bên ngoài và môi trường nội bộ kết hợp với việc sử
dụng các kỹ thuật phân tích EFE, IFE, SWOT và QSPM.
Chương tiêp theo, luân văn trinh bay nôi dung phân tich môi trương kinh doanh hoat
đông ban le cua BIDV.

CHƯƠNG 2: PHÂN TICH MÔI TRƯƠNG KINH DOANH

2.1 Tông quan vê Ngân hang Đâu tư va Phat triên Viêt Nam (BIDV)
2.1.1 Qua trinh hinh thanh va phat triên
Ngày 26/04/1957, Thủ tướng Chính phủ đã ký Nghị định số 177/Ttg thành lập
“Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam” tại Bộ Tài chính, thay thế cho “Vụ cấp phát vốn kiến
thiết cơ bản”. Nhiệm vụ ban đầu của Ngân hàng là thanh toán và quản lý vốn do Nhà
nước cấp cho xây dựng cơ bản nhằm thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và
hỗ trợ công cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Trong thời kỳ này, BIDV không phải là một
NHTM nên không thực hiện các hoạt động của một NHTM như huy động tiền gửi tiết
kiệm, thực hiện các dịch vụ thanh toán trong và ngoài nước, mà chủ yếu là giữ tiền gửi
cho các doanh nghiệp đang trong quá trình xây dựng, hoạt động cho vay rất nhỏ, chỉ bó
hẹp trong phạm vi các doanh nghiệp nhận thầu quốc doanh.
Nhằm cải tiến cơ chế hoạt động của Ngân hàng, ngày 24/06/1981, Chính phủ đã
có Quyết định số 259/CP về việc chuyển Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam trực thuộc Bộ
tài chính thành Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam trực thuộc Ngân hàng Nhà
nước. Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam được tổ chức theo hình thức của ngân
hàng chuyên doanh. Bên cạnh nhiệm vụ cấp phát vốn Ngân sách, Ngân hàng Đầu tư và xây
dựng Việt Nam còn có nhiệm vụ thu hút, quản lý các nguồn vốn dành cho đầu tư xây dựng
cơ bản các công trình không do ngân sách cấp hoặc không đủ vốn tự có, đại lý thanh toán
và kiểm soát các công trình thuộc diện ngân sách đầu tư.
Cùng với việc chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ
chế thị trường, sau khi hai Pháp lệnh về Ngân hàng ra đời, ngày 14/10/1990 Chủ tịch
Hội đồng Bộ trưởng đã ra Quyết định số 401/CP thành lập Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Việt Nam (BIDV) thay thế Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam. Ngân hàng
chuyển dần sang hoạt động theo cơ chế thị trường. Đến năm 1994, BIDV được thành lập
lại theo Quyết định số 90/Ttg ngày 07/03/1994 của Thủ tướng Chính phủ. Ngày
23/01/1995, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định số 79 QĐ/NH5 quy
định BIDV là NHTM nhà nước, ngoài chức năng huy động trung, dài hạn trong và ngoài

nước để đầu tư các dự án phát triển kinh tế kỹ thuật, kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ
ngân hàng, chủ yếu trong lĩnh vực đầu tư, phát triển, còn thực hiện các hoạt động của ngân
hàng thương mại đối với doanh nghiệp trong và ngoài nước thuộc mọi thành phần kinh tế,
các tầng lớp dân cư. Đồng thời, kể từ năm 1999, Chính phủ đã có quyết định chuyển hoạt
động cấp phát về Bộ Tài chính. Từ đó, BIDV trở thành một NHTM hoạt động đa năng.
2.1.2 Đăc điêm kinh doanh
BIDV là doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt, có tư cách pháp nhân, thực hiện chế
độ hạch toán kinh tế tổng hợp, hoạt động theo luật các tổ chức tín dụng, luật doanh
nghiệp nhà nước, luật doanh nghiệp và các quy định khác của pháp luật.
Cơ cấu tổ chức của BIDV gồm Hội đồng quản trị (Văn phòng và Ban kiểm soát),
Ban Tổng giám đốc (Tổng giám đốc, các Phó Tổng giám đốc, Văn phòng, các Ban,
phòng chức năng và các đơn vị thành viên).
Hội đồng quản trị là cơ quan có thẩm quyền cao nhất được Nhà nước uỷ quyền thực
hiện chức năng đại diện chủ sở hữu Nhà nước với toàn bộ hệ thống và chịu trách nhiệm
trước Nhà nước. Các thành viên của Hội đồng quản trị do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm
và miễn nhiệm.
Tổng giám đốc là đại diện pháp nhân trong các hoạt động của Ngân hàng và chịu
trách nhiệm trước pháp luật về các hoạt động của Ngân hàng.
Các đơn vị thành viên của BIDV gồm:
- Các chi nhánh hạch toán phụ thuộc: được chủ động trong kinh doanh, hoạt động
tài chính, tổ chức và nhân sự, được uỷ quyền một phần trong đầu tư phát triển và huy
động vốn đầu tư, thành lập các đơn vị trực thuộc. Hiện nay, BIDV có 113 chi nhánh cấp
1 tại tất cả các tỉnh thành phố trên cả nước, trên 500 điểm mạng lưới.
- Các thành viên hạch toán độc lập: là các đơn vị trực tiếp làm nhiệm vụ kinh
doanh. Các doanh nghiệp này vừa có sự ràng buộc về nghĩa vụ và quyền lợi đối với Tổng
công ty, vừa có quyền tự chủ kinh doanh và hoạt động tài chính với tư cách pháp nhân
kinh tế độc lập, gồm Công ty cho thuê tài chính, Công ty chứng khoán, Công ty Quản lý
nơ va khai thac tai san, Công ty Bao hiêm, Công ty Cổ phân Đâu tư Công đoan, Công ty