Tải bản đầy đủ
3 Đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT CN tỉnh Đồng Nai

3 Đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT CN tỉnh Đồng Nai

Tải bản đầy đủ

doanh nghiệp sẽ tác động ngay đến ngân hàng, nếu doanh nghiệp bị thua lỗ, phá sản thì
ngân hàng có nguy cơ mất vốn.
- Do năng lực quản trị điều hành kinh doanh yếu kém: khi các doanh nghiệp
vay tiền ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh, đa phần là tập trung vốn đầu tư
vào tài sản vật chất ít doanh nghiệp nào mạnh dạn đổi mới cung cách quản lý, đầu tư
cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kế toán theo đúng chuẩn mực. Quy mô
kinh doanh đầu tư quá to so với tư duy quản lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của
các phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành công trên thực tế.
- Do sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trả nợ: đa số các doanh
nghiệp khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án kinh doanh cụ thể, khả thi. Tuy
nhiên, sau khi kiểm tra không ít khách hàng đã sử dụng một phần vốn vay vào hoạt
động khác: kinh doanh bất động sản, mua sắm vật dụng thậm chí tiêu xài cá
nhân…..Điều này rất nguy hiểm, sẽ ảnh hưởng đến dòng tiền của doanh nghiệp và làm
ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cho ngân hàng, hệ quả dẫn đến phát sinh nợ xấu. Thậm
chí còn có một số trường hợp khách hàng xin vay ngắn hạn nhưng thực tế là sử dụng
vào những công trình đầu tư trung dài hạn mà không nghĩ đến việc nợ đến hạn sẽ
không trả được. Thậm chí có cả trường hợp, sau khi kết thúc chu kỳ kinh doanh, mặc
dù có lợi nhuận nhưng khách hàng vẫn cố chây ỳ, không chịu trả nợ nhằm mục đích
chiếm dụng vốn ngân hàng.
- Do khách hàng gian lận: tính không minh bạch của thông tin còn xuất hiện
trong quá trình cho vay với hình thức gian lận. Cho dù không phải món cho vay
thương mại nào cũng hàm chứa khả năng gian lận, song thực tế chính hành vi gian lận
đã gây nên những tổn thất lớn cho ngân hàng. Gian lận có thể đượi coi là hậu quả tệ hại
nhất khi thông tin không minh bạch: liên quan đến báo cáo tài chính kế toán, xác định
sai giá trị công nợ, tạo cơ sở niềm tin ban đầu với ngân hàng bằng việc trả vốn và lãi
đầy đủ trong những lần vay vốn đầu tiên với số tiền nhỏ và khi đã tạo được tín nhiệm
mới tìm cách vay những khoản lớn hoặc tạo ra các dự án khống để vay khoản tiền lớn
và trốn chạy.
2.3.3.2 Từ phía ngân hàng
Ngoài các nhân tố chủ quan xuất phát từ phía khách hàng, còn có các nhân tố chủ
quan xuất phát từ phía ngân hàng. Cụ thể như:
- Thông tin tín dụng không đầy đủ và chính xác: thông tin tín dụng đầy đủ và
chính xác là yếu tố quyết định để đánh giá khả năng trả nợ và thiện chí trả nợ của
Trang 52

người vay, đồng thời là cơ sở để mở rộng tín dụng. Trong hồ sơ tín dụng của khách
hàng, TCTD cần phải có các thông tin rõ ràng, đặc biệt là các báo cáo tài chính như:
bảng cân đối kế toán, báo cáo thu nhập, báo cáo lưu chuyển tiền tệ….. Và thông tin tín
dụng cũng cần minh chứng cụ thể mục đích, yêu cầu vay, kế hoạch dự định và nguồn
chi trả, báo cáo tiến độ và giám sát. Đồng thời, trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam,
do hoạt động kiểm toán chưa phát triển và tính minh bạch về tài chính còn nhiều hạn
chế, bên cạnh đó, do công tác kế toán và báo cáo tài chính chưa thực hiện đầy đủ theo
quy định của pháp luật nên chi nhánh thường gặp khó khăn về tính chính xác của thông
tin do khách hàng cung cấp.
- Chỉ chú trọng vào tài sản đảm bảo: không quan tâm nhiều đến thẩm định dự
án, phương án SXKD mà chỉ dựa vào tài sản đảm bảo. Điều này chắc chắn sẽ phát sinh
rủi ro tín dụng vì nguyên tắc quan trọng nhất trong thẩm định là thẩm định phương án
kinh doanh có hiệu quả hay không? Có người quan niệm rằng tài sản đảm bảo là an
toàn cho khoản vay. Điều này rất nguy hiểm vì khoản vay cần được trả nợ bằng dòng
tiền tạo ra bởi phương án sản xuất kinh doanh chứ không phải bằng tiền bán tài sản thế
chấp. Tài sản thế chấp chỉ là sự đảm bảo cuối cùng khi phương án kinh doanh của
khách hàng gặp rủi ro ngoài dự kiến. Hơn nữa, nếu rủi ro xảy ra thì ngân hàng sẽ gặp
những khó khăn trong quá trình xử lý tài sản thế chấp để thu nợ, chẳng hạn như là: nếu
không thỏa thuận được việc xử lý tài sản với chủ tài sản thì ngân hàng không thể tự xử
lý được, việc bán tài sản đảm bảo cũng đòi hỏi ngân hàng thực hiện hàng loạt các thủ
tục rườm rà, thực hiện chậm và thậm chí giá trị tài sản thanh lý sau cùng thu về có thể
thấp hơn giá trị nợ phải thu hồi….
- Công tác thẩm định: chưa chủ động nhận thức được vai trò có ý nghĩa to lớn
đối với các giai đoạn xem xét dự án trong công tác thẩm định. Hiện nay tại chi nhánh
khi nhận hồ sơ vay vốn của khách hàng thì hầu hết phương án đều khả thi. Đây là một
bất lợi lớn cho chi nhánh trong quá trình xem xét cho vay, kiểm tra sử dụng vốn vay,
thu nợ….. Nếu khâu thẩm định phương án vay vốn chuẩn xác là nền tảng cân nhắc
giảm thiểu rủi ro cho việc tính toán có nên tiếp tục dự án hay không? xác định số tiền
cho vay, thời hạn cho vay, mức thu nợ hợp lý tạo điều kiện cho phương án hoạt động
có hiệu quả. Để không tạo kẻ hở cho khách hàng vay sử dụng tiền không đúng mục
đích như cho vay ít hơn hoặc nhiều hơn so với nhu cầu khách hàng sẽ không thực hiện
được phương án khách hàng sẽ sử dụng vốn vay đó hoặc số tiền vay dôi ra với mục
đích khác cũng như xác định vòng quay của vốn vay không chính xác.
Trang 53

- Thiếu kiểm tra giám sát vốn vay: coi nhẹ việc giám sát kiểm tra sau khi cho
vay, chỉ thực hiện mang tính hình thức, đối phó bằng cách gửi biên bản kiểm tra cho
khách hàng ký mà thực tế lại không kiểm tra tại đơn vị dẫn tới không nắm bắt được
tình hình thực tế sử dụng vốn và kiểm soát được dòng tiền của khách hàng. Tình trạnh
khách hàng sử dụng vốn sai mục đích hoặc gặp khó khăn về tài chính mà vẫn tiếp tục
giải ngân cho khách hàng trong hạn mức tín dụng đã cấp trước đó. Do vậy, việc kiểm
tra giám sát sẽ không hiệu quả vì thiếu thông tin về những sự cố của khách hàng vay
nên những khoản vay lúc khởi đầu vẫn tốt nhưng sau đó trở thành các khoản vay có
vấn đề và thua lỗ.
- Sự thụ động, cả nể trong công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ: kiểm tra viên
phòng kiểm soát nội bộ do Giám đốc chi nhánh quyết định điều động và quản lý. Nên
chưa thể hiện được tính độc lập, khách quan mà còn mang tính cả nể trong công tác
kiểm tra. Trong thời gian qua công tác kiểm soát nội bộ chưa bắt kịp với tốc độ tăng
trưởng tín dụng của chi nhánh. Đối với công tác kế toán, tín dụng, thanh toán quốc tế
có sự tập huấn thường xuyên từ Trung ương đến chi nhánh để cập nhật các văn bản,
quy định, quy trình mới. Trong khi đó kiểm tra viên không được tập huấn chương trình
kiểm tra một cách bài bản và khoa học mà tự thân phải mài mò theo cách hiểu, làm
việc riêng của mình nên mặt bằng nghiệp vụ chuyên môn của kiểm tra viên còn nhiều
khoảng cách. Các phòng có liên quan chưa nhận thức được vai trò của công tác kiểm
tra kiểm soát nội bộ. Đôi khi còn gây khó khăn và bất hợp tác trong các đợt kiểm tra.
Kiểm soát nội bộ cần phải được xem như hệ thống “thắng” của cỗ xe tín dụng. Cỗ xe
càng lao đi với vận tốc lớn thì hệ thống thắng này phải càng an toàn, hiệu quả thì mới
tránh cho cỗ xe khỏi đi vào những ngã rẽ rủi ro, luôn luôn tồn tại thường trực trên con
đường đi tới. Nếu làm tốt, công tác này sẽ trở thành lá chắn thứ nhất đảm bảo an toàn
cho ngân hàng.
- Năng lực, trình độ cán bộ tín dụng còn hạn chế: do mở thêm, tăng trưởng quy
mô hoạt động chi nhánh loại 3, phòng giao dịch và cán bộ có thâm niên trong công tác
tín dụng đến tuổi nghỉ hưu dẫn đến việc thiếu hụt nguồn nhân lực có kinh nghiệm. Đa
phần hiện nay lãnh đạo phòng nghiệp vụ và CBTD tuổi đời, tuổi nghề còn rất trẻ chưa
va chạm nhiều trong thực tế. So với thực tế ngoài cuộc sống có những toan tính ngày
càng tinh vi mà CBTD trẻ không thể lường hết được.

Trang 54

2.3.3.3 Nguyên nhân khách quan
Ngoài các nguyên nhân chính từ phía ngân hàng và khách hàng, không thể không
kể đến một số tác động khác gây rủi ro cho hoạt động tín dụng đến từ tình hình kinh tế
bên ngoài. Cụ thể như:
- Từ năm 2008 đến nay, các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn do bị ảnh
hưởng xấu của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới, sản xuất
không ký được hợp đồng tiêu thụ, sản phẩm tồn kho ứ động, lãi suất ngân hàng cao,
lao động không có việc làm, doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ phải thu hẹp sản xuất.
Thậm chí có những doanh nghiệp có dự án sản xuất kinh doanh khả thi cũng phải dừng
lại vì lãi suất vay cao.
- Đồng Nai là tỉnh với thế mạnh cà phê, tiêu, điều, cao su, chăn nuôi gia
cầm…Đặc điểm của ngành nghề này này là rất nhạy cảm với sự thay đổi của thời tiết
và dịch bệnh. Trong những năm qua dịch cúm gia cầm và bệnh long mồm lỡ móng gây
nên những tổn thất nặng nề cho những hộ chăn nuôi, đã gặp rất nhiều khó khăn trong
việc trả nợ vay.
- Sự tấn công của hàng nhập lậu: khi tính toán phương án vay vốn, khách hàng
hoạch định giá sản phẩm đầu vào và đầu ra theo các kênh giá chính thức trên thị
trường, nhưng các doanh nghiệp khác sử dụng hàng nhập liệu đầu vào là hàng nhập
lậu với chi phí thấp hơn, giảm được giá thành và cạnh tranh với các doanh nghiệp vay
vốn, làm cho hàng hóa sản xuất ra không bán được vì có giá thành cao, và điều này tất
yếu sẽ ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cho ngân hàng.
- Sự biến động quá nhanh, không dự đoán được thị trường trong nước và thế giới
như xăng dầu, thép, xi măng, điện, phân bón đều tăng cao khiến chi phí đầu vào tăng
làm ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, khu vực nông
nghiệp nông thôn.
- Hệ thống thông tin quản lý còn bất cập: trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng
(CIC) của Ngân hàng Nhà nước đã hoạt động hơn một thập niên và đã đạt được những
kết quả bước đầu rất đáng khích lệ trong việc cung cấp thông tin tín dụng. Tuy nhiên,
thông tin cung cấp còn đơn điệu, thiếu cập nhật, chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu tra
cứu thông tin: chỉ mới cung cấp được số liệu dư nợ và phân loại nợ vay của khách
hàng chưa có thông tin phi tài chính, khả năng quản lý của khách hàng và tài sản đảm
bảo chỉ có tổng giá trị chung chưa phân tách được chi tiết từng loại tài sản thế chấp….

Trang 55

2.4 Hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT CN tỉnh Đồng Nai
2.4.1 Bộ máy tổ chức cấp tín dụng
Tổ chức hoạt động tín dụng tại NHNo & PTNT Việt Nam được xây dựng theo
mô hình quản trị phân quyền dựa trên cơ sở các chính sách và nguyên tắc được điều
hành tập trung. Trong đó, Ban Tín dụng chịu trách nhiệm xây dựng văn hóa, toàn bộ
các chính sách và quy tắc quản trị chung cho công tác quản trị tín dụng tại ngân hàng.
Đồng thời, các Ban nghiệp vụ tín dụng dựa trên những chính sách và nguyên tắc đó
trực tiếp thực hiện các giao dịch tín dụng, quản lý và kiểm soát rủi ro tín dụng.
* Tại trụ sở chính: Gồm Ban Tín dụng, Ban Quản lý Dự án Uỷ thác đầu tư, Ban
Quan hệ quốc tế, Trung tâm Phòng ngừa và xử lý rủi ro, Công ty Quản lý nợ và khai
thác tài sản và Ban quản lý rủi ro (phụ lục sơ đồ 2)
* Tại chi nhánh loại 1: Gồm Giám đốc chi nhánh, phòng kế hoạch kinh doanh
và phòng kiểm tra kiểm soát nội bộ. (phụ lục sơ đồ 3)
* Tại chi nhánh loại 3: Gồm Giám đốc, phòng tín dụng và kiểm tra viên.
Mô hình tổ chức hoạt động tại NHNo&PTNT Việt Nam được ban hành theo
Quyết định số 1269/QĐHĐQT ngày 30/9/2010 của Hội đồng quản trị NHNo&PTNT
Việt Nam đã được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt nam chuẩn y tại Quyết định
số 2339/QĐ-NHNN ngày 5/10/2010.
Mô hình này bổ sung thêm Ủy ban Quản lý rủi ro NHNo&PTNT Việt Nam tại
Trụ sở chính theo Quyết định số 2039/QĐ-HĐQT-UBQLRR ngày 31/12/2010 của
NHNo&PTNT Việt Nam. Với chức năng là cơ quan giúp việc cho HĐQT, có vai trò
tham mưu, tư vấn cho HĐQT về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của HĐQT trong
việc ban hành các chính sách giám sát, quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh của
NHNo&PTNT theo quy định của pháp luật, điều lệ của NHNo&PTNT và chịu sự chỉ
đạo trực tiếp của HĐQT.
Căn cứ Quyết định số 618/QĐ-HĐQT-TCCB ngày 16/8/2006 của Chủ tịch Hội
đồng Quản trị NHNo&PTNT Việt Nam ”V/v sửa đổi bổ sung quy chế về tổ chức và
hoạt động của NHNo&PTNT Việt Nam và Quyết định số 81/QĐ/NHNo-ĐN/TCCB
ngày 04/7/2007 “V/v sáp nhập phòng Thẩm định về phòng kế hoạch kinh doanh”.

Trang 56

Tại chi nhánh hoạt động cấp tín dụng diễn ra duy nhất tại Phòng Kế hoạch kinh
doanh và đây cũng là phòng thực hiện các chức năng tái thẩm định các khoản vay vượt
mức phán quyết của các chi nhánh loại 3.
2.4.2 Chính sách tín dụng
Trong từng giai đoạn, từng thời điểm và dựa trên kế hoạch NHNo&PTNT Việt
Nam giao chi nhánh có những chính sách phát triển tín dụng cụ thể. Tuy nhiên, chi
nhánh luôn tăng trưởng tín dụng kèm với việc đảm bảo chất lượng tín dụng, an toàn tín
dụng. Và đảm bảo công tác thu hồi nợ xấu. Chính sách tín dụng của chi nhánh được
xây dựng hàng năm và được dựa trên từng khu vực địa lý, quy mô và yếu tố lãi suất.
* Phân chia địa lý: Tập trung phát triển khu vực nông thôn và khu vực dân cư,
đây là khu vực mà chi nhánh chiếm ưu thế, phù hợp với mạng lưới và con người.
* Danh mục đầu tư: đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, hàng xuất khẩu là chủ
đạo. Đảm bảo mức tăng trưởng tín dụng theo chỉ tiêu của NHNo&PTNT Việt Nam, ổn
định quy mô hoạt động và thực tế phát triển kinh tế tại tỉnh nhà. Việc giao chỉ tiêu tăng
trưởng tín dụng cho các chi nhánh loại 3 tùy theo đặc thù tại từng địa phương và quy
mô nguồn vốn.
Chấp hành đúng giới hạn tín dụng đối với khách hàng được quy định theo
Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của NHNN Việt Nam và Quyết
định số 666/QĐ-HĐQT-TDHo ngày 15/6/2010 của NHNo&PTNT Việt Nam.
Hạn chế cấp tín dụng được thực hiện theo quy định của pháp luật đối với từng
lĩnh vực ngành nghề mà pháp luật cho phép, hạn chế hoặc cấm.
* Lãi suất: thực hiện lãi suất theo khung quy định của NHNo&PTNT Việt
Nam vào từng thời kỳ, thời điểm. Từ đó Chi nhánh tùy vào từng đối tượng khách
hàng, khu vực địa lý có chính sách lãi suất phù hợp. Ưu tiên lãi suất thấp đối với lĩnh
vực nông nghiệp, sản xuất hàng xuất khẩu và khu vực nông thôn.
* Chính sách khách hàng: Việc xếp loại khách hàng hiện nay của chi nhánh
được thực hiện theo văn bản số 1406/NHNo-TD ngày 23/5/2007 của NHNo&PTNT
Việt Nam. Và thực thiện theo dự thảo hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ (phụ lục) của
NHNo&PTNT Việt Nam, trên cơ sở căn cứ theo Quy định tại Điều 7 Quyết dịnh số
493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của NHNN.
Hiện nay, chi nhánh đang thực hiện chấm điểm, xếp hạng khách hàng trên hệ
thống xếp hạng tín dụng nội bộ theo văn bản 1816/NHNo-XLRR ngày 15/4/2010.
Khẩn trương chấm điểm 100% khách hàng là doanh nghiệp, chậm nhất đến 30/6/2010
Trang 57