Tải bản đầy đủ
2 Giải pháp hoàn thiện hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT CN tỉnh Đồng Nai.

2 Giải pháp hoàn thiện hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT CN tỉnh Đồng Nai.

Tải bản đầy đủ

+ Tổ thu hồi nợ xấu: đây là bộ phận chuyên thực hiện chức năng cùng CBTD
có nợ xấu thực hiện phương án thu nợ cụ thể cho từng khoản nợ xấu, đồng thời tập
hợp đánh giá và những khó khăn vướng mắc trong quá trình thu hồi nợ xấu cho bộ
phận quản lý rủi ro để có biện pháp xử lý kịp thời, nhanh chóng.
3.2.1.2 Về quy trình tín dụng
Với cơ cấu tổ chức như vậy, quy trình cấp tín dụng cần thực hiện các bước sau:
* Trong quyền phán quyết Trưởng phòng KHKD
Bước 1: Sau khi tiếp nhận và kiểm tra đơn đề nghị cấp tín dụng của khách hàng
cùng với các hồ sơ vay vốn, CBTD thuộc bộ phận quan hệ khách hàng lập tờ trình
thẩm định tín dụng chuyển đơn đề nghị cấp tín dụng và hồ sơ, tài liệu có liên quan
sang bộ phận quản lý rủi ro.
Bước 2: cán bộ quản lý rủi ro tín dụng sẽ tiến hành thẩm định độc lập và lập báo
cáo thẩm định, trong đó đánh giá tính khả thi của khoản vay và đề xuất ý kiến.
Bước 3: bộ phận quản lý rủi ro chuyển báo cáo thẩm định và cùng hồ sơ tín dụng
trình lãnh đạo phòng KHKD xem xét, khoản tín dụng sau khi được lãnh đạo phòng
KHKD đồng ý phê duyệt vào báo cáo thẩm định.
Bước 4: báo cáo thẩm định đã được duyệt và hồ sơ vay sẽ chuyển về bộ phận
khách hàng tiến hành giải ngân và lưu giữ hồ sơ.
* Vượt quyền phán quyết của lãnh đạo phòng KHKD
Sau khi thực hiện xong bước 3
Bước 4a: báo cáo thẩm định đã được duyệt của ban lãnh đạo phòng KHKD và hồ
sơ vay sẽ trình lên Phó Giám Đốc phụ trách tín dụng/Giám đốc xem xét(nếu thuộc
quyền phán quyết của Phó Giám Đốc phụ trách tín dụng/Giám đốc). Nếu đồng ý cấp
tín dụng chuyển về bộ phận khách hàng tiến hành giải ngân và lưu giữ hồ sơ.
* Vượt quyền phán quyết của Giám đốc CN loại 3
Quy trình cấp tín dụng tại CN loại 3 cũng giống như tại Hội sở chi nhánh. Sau
khi thực hiện xong bước 3. Chi nhánh loại 3 chuyển báo cáo thẩm định của bộ phận
quản lý rủi ro và hồ sơ cấp tín dụng trình lên Giám đốc tỉnh thông qua bộ phận quản lý
rủi ro tỉnh.

Trang 68

Trường hợp không đồng ý cấp tín dụng thì bộ phận khách hàng thông báo bằng
văn bản cho khách hàng biết.
3.2.2. Xây dựng chính sách tín dụng hiệu quả
Xây dựng chính sách tín dụng trên cơ sở mục tiêu của NHNo&PTNT Việt Nam
và của chi nhánh, đồng thời phải phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội đặc thù của từng
địa bàn, đảm bảo cân bằng giữa mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro,
đảm bảo khả năng tăng trưởng trên cơ sở nâng cao chất lượng tín dụng và bảo đảm an
toàn. Chính sách này cần được công bố rộng rãi cho cán bộ nhân viên, là cơ sở để cán
bộ nhân viên hoạt động trong lĩnh vực tín dụng thực hiện có định hướng và chủ động
trong hoạt động tác nghiệp. Chi nhánh cần xây dựng một chính sách tín dụng hợp lý và
hiệu quả, thỏa mãn các yêu cầu sau:
- Phù hợp với tính chất đặc thù của địa bàn đầu tư của Chi nhánh, phát huy
được những thế mạnh của địa phương và có giải pháp hạn chế trong đầu tư tín dụng
đối với những lĩnh vực, ngành nghề không có lợi thế cạnh tranh trong kinh doanh.
- Đáp ứng được các yêu cầu về hiệu quả kinh doanh, gia tăng thị phần của chi
nhánh, cân bằng giữa mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro, đảm bảo khả
năng tăng trưởng tín dụng và đầu tư an toàn trong phạm vi tỷ lệ nợ xấu chấp nhận
được. Đồng thời, phải phát huy được năng lực và lợi thế so sánh của chi nhánh so với
các ngân hàng thương mại khác trên địa bàn.
- Phân chia địa lý: Từng bước phát triển vào thị phần tại các khu công nghiệp,
hạn chế cấp tín dụng ngoài tỉnh Đồng Nai. Các chi nhánh loại 3 phải thực hiện nghiêm
túc việc cấp tín dụng theo địa bàn đã phân chia, việc đầu tư ngoài địa bàn phải có sự
đồng ý của chi nhánh tỉnh.
- Danh mục đầu tư: thận trọng đầu tư đối với những dự án lớn, hạn chế đầu tư
trong lĩnh vực bất động sản và mở rộng cấp tín dụng một số lĩnh vực đang là thế mạnh
của địa phương như hàng mộc xuất khẩu, thức ăn gia súc, sản xuất vật liệu xây dựng,
xuất khẩu, kinh doanh nông sản và cho vay tiêu dùng bảo lãnh cơ quan nhà nước:
nguồn trả nợ ổn định của cho vay tiêu dùng do 1 phần gốc được trả dần hàng tháng và
hiện nay đang phát triển mạnh về dịch vụ thẻ và quy định của Nhà nước trả lương qua
ATM.
- Lãi suất: thực hiện lãi suất linh động theo TT 07/2010/TT-NHNN, văn bản
hướng dẫn số 930/NHNo-KHTH ngày 27/02/2010 của NHNo&PTNT Việt Nam. Và
tùy vào từng đối tượng khách hàng, khu vực địa lý để xây dựng chính sách lãi suất phù
Trang 69

hợp. Ưu tiên lãi suất thấp đối với lĩnh vực nông nghiệp, sản xuất hàng xuất khẩu và
khu vực nông thôn.
- Chính sách khách hàng: sẽ bao gồm chính sách tiếp thị, chính sách về cấp
tín dụng, chính sách lãi suất cho vay, chính sách bảo đảm tiền vay, chính sách về dịch
vụ, phí dịch vụ. Trên cơ sở phương pháp lượng hóa đã được áp dụng trong xếp hạng
tín dụng doanh nghiệp, sử dụng kết quả xếp hạng làm căn cứ chính để áp dụng chính
sách khách hàng bởi kết quả này đã tổng hợp các đánh giá (chỉ tiêu tài chính, phi tài
chính) và phân định mức độ rủi ro của khách hàng.
- Định hướng khách hàng: Ổn định chất lượng tín, rà soát để thu hồi những
khoản nợ có nghi ngờ, đồng thời không ngừng khai thác các dự án, khách hàng có hiệu
quả. Tập trung phát triển khách hàng là khách hàng xuất khẩu, lĩnh vực nông nghiệp
nông thôn và DN vừa và nhỏ đang được sự hỗ trợ của nhà nước và các tổ chức nước
ngoài. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 về trợ
giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, coi phát triển DNNVV là một nhiệm vụ quan
trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước. Như vậy các DNNVV sẽ có khả năng phát triển mạnh mẽ về chất và
lượng trong tương lai, là điều kiện thuận lợi cho cấp tín dụng. Thực tế trong thời gian
qua một số DNNN hoạt động kém hiệu quả trong thời kỳ hội nhập, một phần khác do
một số doanh nghiệp đã cổ phần hóa và tỉnh Đồng Nai là một tỉnh phát triển mạnh các
khu công nghiệp, nên đã thu hút các NHTM về mở chi nhánh với cơ chế cấp tín dụng
của NHTMCP thông thoáng, thủ tục nhanh gọn thì khả năng cấp tín dụng cho các
doanh nghiệp lớn như hiện nay của chi nhánh sẽ rất hạn chế. Vì vậy, việc lựa chọn
phát triển phân khúc thị trường DNNVV là một lựa chọn hợp lý và phù hợp với điều
kiện kinh tế ở Việt Nam, phù hợp với năng lực và kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ, đặc
biệt càng có ý nghĩa khi các quy định về trích lập dự phòng rủi ro của NHNN càng
nghiêm ngặt làm gia tăng chi phí nên phân tán rủi ro vào DNNVV trở nên quan trọng
do đối tượng này thường có tài sản bảo đảm, đồng thời khoản cấp tín dụng giá trị nhỏ,
rủi ro xảy ra sẽ có ảnh hưởng không lớn.
3.2.3 Giải pháp phòng ngừa rủi ro
3.2.3.1 Nhận biết rủi ro
Theo nhận định của các chuyên gia trên Thế giới thì quy trình quản trị rủi ro tín
dụng tại chi nhánh cũng như các NHTM Việt Nam thường không chú trọng đến bước
Trang 70

“nhận biết rủi ro” chỉ chiếm 10%. Còn các NHTM ở các nước tiên tiến như
Singapore, Thái Lan, Hồng Kông, Columbia cụ thể là Citibank, HSBC sự phân bổ
nguồn lực trong quy trình quản trị RRTD ở bước “nhận biết rủi ro” chiếm 30%
(Nguồn: George H.Hempel, Donald G. Simonson, Alan b. Coleman(1994). “Bank
Management: Text and Case). Chính vì vậy các dấu hiệu để nhận biết khoản vay có
vấn đề có thể tham khảo như sau:
- Phía khách hàng: thanh toán chậm tiền gốc, lãi; chậm nộp báo cáo tài chính
định kỳ hoặc trong báo cáo tài chính có những xáo trộn, biến động không bình thường;
thay đổi bộ máy quản lý bất thường; chủ hộ vay chết; vợ chồng có những trục trặc lớn
trong hôn nhân; sử dụng vốn sai mục đích; mở rộng SXKD quá nhanh, vượt quá khả
năng tài chính, quản lý; liên quan đến các vụ kiện tụng, thiếu nợ thuế, tiền bảo hiểm,
chậm trả lương hoặc những hoạt động pháp lý khác: lừa đảo, gian lận, giả mạo…; gặp
những rủi ro bất khả kháng: bão, lũ lụt, cháy nổ, dịch bệnh…
- Phía ngân hàng: tăng trưởng tín dụng nóng, không phù hợp trình độ khả
năng, quản lý và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn; cơ cấu tín dụng không hợp lý; có
những việc làm không tuân thủ đúng quy trình cho vay, quy định về đảm bảo tiền vay;
không trung thực hoặc thiếu ý thức trách nhiệm trong thẩm định, kiểm tra, báo cáo của
các cán bộ có liên quan; trình độ nghiệp vụ của cán bộ tín dụng yếu kém; tác phong,
lối sống trong sinh hoạt của cán bộ tín dụng có biến động bất thường; mối quan hệ
giữa cán bộ tín dụng và khách hàng có những dấu hiệu bất bình thường; thiếu sự kiểm
tra, kiểm soát của những cán bộ, bộ phận có trách nhiệm.
3.2.3.2 Đánh giá và đo lường rủi ro tín dụng
Đánh giá mức độ tổn thất và đo lường rủi ro là một trong những khâu mà
NHNo&PTNT Việt Nam nói chung và Chi nhánh nói riêng còn nhiều hạn chế. Hiện
nay, Chi nhánh chỉ đánh giá rủi ro khi tổn thất đã xảy ra. Nhưng điều này quá muộn và
phải tốn nhiều chi phí.
Vì vậy, cần phải thực hiện nghiêm túc việc đánh giá và đo lường rủi ro tín dụng
đối với tất cả các khách hàng, đối với tất cả các khoản tín dụng, bên cạnh đó là việc đo
lường xác suất vỡ nợ, đo lường khả năng thu hồi đối với tất cả các khoản vay trên cơ
sở các kết quả có được từ các mô hình chấm điểm, xếp loại khách hàng cũng như mô
hình quản lý danh mục đầu tư, các mô hình xác suất vỡ nợ.

Trang 71

Để đánh giá và đo lường rủi ro tín dụng trong điều kiện hiện nay tại Chi nhánh,
tăng cường tính dự báo nguy cơ vỡ nợ của doanh nghiệp trong các mô hình chấm điểm
xếp hạng tín dụng thì có thể nghiên cứu sử dụng Mô hình điểm số tín dụng doanh
nghiệp của Edward I Altman.
Có nhiều phương pháp dự báo nguy cơ vỡ nợ của doanh nghiệp đã được xây
dựng và công bố. Tuy nhiên, ít có phương pháp được kiểm tra kỹ lưỡng và chấp nhận
rộng rãi như hàm thống kê Z-score của Altman.(Mô hình điểm số Z trang 21)
3.2.3.3 Nâng cao chất lượng thẩm định và phân tích tín dụng
Rủi ro tín dụng bắt đầu từ những phân tích và thẩm định tín dụng không cẩn
trọng và thiếu chính xác dẫn đến những quyết định cho vay sai lầm. Đây là bước cực
kỳ quan trọng và đảm bảo hạn chế rủi ro tín dụng với hiệu quả cao nhất, ít tổn thất
nhất. Quá trình thẩm định cần đáp ứng được yêu cầu về chất lượng phân tích và thời
gian ra các quyết định, đảm bảo sự cẩn trọng hợp lý trên cơ sở phân tích lợi nhuận và
rủi ro cũng như đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng phục vụ khách hàng. Giải
quyết các đòi hỏi này cần thực hiện:
- Thực hiện phân tích và thẩm định chính xác rủi ro tổng thể của khách hàng
thông qua xác định giới hạn tín dụng theo định kỳ 6 tháng hoặc 1 năm. Công việc này
sẽ giúp cho ngân hàng có cái nhìn tổng thể về tình hình tài chính, chất lượng kinh
doanh và đánh giá triển vọng phát triển của doanh nghiệp để nhận thấy những rủi ro
của doanh nghiệp, định ra một giới hạn tín dụng hợp lý, nằm trong giới hạn chịu nợ
của khách hàng đối với chi nhánh (không bao gồm giới hạn tín dụng của các TCTD
khác bởi không thể kiểm soát được mức cho vay của các TCTD khác). Tuy nhiên mỗi
khách hàng không chỉ vay tại một ngân hàng mà còn có thể vay tại nhiều ngân hàng
khác nhau và sự đổ vỡ của bất kỳ khoản vay tại ngân hàng nào cũng sẽ gây ra rủi ro và
ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng. Do đó, bên cạnh việc định ra giới hạn
tín dụng cần kèm theo các điều kiện tín dụng khác, đặc biệt là điều kiện về tổng dư nợ
vay và cơ cấu tài chính của khách hàng, nhằm đảm bảo mức độ an toàn trong kinh
doanh.
Để thực hiện tốt yêu cầu này, cần chú trọng đến phân tích định lượng, lượng
hóa mức độ rủi ro của khách hàng qua đánh giá các số liệu, đồng thời kết hợp với phân
tích định tính ( phân tích môi trường vĩ mô, vi mô, môi trường nội bộ của doanh
nghiệp, lịch sử quan hệ tín dụng với ngân hàng…) để nhận ra những rủi ro tiềm tàng
và khả năng kiểm soát, hạn chế những rủi ro đó của ngân hàng. Trong phân tích định
Trang 72

lượng, ứng dụng và hoàn thiện hệ thống cho điểm và xếp hạng tín dụng khách hàng
(trong giai đoạn đầu chỉ nên tập trung vào các doanh nghiệp). Hệ thống này cần được
thường xuyên điều chỉnh cho phù hợp với thực tế và điều kiện kinh tế Việt Nam,
không nên cứng nhắc theo những tính toán của các nước có điều kiện không tương
đồng. Thông qua việc sử dụng các mô hình định lượng, mức độ rủi ro sẽ được lượng
hóa hợp lý, phản ánh một cách rõ ràng hơn mức độ rủi ro của các khoản vay dự kiến
và xây dựng những biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trước khi cấp tín dụng với
khách hàng. Nỗ lực xác định giới hạn tín dụng hợp lý sẽ giúp cho ngân hàng luôn ở thế
chủ động và có giải pháp kiểm soát rủi ro tín dụng một cách hiệu quả.
- Trên cơ sở giới hạn tín dụng đã được phê duyệt, trong từng lần cấp tín dụng
chủ yếu tập trung phân tích rủi ro của chính phương án vay đó để giảm bớt thời gian
xử lý các giao dịch. Trong phân tích này, cần tập trung đến tính pháp lý của phương
án/dự án vay, đến nguồn cung cấp, thị trường và khả năng tiêu thụ… Đồng thời cần
đưa ra những rủi ro dự kiến, khả năng kiểm soát của ngân hàng và kịch bản xử lý khi
những tình huống xấu xảy ra.
- Trong thẩm định các dự án đầu tư, tình trạng nâng giá trị thực tế của dự án để
được vay nhiều hơn, thuê đất nhiều hơn khá phổ biến. Điều này đã dẫn đến rủi ro bởi
vốn tự có tham gia thực sự của khách hàng vay chiếm tỷ lệ thấp dẫn đến tính chịu
trách nhiệm của khách hàng không cao, đồng thời khi rủi ro xảy ra thì khả năng thu hồi
được nợ đã giảm sút. Để đảm bảo xác định khách quan và chính xác giá trị tài sản bảo
đảm, cần thuê một tổ chức định giá hoặc kiểm toán độc lập, có uy tín để thực hiện việc
kiểm toán toàn bộ việc thanh quyết toán giá trị công trình và định giá tài sản. Đồng
thời thực hiện chặt chẽ và nghiêm túc việc chứng minh nguồn vốn tự có tham gia dự
án của khách hàng, giải ngân đối ứng theo tiến độ công trình.
- Cần phối kết hợp chặt chẽ các điều kiện tín dụng trong hợp đồng tín dụng như
lãi suất, tỷ lệ vốn tự có tham gia phương án/dự án, các tài sản bảo đảm …để đảm bảo
lợi ích thu được phải tương xứng với mức độ rủi ro. Các khách hàng có mức độ xếp
hạng tín dụng càng thấp thì cần nâng tỷ lệ tham gia của vốn tự có, cần lựa chọn những
tài sản bảo đảm có tính thanh khoản cao… Các điều kiện pháp lý trong hợp đồng tín
dụng càng chặt chẽ càng đảm bảo các quyền lợi của chi nhánh khi rủi ro xảy ra, đồng
thời nâng cao trách nhiệm của khách hàng trong sử dụng vốn vay, hạn chế rủi ro xảy
ra.

Trang 73

3.2.3.4 Xây dựng hệ thống thông tin tín dụng nội bộ
Vấn đề cấp bách hiện nay là phải tiến hành xây dựng kho dữ liệu thông tin riêng
về thông tin tín dụng, xây dựng quy trình, tiêu chuẩn trong thu thập thông tin tín dụng
nhằm giúp cho công tác thu thập thông tin được nhanh chóng, chất lượng thông tin
ngày càng tốt hơn để người phân tích có cơ sở so sánh đánh giá chất lượng thông tin
thu thập được. Và một điều không thể bỏ qua là kiểm tra chất lượng và độ tin cậy của
thông tin thu thập được.
Đồng thời với việc thu thập, xử lý thì việc ứng dụng một cách có hiệu quả những
kết quả có được là khâu rất quan trọng. Kết quả phân tích ấy phải được truyền tải
thông suốt, nhanh chóng, kịp thời đến tất cả các bộ phận, cán bộ có liên quan, từ đó
các bộ phận này có sự đánh giá, so sánh nhìn nhận để có những chính sách, phương
thức ứng dụng nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động rủi ro tín dụng tại Chi
nhánh. Bên cạnh đó Chi nhánh cần tham khảo thông tin trên các phương tiện thông tin
đại chúng.
Tăng cường cập nhật thông tin từ trung tâm phòng ngừa rủi ro từ CIC của NHNN
bằng cách chuyển các thông tin khách hàng về từ trung tâm, cũng như thu thập thông
tin về khách hàng mà NH cần tìm hiểu.
Triển khai nền tảng công nghệ hiện đại, vì công nghệ hiện đại sẽ cho phép hoàn
thiện hệ thống thông tin quản lý. Ngoài ra, mảng thông tin chuyên ngành, phân tích
chuyên sâu, mang tính chất dự đoán, cảnh báo (đặc biệt tập trung vào các ngành nghề
có tỷ trọng dư nợ lớn) cũng phải được tăng cường nhằm cung cấp đầy đủ thông tin đấn
tận cán bộ làm công tác tín dụng.
3.2.3.5 Tăng cường cơ chế kiểm tra, giám sát
CBTD thường xuyên thực hiện giám sát các hành vi của người vay, mục đích sử
dụng tiền vay, quá trình hoạt động kinh doanh, quá trình trả nợ và giám sát đảm bảo
tín dụng nhằm tránh tình trạng người vay vi phạm các điều khoản đã thỏa thuận trong
hợp đồng. Việc phát hiện và xử lý kịp thời những khoản vay có vấn đề, những khoản
vay có nhiều khả năng không thu hồi được là biện pháp hữu hiệu góp phần hạn chế rủi
ro tín dụng.
Vì vậy, để đảm bảo cho hoạt động quản trị rủi ro tín dụng được tốt thì cần có cơ
chế kiểm tra, giám sát quy trình tín dụng của CBTD, đảm bảo tuân thủ các quy định
pháp luật, đúng quy trình tín dụng đề ra, nếu có điều kiện có thể thành lập một bộ phận
kiểm tra sử dụng vốn chuyên biệt cho những món lớn, có tầm quan trọng đặc biệt để
Trang 74

nhận diện rủi ro ngay từ khi phát sinh. Đồng thời qua đó kịp thời phát hiện các cán bộ
yếu kém nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp, ngăn chặn các nguy cơ rủi ro có thể xảy ra
ngay từ khâu thẩm định, quyết định cho vay và sau khi cấp tín dụng.
3.2.3.6 Thường xuyên đánh giá lại giá trị tài sản đảm bảo
Nhiều tài sản bảo đảm được nhận từ khá lâu nhưng đến nay vẫn chưa được
đánh giá lại. Việc cập nhật giá trị tài sản bảo đảm kịp thời sẽ phản ánh đúng giá trị
cũng như tính thanh khoản của tài sản và vì vậy đảm bảo được tính chính xác của
số tiền trích lập dự phòng cụ thể và hạn chế rủi ro. Phòng kiểm tra kiểm soát nội
bộ tại chi nhánh cần thường xuyên tổ chức kiểm tra hồ sơ tài sản thế chấp để kịp
thời phát hiện sai sót, chậm trễ. Đồng thời, Ban lãnh đạo chi nhánh cũng cần quy
trách nhiệm cụ thể đến phòng nghiệp vụ nếu cán bộ trong phòng không nghiêm
túc thực hiện.
3.2.3.7 Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra nội bộ
Cần chú trọng công tác của kiểm tra nội bộ để tăng cường khả năng kiểm soát
tính tuân thủ trong hoạt động cấp tín dụng, giảm thiểu những rủi ro tín dụng. Ngoài
thực hiện kiểm tra theo định kỳ, cần tập trung và tăng tần suất kiểm tra các khách hàng
có nợ xấu, đánh giá việc thực thi các biện pháp quản lý nợ có vấn đề và khả năng thu
hồi nợ. Công tác kiểm tra nội bộ cần thực hiện có trọng điểm, theo các ngành nghề,
lĩnh vực đang tiềm ẩn nguy cơ rủi ro để kịp thời chấn chỉnh và đề xuất các giải pháp để
tăng cường khả năng phòng ngừa rủi ro tín dụng.
3.2.4 Giải pháp hạn chế, bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra
3.2.4.1 Tăng cường hiệu quả xử lý nợ có vấn đề
Việc xử lý nợ xấu cần được giao cho một bộ phận độc lập. Vì trên thực tế, khi xử
lý nợ xấu thì hiệu quả và tốc độ thực hiện rất chậm do những mối quan hệ ràng buộc
trước đây khiến cho cán bộ chần chừ, thiếu kiên quyết. Do đó nhiệm vụ xử lý nợ xấu
nên giao cho bộ phận quản lý rủi ro, một bộ phận ít quan hệ khách hàng nhưng lại
thường xuyên nắm bắt được các thông tin về khoản vay do bộ phận quan hệ khách
hàng cung cấp thông tin sẽ nâng cao hiệu quản xử lý nợ xấu hơn.
Bộ phận quản lý rủi ro này sẽ tham mưu cho Ban Giám Đốc về hướng xử lý
những khoản nợ có vấn đề khi có dấu hiệu rủi ro. Bộ phận quản lý rủi ro sẽ phối kết
hợp với bộ phận quan hệ khách hàng và phòng kiểm tra kiểm soát nội bộ nhằm đưa ra
các giải pháp thích hợp, tham mưu kịp thời cho Giám Đốc chi nhánh cách thức xử lý
uyển chuyển, đúng đắn, phù hợp với những khách hàng khác nhau.
Trang 75

Khi xử lý nợ có vấn đề, cần thực hiện các bước thứ tự và thận trọng không nên
nóng vội mà phá vỡ những mối quan hệ đã được thiết lập với khách hàng, đặc biệt là
khách hàng truyền thống, cụ thể:
Bước 1: Thẩm định lại trong nội bộ: kiểm tra lại hồ sơ và tất cả giấy tờ có liên
quan đến khách hàng. Đánh giá lại việc quản lý khoản vay, khách hàng và tài sản thế
chấp, kết luận sơ bộ vị thế khách hàng và vị thế của chi nhánh.
Bước 2: Gặp khách hàng, đánh giá thái độ, xác nhận tình trạng của khách hàng,
đánh giá tiến độ thực hiện và hiệu quả của dự án, phương án…kiểm tra tài sản của
khách hàng. kiểm chứng mức độ họat động, tình trạng các thiết bị, hàng tồn kho, sự
thay đổi và biến động của tài sản đảm bảo. Đặt ra các biện pháp cụ thể và giới hạn thời
gian cụ thể.
Bước 3: Đánh giá tình hình và đưa ra kết luận: xác định tính xác thực về thái độ
khách hàng, thông tin thu thập được. Kết luận nguyên nhân nợ xấu: do khách hàng,
ngân hàng và cơ hội thành công nếu áp dụng những biện pháp xử lý.
Bước 4: Quyết định hành động: chọn biện pháp tối ưu, có lợi nhất cho ngân
hàng, đồng thời đề ra kế họach hành động dự phòng trong trường hợp biện pháp tối
ưu, có lợi nhất không thực hiện được như tái tài trợ, cơ cấu lại nợ, khách hàng thanh lý
tự nguyện, ngân hàng thanh lý, dàn xếp với các chủ nợ khác, thu hồi nợ từ số tiền được
bồi thường do cơ quan bảo hiểm chi trả (nếu kháchg hàng mua bảo hiểm), kiện ra tòa
hoặc tuyên bố phá sản theo pháp luật.
Bước 5: Thực hiện kế hoạch hành động. Mọi kế hoạch và hành động thực hiện
đều phải cụ thể hóa tối đa bằng văn bản. Triển khai thực hiện theo kế hoạch đã hoạch
định và tăng cường biện pháp kiểm tra, giám sát. Báo cáo tiến độ và kết quả theo mốc
thời gian, cập nhật hóa đều đặn từng diễn biến.
3.2.4.2 Thực hiện nghiêm túc phân loại nợ và trích lập dự phòng
Thực hiện nghiêm túc phân lọai nợ, tránh tình trạng vì kết quả kinh doanh mà
không tuân thủ tính chính xác trong phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro. Chủ
động phân loại nợ theo tính chất, khả năng thu hồi nợ của khoản vay, kiên quyết
chuyển nợ quá hạn đối với các trường hợp vi phạm HĐTD có nguy cơ gây ra rủi ro và
hạ bậc nợ, thực hiện trích lập dự phòng nhằm bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra.
3.2.5 Giải pháp về nhân sự
Một mô hình quản trị rủi ro tín dụng có hoàn hảo, một quy trình cấp tín dụng có
chặt chẽ đến mấy nhưng những CBTD vận hành mô hình đó bị hạn chế về năng lực
Trang 76

hoặc không đáp ứng được các yêu cầu về đạo đức thì sự thiệt hại, tổn thất tín dụng
vẫn xảy ra, thậm chí là rất nặng nề. Do đó các giải pháp về nhân sự giữ một vai trò cốt
yếu trong xây dựng các biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng. Một số nội dung trong
giải pháp này là:
- Lựa chọn những cán bộ có năng lực, có trình độ chuyên môn và đạo đức tốt để
bố trí vào bộ phận tín dụng. Trong các công việc ngân hàng, tín dụng là một nghề đòi
hỏi phải có năng lực về phân tích, đánh giá, tính chịu trách nhiệm rất cao và luôn có
những cạm bẫy nên cần có bản lĩnh và đạo đức nghề nghiệp. Do đó cần tiêu chuẩn hóa
cán bộ hoạt động tín dụng theo các tiêu chí chuyên môn, đạo đức rõ ràng, làm cơ sở
để chuẩn hóa và nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ làm việc trong một môi
trường đầy rủi ro.
- Bố trí đủ và phân công công việc hợp lý cho cán bộ, tránh tình trạng quá tải
cho cán bộ để đảm bảo chất lượng công việc, giúp cho cán bộ có đủ thời gian nghiên
cứu, thẩm định và kiểm tra giám sát các khoản vay một cách có hiệu quả.
- Tăng cường công tác đào tạo, tái đào đạo, thực hiện đào tạo định kỳ và thường
xuyên để nâng cao trình độ kiến thức cũng như khả năng vận dụng những kinh
nghiệm, kỹ thuật mới trong thẩm định tín dụng, quản trị rủi ro, nâng cao chất lượng tín
dụng. Đào tạo phải theo đúng định hướng, chú trọng đào tạo ngắn hạn theo các chuyên
đề bổ trợ cho công việc trực tiếp hàng ngày, đào tạo nâng cao cho các cán bộ chủ chốt
và đã được quy hoạch để xây dựng bộ khung cho sự phát triển ổn định và vững chắc
sau này.
- Không ngừng nâng cao trình dộ nghiệp vụ của CBTD, đặc biệt nâng cao trình
độ thẩm định và phân tích tài chính.
- Xây dựng chế độ đánh giá, khen thưởng và kỷ luật dựa trên chất lượng tín
dụng và hiệu quả công việc mà cán bộ đó thực hiện. Các quy định về khen thưởng và
kỷ luật phải được sự thống nhất trong chi nhánh và phải được thực hiện nghiêm túc
triệt để. Nhờ vậy mới có thể nâng cao tính chịu trách nhiệm trong các quyết định tín
dụng của các cán bộ có liên quan.
- Thực hiện luân chuyển cán bộ trong quản lý khách hàng để giảm trừ những
tiêu cực do những mối quan hệ được tạo lập quá dài, đồng thời giúp tạo điều kiện cho
các cán bộ tiếp cận những khách hàng khác nhau sẽ có khả năng xử lý công việc được
nhanh chóng.

Trang 77

3.3 Kiến nghị đối với NHNo Việt Nam, Ngân hàng Nhà Nước và Chính Phủ
3.3.1 Kiến nghị với NHNo&PTNT Việt Nam
3.3.1.1 Hoàn thiện mô hình quản trị rủi ro tín dụng
Quy trình cấp tín dụng ‘một cửa’ đã bộc lộ nhiều hạn chế. Trong đó, hạn chế
lớn nhất là cán bộ tín dụng thực hiện cả ba khâu cơ bản trong quá trình cho vay:
Tiếp xúc khách hàng, thẩm định phương án vay vốn, giải ngân và thu nợ . Để hạn
chế nhược điểm, sau khi tham khảo mô hình quản trị rủi ro của một số NHTM Việt
Nam , xét thấy phòng KHKD nên tách bạch thành 2 bộ phận:
Sơ đồ 2: Hoàn thiện mô hình quản trị rủi ro tín dụng

Bộ phận quan hệ khách hàng
( KH: cá nhân, KH: DN)

Phòng kế hoạch kinh doanh
Bộ phận quản lý rủi ro
( Tổ thu hồi nợ XLRR)

Chức năng và nhiệm vụ:bộ phận quan hệ khách hàng và bộ phận quản lý rủi ro
(xem phần 3.2.1.1 chương 3 Cơ cấu lại bộ máy cấp tín dụng trang 66)
Để thực hiện theo mô hình này cần giải quyết 3 vấn đề sau
Thứ nhất: do mô hình mới đã ảnh hưởng đến quyền hạn của các cán bộ có liên
quan đến quá trình cấp tín dụng. Bây giờ, một quyết định cấp tín dụng không phụ
thuộc vào một cá nhân mà là sự đồng thuận của các bộ phận chức năng có vai trò độc
lập trong quá trình tác nghiệp. Đây là một lực cản không nhỏ trong quá trình triển khai
mô hình này trên thực tế.
Thứ hai: tính minh bạch, chính xác, rõ ràng của các thông tin và độ tin cậy của
các cơ quan cung cấp tại Việt Nam còn rất nhiều hạn chế. Trong khi đó quy trình cấp
tín dụng mới lại yêu cầu tách bạch chức năng bán hàng và chức năng thẩm định tín
dụng. Do đó, cán bộ thẩm định không tiếp xúc khách hàng để đảm bảo tính khách
quan nên phải có đầy đủ các thông tin để có thể đưa ra các quyết định tín dụng đúng
đắn và hợp lý.
Trang 78