Tải bản đầy đủ
Phương Pháp Nghiên Cứu

Phương Pháp Nghiên Cứu

Tải bản đầy đủ

26
các nước đang phát triển là số thuê bao điện thoại cố định trên dân số, là tiêu
chuẩn đo lường cho sự phát triển cơ sở hạ tầng. Từ đánh giá các nghiên cứu
thực nghiệm và thực tiễn, đề tài luận văn sử dụng số thuê bao điện thoại cố
định và di động trên 100 dân để dẫn xuất cho biến quan sát cơ sở hạ tầng
trong đánh giá các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế.
 Biến độ mở thương mại: Lý thuyết tăng trưởng nội sinh đã cung cấp
bằng chứng thuyết phục cho đề xuất sự gia tăng trong hoạt động xuất nhập
khẩu có tác động dương đến tăng trưởng kinh tế. Chế độ thương mại cởi mở
hơn, sự dễ dàng gia nhập thị trường dẫn đến khả năng lớn hơn để hấp thụ tiến
bộ công nghệ và hàng hóa xuất khẩu, kích thích tăng trưởng kinh tế. Để đánh
giá độ mở thương mại có nhiều cách thức: kim ngạch xuất nhập khẩu so với
GDP, tỷ lệ tăng của xuất khẩu, xuất khẩu trừ (-) nhập khẩu so với GDP. Căn
cứ vào thực tiễn cũng như các nghiên cứu thực nghiệm, đề tài luận văn sử
dụng kim ngạch mậu dịch (xuất nhập khẩu) như là dẫn xuất cho độ mở
thương mại trong đánh giá tác động đến tăng trưởng kinh tế.
 Biến chi thường xuyên: Gồm các khoản chi tiêu và đầu tư của chính
phủ. Nguồn lực đầu tư của nhà nước đối với tăng trưởng kinh tế thể hiện vai
trò quan trọng, định hướng cho các nguồn lực đầu tư khác, nhất là các lĩnh
vực hiệu quả kinh tế không cao và mang tính xã hội. Thành phần chi thường
xuyên của chính phủ rất đa dạng gồm các khoản chi mang tính hành chính,
duy trì hoạt động, các khoản chi về giáo dục, khoa học công nghệ, kinh tế.
 Biến nguồn nhân lực: Dòng chảy FDI chủ yếu từ nước công nghiệp phát
triển sang nước công nghiệp mới nên nhu cầu nguồn nhân lực ở nước tiếp
nhận đầu tư là rất quan trọng. Để tối đa hóa lợi nhuận vốn, các nhà đầu tư
nước ngoài thường nhắm vào lợi thế của nước đầu tư với đầu vào của yếu tố

27
rẻ hơn. Chi phí lao động thường được xem là yếu tố quan trọng, đặc biệt là
trong lao động sản xuất. Thật vậy, Trung Quốc cung cấp lao động dồi dào và
chi phí thấp so với các quốc gia châu Á khác nên dòng chảy FDI vào Trung
Quốc rất đáng kể. Qua thực tế và các nghiên cứu thực nghiệm, đề tài luận văn
sử dụng tỷ lệ nhập học sau phổ thông để đánh giá tác động của nguồn nhân
lực đến tăng trưởng kinh tế và thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
 Biến ổn định kinh tế vĩ mô: Các dự án FDI có xu hướng tiếp cận ở
những nền kinh tế có tính ổn định kinh tế vĩ mô cao, nhất quán để đảm bảo
hiệu quả và ổn định của dòng FDI. Có nhiều cách thức để đánh giá ổn định
kinh tế vĩ mô, đề tài luận văn sử dụng tỷ lệ lạm phát như là đại diện cho biến
ổn định kinh tế vĩ mô.
Hình 3.1. Các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế

3.1.2. Mô hình nghiên cứu
Từ khung phân tích trên và dựa vào các nghiên cứu thực nghiệm (Lan N. P,
2011; Chien et al., 2012), nghiên cứu tác động của dòng vốn FDI và các nhân tố

28
khác đến tăng trưởng kinh tế, đề tài luận văn đề xuất mô hình thực nghiệm theo
phương trình:
Yit = β0 + β1Xit + β2Yi,t-1 + β3CONTROLit + eit
Trong đó:
 Yit: Tăng trưởng kinh tế, được đo lường bởi GDP bình quân giá thực tế
theo đầu người của quốc gia i trong năm t.
 Xit: Tập hợp các biến trong mô hình Cobb-Douglas gồm: FDI, đầu tư tư
nhân và nguồn nhân lực.
 CONTROLit: Tập hợp các biến kiểm soát. Các biến kiểm soát bao gồm:
(1) chi thường xuyên, (2) cơ sở hạ tầng, (3) độ mở thương mại, và (4) lạm
phát.
Căn cứ vào lý thuyết và kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm các nhân tố
tác động đến tăng trưởng kinh tế, từ đó giúp xác định kỳ vọng dấu của các biến
trong mô hình ước lượng và được thể hiện ở bảng 3.1.
Bảng 3.1 Các biến trong mô hình tăng trưởng kinh tế và kỳ vọng dấu
STT

1

2

Biến kiểm soát

Đầu tư tư nhân
Đầu tư trực tiếp
nước ngoài

Đo lường
Vốn đầu tư của khu
vực tư nhân
Vốn FDI thực thi

Dấu kỳ
vọng
+

+

Nguồn dữ liệu
Dữ liệu được thu
thập từ WorldBank
Dữ liệu được thu
thập từ WorldBank

29

3

Nguồn nhân lực

4

Chi thường xuyên

5

Cơ sở hạ tầng

6

7

Độ

mở

phổ thông
Các khoản chi tiêu
của chính phủ
Số thuê bao điện
thoại trên 100 dân

thương Kim

mại
Ổn định kinh tế vĩ


Tỷ lệ nhập học sau

ngạch

dịch
Tỷ lệ lạm phát

mậu

+

+/-

+

+

+/-

Dữ liệu được thu
thập từ WorldBank
Dữ liệu được thu
thập từ WorldBank
Dữ liệu được thu
thập từ WorldBank
Dữ liệu được thu
thập từ WorldBank
Dữ liệu được thu
thập từ WorldBank

3.2. Mô hình nghiên cứu các yếu tố quyết định đến thu hút dòng vốn FDI
3.2.1. Các biến trong mô hình
Ngoài các biến được đề cập trong mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động
đến tăng trưởng kinh tế như: nguồn nhân lực, độ mở thương mại, cơ sở hạ tầng,
ổn định kinh vĩ mô. Theo lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm thì các biến
này đều tác động đến thu hút dòng vốn FDI, ngoài ra còn có thêm biến quy mô
thị trường và chính sách kinh tế vĩ mô.
 Biến quy mô thị trường: Có nhiều lý thuyết khẳng định quy mô thị
trường có tác động quan trọng và mạnh mẽ đến thu hút FDI. Các nghiên cứu
thực nghiệm cũng tiếp tục khẳng định vai trò của quy mô thị trường trong thu
hút dòng vốn FDI như Yiyang liu (2012). Để đo lường quy mô thị trường có
thể dựa vào: GDP bình quân đầu người, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế. Một số
nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng sự gia tăng GDP bình quân đầu người

30
có liên quan tới dòng vốn FDI vào nước sở tại, tăng mức thu nhập là một tín
hiệu của sự gia tăng quy mô thị trường và sức mua. Từ thực tiễn trên, đề tài
sử dụng GDP bình quân như là dẫn xuất cho biến quy mô thị trường trong
đánh giá các yếu tố quyết định thu hút dòng vốn FDI.
 Biến chính sách kinh tế vĩ mô: FDI là hình thức so sánh và tìm kiếm lợi
nhuận của nhà đầu tư nước ngoài, kế hoạch lợi nhuận phải được ước lượng
trước khi triển khai dự án. Để kiểm soát kế hoạch kinh doanh hiệu quả, vấn
đề thể chế kinh tế vĩ mô ở nước nhận đầu tư rất quan trọng. Để đánh giá thể
chế vĩ mô của chính phủ có nhiều cách thức như dựa vào chỉ số năng lực cạnh
tranh (PCI) hay thâm hụt ngân sách. Mô hình nghiên cứu của đề tài luận văn
về các yếu tố thu hút dòng vốn FDI, cơ cấu biến chính sách kinh tế vĩ mô
được dẫn xuất bởi thâm hụt ngân sách như là biến kiểm soát mô hình.
Hình 3.2. Các yếu tố tác động đến thu hút đầu tư nước ngoài

31
3.2.2. Mô hình nghiên cứu
Từ lý thuyết FDI cũng như đánh giá nghiên cứu thực nghiệm các yếu tố thu
hút dòng vốn FDI, đề tài luận văn đề xuất mô hình thực nghiệm theo phương
trình:
FDIit = β0 + β1FDIi,t-1 + β2GDPi,t-1 + β3Xit + eit
Trong đó:
 FDIit là dòng vốn FDI vào quốc gia i trong năm t.
 Xit là tập hợp các biến giải thích, bao gồm: (1) quy mô thị trường, (2)
nguồn nhân lực, (3) độ mở thương mại, (4) cơ sở hạ tầng, (5) chính sách kinh
tế vĩ mô, và (6) ổn định kinh tế vĩ mô.
Như đã phân tích trong phần trước, các biến độc lập trong mô hình thực
nghiệm các nhân tố thu hút FDI được xây dựng trên nền tảng lý thuyết FDI và
kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm trước đây. Từ đó, luận văn đưa ra các
thước đo và kỳ vọng dấu của các biến trong mô hình thu hút FDI, được thể hiện
ở bảng 3.2.
Bảng 3.2 Các biến trong mô hình thu hút FDI và kỳ vọng dấu

STT

1

Biến kiểm soát

Quy
trường



Đo lường

thị Tăng trưởng GDP
bình quân đầu người

Dấu kỳ
vọng

+

Nguồn dữ liệu

Dữ liệu được thu
thập từ WorldBank

32

2

3

4

5

6

Nguồn nhân lực
Độ

mở

Tỷ lệ nhập học sau
phổ thông

thương Kim ngạch thương

mại
Cơ sở hạ tầng

Chính sách kinh tế
vĩ mô
Ổn định kinh tế vĩ


mại
Số thuê bao điện
thoại trên 100 dân

Thâm hụt ngân sách

Tỷ lệ lạm phát

+

+

+

+

+/-

Dữ liệu được thu
thập từ WorldBank
Dữ liệu được thu
thập từ WorldBank
Dữ liệu được thu
thập từ WorldBank
Dữ liệu được thu
thập từ WorldBank
Dữ liệu được thu
thập từ WorldBank

3.3. Các giả thiết nghiên cứu
Các giả thiết được kiểm định trong luận văn này bao gồm:
Giả thiết H1: FDI có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế của các quốc
gia đang phát triển
Giả thiết H2: Tăng trưởng kinh tế của một quốc gia là một yếu tố tác động tích
cực đến thu hút FDI của quốc gia đó.
Các giả thiết nêu trên sẽ được kiểm định bởi những mô hình hồi quy của dữ
liệu thu thập được trong nghiên cứu này.
3.4. Thu thập dữ liệu
Dữ liệu nghiên cứu được chủ yếu thu thập từ hai cơ sở dữ liệu thứ cấp là cơ
sở dữ liệu của ngân hàng thế giới (World databank – Word Bank). Dữ liệu bao

33
gồm các chỉ số về tăng trưởng kinh tế, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, và các
biến số về tài chính cũng như các chỉ số phát triển của các quốc gia đang phát
triển trên toàn thế giới.
Dựa vào phân loại của World Bank và tính sẵn có của dữ liệu, nghiên cứu này
tiến hành thu thập dữ liệu các quốc gia đang phát triển ở châu Á (phụ lục 1)
trong giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2014. Dữ liệu thu thập được dưới dạng
bảng (panel data). Để đo lường FDI, nghiên cứu này sử dụng hai chỉ số là (i) vốn
FDI tính theo giá hiện hành và (ii) FDI tính bằng tỷ lệ phần trăm của GDP.
3.5. Phương pháp ước lượng
3.5.1. Vấn đề nội sinh
Theo Wooldridge (2012, chương 3), một giả định quan trọng của mô hình hồi
quy tuyến tính là giả định kỳ vọng điều kiện bằng 0 (zero conditional mean). Giả
định này phát biểu rằng giá trị kỳ vọng của sai số trong một mô hình hồi quy,
trong điều kiện cho trước các biến độc lập, luôn bằng 0. Tức là:
E u | x1 , x2 ,.., xn

0

Những biến độc lập nào thỏa mãn điều kiện trên được gọi là biến ngoại sinh
(exogenous explanatory variables). Khi có một trong số các biến độc lập, chẳng
hạn xj, tương quan với sai số u, giả định giả định kỳ vọng điều kiện bằng 0 bị vi
phạm. Những biến độc lập có tương quan với sai số u như giải thích trên được
gọi là biến nội sinh (endogenous explanatory variables). Hiện tượng một hay
nhiều biến độc lập có tương quan với sai số của một mô hình hồi quy được gọi là
hiện tượng nội sinh (endogeneity).

34
Hiện tượng nội sinh làm cho hệ số hồi quy ước lượng bị chệch (biased), tức là
giá trị kỳ vọng của hệ số ước lượng và giá trị kỳ vọng của hệ số thực tế không
bằng nhau, tức là E

i

E

i

.

3.5.2. Lựa chọn biến công cụ để giải quyết vấn đề nội sinh
Hiện tượng tự tương quan được giải quyết bằng phương pháp lựa chọn biến
công cụ (instrumental variable), theo Wooldridge (2012, chương 13). Cụ thể, nếu
biến xj là biến nội sinh, biến công cụ Z phải thỏa mãn hai điều kiện: (i) Z không
tương quan với sai số u và (ii) Z tương quan với xj. Như vậy, với biến Z làm biến
công cụ, hồi quy hai giai đoạn (2 stages least square – 2SLS), sẽ giải quyết vấn
đề nội sinh. Quá trình hồi quy hai giai đoạn bao gồm:
(1) Giai đoạn 1: hồi quy biến độc lập xj theo biến công cụ Z, và tính toán giá
trị ước lượng (fitted value) của xj từ biến Z, đặt là x j .
(2) Giai đoạn 2: sử dụng x j thay cho xj trong mô hình hồi quy ban đầu. Khi
đó, x j là biến ngoại sinh trong mô hình hồi quy ước lượng biến phụ thuộc ban
đầu, vì x j không tương quan với sai số u.
Sử dụng biến công cụ Z và quy trình hồi quy hai giai đoạn, hiện tượng nội
sinh được giải quyết. Tuy nhiên, theo Gujarati (1998), việc lựa chọn một biến
công cụ thỏa mãn hai điều kiện đã nói trên là không dễ dàng. Trên thực tế, đôi
khi không thể tìm ra những biến công cụ thỏa mãn những điều kiện đó để giải
quyết vấn đề nội sinh trong một số mô hình hồi quy.
3.5.3. Phương pháp mô-men tổng quát
Phương pháp moment tổng quát (Generalized Method of Moments – GMM)
được đề xuất bởi Arellano & Bond (1991). Bằng cách sử dụng biến công cụ là

35
biến độ trễ của biến độc lập nội sinh, chẳng hạn xj, phương pháp GMM giải
quyết vấn đề nội sinh trong các mô hình hồi quy dữ liệu bảng.
Đối với mô hình hồi quy dữ liệu bảng dưới đây:

Yit
Sai số ɛ it có thể phân tách thành

X it
it

Yi ,t

1

it ,

vt ui eit . Trong đó, vt là sai số không

đổi theo đối tượng (individual-invariant error) và ui là sai số không đổi theo thời
gian (time-invariant error). Lưu ý rằng phần dư cố định theo thời gian ui tương
quan với biến trễ Yi,t-1. Do đó, biến trễ Yi,t-1 là biến nội sinh.
Biến công cụ được đề xuất trong trường hợp này chính là độ trễ của các biến
ngoại sinh trong tập hợp các biến giải thích Xit. Vì các biến độ trễ vừa nêu tương
quan với Yi,t-1 và không tương quan với sai số, việc lựa chọn các biến đó làm biến
công cụ là thỏa mãn các điều kiện của biến công cụ. Và theo đó, sẽ cho kết quả
ước lượng không chệch (unbiased estimator) của các tham số trong mô hình hồi
quy.
Phương pháp GMM được sử dụng trong nghiên cứu này để giải quyết vấn đề
nội sinh. Mô hình nghiên cứu có biến trễ của GDP và biến trễ của FDI là những
biến độc lập nội sinh, như đã phân tích ở trên. Do đó, trong mỗi mô hình nghiên
cứu, các biến trễ của các biến ngoại sinh được lựa chọn làm biến công cụ, theo
phương pháp GMM, để “khử” vấn đề nội sinh trong mô hình nghiên cứu.
Cụ thể hơn, nghiên cứu này sử dụng phương pháp GMM sai phân (diffenence
GMM). Theo Roodman (2009), phương pháp GMM sai phân được sử dụng cho
dữ liệu bảng (panel data) trong một số trường hợp: số đối tượng lớn và thời gian

36
ngắn (small T and large N); một số biến giải thích tương quan với phần dư mà cụ
thể là các giá trị trong quá khứ của nó (biến độ trễ); trong mô hình có một vài
biến nội sinh,… Như vậy, với nhận định rằng mô hình nghiên cứu của luận văn
này có những đặc điểm trên, việc sử dụng phương pháp GMM sai phân là phù
hợp.