Tải bản đầy đủ
2QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG

2QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG

Tải bản đầy đủ

dụng nhằm quản lý tổng mức rủi ro tín dụng. Xếp hạng tín dụng nội bộ có 10 hạng:
AAA, AA, A, BBB, BB, B, CCC, CC, C, D, những khách hàng có mức xếp hạng tín
dụng từ CC trở xuống sẽ không cho vay. Cơ cấu điểm, mức điểm, kỹ thuật chấm điểm
áp dụng trong xếp hạng tín dụng được cải tiến liên tục thông qua thực tiễn triển khai để
phù hợp với thực tế.
- Hạn chế cấp tín dụng đối với khách hàng: tuân thủ các quy định của pháp luật
các trường hợp không được cấp tín dụng và hạn chế cấp tín dụng, đồng thời thực hiện
chủ trương giảm dư nợ tín dụng, hạn chế cấp tín dụng mới đối với các khách hàng có
dấu hiệu rủi ro (được quy định cụ thể cho từng loại khách hàng).
1.2.3.2 Chính sách phân bổ tín dụng
- Phân bổ theo vùng địa lý: thực hiện phân chia phạm vi cấp tín dụng theo khu
vực địa lý dựa trên năng lực, vị trí của từng Chi nhánh; chủ trương ưu tiên mở rộng
hoạt động tín dụng tại những nơi có điều kiện mở rộng tín dụng và chất lượng tín dụng
bảo đảm, khống chế dư nợ tín dụng tối đa đối với những chi nhánh có chất lượng tín
dụng thấp.
- Phân bổ theo kỳ hạn vay và loại tiền vay: bảo đảm sự phù hợp giữa cơ cấu kỳ
hạn và loại tiền vay với cơ cấu nguồn vốn.
- Phân bổ theo loại hình sản phẩm, đối tượng khách hàng, mặt hàng và lĩnh vực
đầu tư: đa dạng hóa các sản phẩm vay theo nguyên tắc hạn chế tối đa rủi ro, đa dạng
hóa các đối tượng khách hàng nhằm giảm thiểu hóa rủi ro có thể xảy ra, đa dạng hóa
mặt hàng và lĩnh vực đầu tư theo nguyên tắc phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế.
1.2.3.3 Thẩm quyền phán quyết
Thẩm quyền phán quyết bao gồm thẩm quyền phê duyệt giới hạn tín dụng, thẩm
quyền ra quyết định cấp tín dụng, thẩm quyền ký kết hợp đồng tín dụng. Các thẩm
quyền này được phân theo từng cấp bậc trong NHTM (Thẩm quyền phán quyết của
Hội đồng Quản trị, Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc phụ trách tín dụng, các
Trưởng/phó phòng chức năng tại Hội sở chính, Hội đồng tín dụng cơ sở, Giám đốc Chi
nhánh…)
1.2.3.4 Chính sách phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng
NHTM thực hiện phân loại nợ theo quy định của NHNN, đặc biệt những khoản
nợ xấu sẽ tăng cường phân loại nợ, đánh giá khả năng trả nợ với tần suất nhiều hơn để
phục vụ công tác quản lý chất lượng và rủi ro tín dụng. Định hướng của NHTM trong

Trang 21

thời gian tới sẽ thực hiện phân loại nợ trên cơ sở xếp hạng khách hàng và tiến tới trích
lập dự phòng theo thông lệ quốc tế tốt nhất.
1.2.3.5 Các quy định về báo cáo, kiểm tra giám sát rủi ro
Thực hiện các báo cáo theo định kỳ về chất lượng tín dụng trong toàn hệ thống
để đánh giá công tác quản lý rủi ro, đồng thời đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao
chất lượng tín dụng.
1.2.4 Quy trình quản trị rủi ro tín dụng
Trong hoạt động ngân hàng thương mại, việc quản trị rủi ro được thực hiện chủ
yếu qua các bước sau: nhận biết rủi ro, đánh giá rủi ro, theo dõi rủi ro, kiểm soát và tài
trợ rủi ro.
1.2.4.1 Nhận biết rủi ro
Nhận biết rủi ro là bước đầu tiên trong quy trình quản trị rủi ro của ngân hàng.
Nhận biết rủi ro sẽ được xét trên 2 góc độ:
* Về phía ngân hàng: Rủi ro tín dụng được thể hiện qua quy mô tín dụng, cơ cấu
tín dụng, nợ quá hạn, nợ xấu và dự phòng rủi ro. Do đó, khi các yếu tố này có xu
hướng thiên lệch như quy mô tín dụng tăng quá nhanh vượt quá khả năng quản lý của
ngân hàng hay là cơ cấu tín dụng tập trung quá mức vào một ngành, một lĩnh vực rủi
ro hoặc là các chỉ số nợ quá hạn, nợ xấu có dấu hiệu vượt ngưỡng cửa cho phép, dự
phòng rủi ro được sử dụng hết, ngân hàng đứng trước nguy cơ rủi ro.
* Về phía khách hàng: khi khách hàng có những dấu hiệu khó có khả năng trả
được nợ, tình hình tài chính xấu, nguy cơ rủi ro sẽ xảy ra. Lúc đó, ngân hàng cần nhận
biết được khả năng xảy ra rủi ro để ra quyết định kịp thời.
Do đó, nhận biết rủi ro bao gồm các nội dung sau:
- Phân tích danh mục tín dụng của ngân hàng: là phân tích chung toàn bộ danh
mục tín dụng để nhận biết những rủi ro về quy mô tín dụng, cơ cấu tín dụng, về
ngành, về loại tiền. Cần kết hợp với dự báo kinh tế vĩ mô để đánh giá rủi ro chung của
toàn bộ danh mục tín dụng.
- Phân tích đánh giá khách hàng: là phân tích đánh giá khách hàng nhằm phát
hiện các nguy cơ rủi ro trong từng khách hàng, từng khoản nợ cụ thể. Phân tích đánh
giá khách hàng được thực hiện từ khi bắt đầu tiếp xúc khách hàng, phân tích trong
quá trình cho vay và phân tích sau khi cho vay. Để có thể phân tích đánh giá khách
Trang 22

hàng cần: thu thập thông tin về khách hàng; phân tích theo khách hàng theo các chỉ
tiêu định lượng và định tính để có những kết luận chính xác về tình trạng của khách
hàng; phân tích xử lý thông tin và xác định nguy cơ đối với khách hàng.
Với những nội dung cơ bản này, ngân hàng luôn chú trọng đến công tác quản trị
hệ thống thông tin tín dụng, hỗ trợ đắc lực cho công tác thẩm định khách hàng vay,
phòng ngừa rủi ro từ khâu thẩm định hồ sơ vay.
1.2.4.2 Đo lường rủi ro
* Đánh giá rủi ro khách hàng vay
Về cơ bản có 2 công cụ là xếp loại tín dụng đối với khách hàng doanh
nghiệp và chấm điểm tín dụng đối với k h á c h h à n g c á n h â n . Tuy nhiên, chấm
điểm tín dụng chỉ áp dụng trong hệ thống ngân hàng để đánh giá mức độ rủi ro tín
dụng đối với khoản vay của cá nhân, còn xếp hạng tín dụng áp dụng rộng rãi hơn,
không những trong hoạt động ngân hàng, kinh doanh chứng khoán mà còn trong
kinh doanh thương mại, đầu tư …
- Chấm điểm tín dụng: chủ yếu dựa vào thông tin phi tài chính, các thông
tin cần thiết trong giấy đề nghị vay vốn cùng với các thông tin khác về KH do
NH thu thập sẽ được nhập vào máy tính, thông qua hệ thống thông tin tín dụng để
phân tích, xử lý bằng phần mềm cho điểm. Kết quả sẽ đưa ra một con số điểm tín
dụng chỉ mức độ rủi ro tín dụng của người vay. Hiệu quả kỹ thuật này cao, giúp
ích đắc lực cho quản trị rủi ro đối với KH là cá nhân. Vì đối tượng này không có
báo cáo tài chính hoặc thiếu thông tin nên thường khó khăn trong tiếp cận ngân hàng.
- Xếp loại tín dụng: áp dụng đối với doanh nghiệp lớn, có đủ báo cáo tài chính,
số liệu thống kê tích lũy nhiều thời kỳ phục vụ cho việc xếp loại.
Bao gồm 2 loại phân tích:
+ Phân tích phi tài chính: Sử dụng các mô hình lượng như 6C, 5P ….
Tuy tên gọi các tiêu chuẩn khác nhau, nhưng về bản chất, cách xem xét các yếu tố
để cấp tín dụng thì các mô hình trên đều tương đồng nhau.
+ Phân tích tài chính: Đối với khoản vay của doanh nghiệp, thì ngoài các yếu
tố phi tài chính, NH còn sử dụng các chỉ tiêu tài chính để đánh giá khả năng trả nợ của
doanh nghiệp. Đây là việc phân tích hiện trạng tài chính, khái quát khả năng quản trị
vốn và các hoạt động kinh doanh qua số liệu trong các báo cáo tài chính của doanh
Trang 23

nghiệp. Một số chỉ tiêu phân tích tài chính thường áp dụng là: Nhóm chỉ tiêu thanh
khoản; Nhóm chỉ tiêu hoạt động; Nhóm chỉ tiêu cân nợ; Nhóm chỉ tiêu doanh lợi, …
Tùy theo từng loại hình tín dụng mà NH quan tâm đến các chỉ số khác nhau:
cho vay ngắn hạn thì lưu ý đến các chỉ số vốn lưu động, chỉ số về nợ, cho vay dài hạn
thì quan tâm đến chỉ số sinh lời, khả năng trả nợ.
* Đánh giá rủi ro danh mục: Mô hình xác định giá trị rủi ro tới hạn-Value at
Risk(VaR)
Giá trị tới hạn VaR của một danh mục tài sản được định nghĩa là khoản lỗ tối đa
trong một thời gian nhất định nếu loại trừ những trường hợp xấu nhất hiếm khi xảy ra.
Đây là phương pháp đánh giá mức rủi ro của một danh nục đầu tư theo 2 tiêu chuẩn:
giá trị danh mực đầu tư và khả năng chịu đựng rủi ro của nhà đầu tư.
Có thể hiểu “ Nếu không tồn tại sự kiện đặc biệt thì tổn thất tối đa trong X% các
trường hợp sẽ không vượt quá V đồng trong vòng N ngày”. Biến số V là giá trị rủi ro
tới hạn của danh mục tài sản, phụ thuộc vào 3 thông số:
- Độ tin cậy
- Thời gian đo lường VaR
Sự phân bổ lời/lỗ trong khoảng thời gian này. Trong đó đường phân bổ khoản
lời lỗ của danh mục đầu tư thể hiện thông số quan trọng nhất và khó xác định nhất.
Nếu tính vốn của ngân hàng theo mức độ rủi ro của thị trường, thì các nhà quản
trị sẽ sử dụng N=10 ngày và X=99. Điều này có nghĩa là họ tập trung vào mức thu lỗ
trong thời gian 10 ngày mà nó được hy vọng rằng không vượt quá 1%. Vốn mà họ yêu
cầu ngân hàng duy trì ít nhất gấp 3 lần giá trị rủi ro tới hạn này.
* Tính toán tổn thất tín dụng
Các ngân hàng sử dụng hệ thống cơ sở dữ liệu nội bộ để đánh giá rủi ro tín dụng,
từ đó xác định hệ số an toàn vốn tối thiểu, khả năng tổn thất tín dụng.
EL = PD x EAD x LGD
EL: Expected Loss: Tổn thất tín dụng ước tính
PD: Probability of Default: Xác xuất không trả được nợ
EAD: Exposure at Default: Tổng dư nợ của KH tại thời điểm không trả được nợ
Trang 24

LGD: Loss Given Default: Tỷ trọng tổn thất ước tính
1.2.4.3 Quản trị rủi ro tín dụng
Sau khi đo lường rủi ro, việc cần thiết mà các ngân hàng cần quan tâm là quản trị
rủi ro tín dụng: quản trị rủi ro bằng biện pháp tuân thủ những nguyên tắc tín dụng thận
trọng, quản trị rủi ro bằng biện pháp đặt ra hạn mức cho vay, quản trị rủi ro tín dụng
bằng việc đưa ra định hướng cấp tín dụng và chính sách tín dụng: ngân hàng tham gia
xây dựng và duy trì một chính sách tín dụng năng động với những tiêu chuẩn tín dụng
cao nhất có thể áp dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, đảm bảo các chính
sách này đề cập đầy đủ đến các khía cạnh rủi ro và lợi nhuận. Các chính sách tín dụng
phải phù hợp với thực tế của từng khu vực nhằm bảo vệ được quyền lợi lâu dài của
ngân hàng mà không kìm hãm tăng trưởng kinh doanh.
1.2.4.4 Kiểm soát và xử lý rủi ro
Kiểm soát rủi ro tín dụng bao gồm kiểm soát trước, trong và sau khi cho vay quá
trình này chiếm 35% nhân lực của ngân hàng.
Kiểm soát trước khi cho vay bao gồm: kiểm soát quá trình thiết lập chính sách,
thủ tục, quy trình cho vay; kiểm tra quá trình lập hồ sơ vay vốn và thẩm định, các kiểm
tra viên thực hiện đối chiếu với quy định để kiểm tra tính đầy đủ, hợp pháp của hồ sơ
vay vốn, kiểm tra tính chính xác của các số liệu tính toán và thẩm định trên hồ sơ tín
dụng.
Kiểm tra trong khi cho vay: kiểm soát một lần nữa hợp đồng tín dụng; kiểm tra
quá trình giải ngân bao gồm đối chiếu xác nhận của khách hàng với số liệu tại ngân
hàng để từ đó phát hiện các trường hợp vay hộ, lập hồ sơ giải ngân vay vốn thiếu giấy
tờ cần có…..
Kiểm tra sau khi cho vay: kiểm tra việc đôn đốc thu hồi nợ, kiểm soát tín dụng
nội bộ độc lập, đánh giá lại chính sách tín dụng. Tham gia quá trình này, cần có cơ
quan Thanh tra Ngân hàng Trung Ương và bộ phận kiểm soát của ngân hàng( gồm bộ
phận kiểm tra kiểm soát nội bộ, quản trị tín dụng). Ngoài ra, cần có sự tham gia của
các cơ chế giám sát từ bên ngoài như cơ quan kiểm toán độc lập, Uỷ ban giám sát ngân
hàng.
Nếu khoản nợ bị xét vào diện quá hạn và có vấn đề, hoạt động kiểm soát sau khi
cho vay còn có hoạt động xử lý nợ.
Trang 25

Khi xếp hạng rủi ro tín dụng, một khoản vay bị xếp xuống nhóm nợ xấu thì ngân
hàng sẽ chuyển sang bộ phận xử lý nợ xấu, thực hiện rà soát khoản vay, lập phương án
gặp gỡ khách hàng để tìm hướng khắc phục thông qua các hình thức:gia hạn nợ,
chuyển nợ quá hạn thành vốn cổ phần nếu là doanh nghiệp cổ phần, chứng khoán hoá
các khoản nợ. Hiện nay, đang tồn tại 2 loại xử lý nợ xấu:
Một là: hình thức xử lý khai thác bao gồm cho vay thêm, bổ sung tài sản bảo
đảm, chuyển nợ quá hạn, thực hiện khoanh nợ, xoá nợ (chỉ định đại diện tham gia
quản lý doanh nghiệp).
Hai là: hình thức xử lý các biện pháp thanh lý: xử lý nợ tồn ( có tài sản đảm bảo
và không có tài sản đảm bảo, đối tượng để thu nợ tồn động có tài sản đảm bảo và đối
tượng còn hoạt động; thanh lý doanh nghiệp, khởi kiện, bán nợ), sử dụng dự phòng rủi
ro và sự trợ giúp của Chính phủ( đối với các khoản cho vay có chỉ định)
Trong các phương pháp trên, các NHTM thường hay sử dụng dự phòng rủi ro để
xử lý nợ, do có tính chủ động và nhanh chóng. Tuy nhiên về bản chất, hình thức sử
dụng dự phòng sẽ làm tăng chi phí và ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của ngân
hàng vì khi đó vốn cho vay không thu hồi được.
1.2.5 Nguyên tắc của Basel về quản lý rủi ro tín dụng
Như vậy từ chỗ là diễn đàn trao đổi kinh nghiệm, hợp tác quốc tế về thanh tra và
giám sát ngân hàng, Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng ngày nay đã trở thành cơ
quan xây dựng và phát triển các chuẩn mực về giám sát ngân hàng được quốc tế công
nhận. Ủy ban Basel đã ban hành 17 nguyên tắc về quản lý nợ xấu mà thực chất là đưa
ra các nguyên tắc trong quản trị rủi ro tín dụng, đảm bảo tính hiệu quả và an toàn trong
hoạt động cấp tín dụng.Các nguyên tắc này tập trung vào các nội dung cơ bản:
+ Xây dựng môi trường tín dụng thích hợp(3 nguyên tắc): trong nội dung này
Ủy ban Basel yêu cầu Hội đồng quản trị phải thực hiện phê duyệt định kỳ chính
sách rủi ro tín dụng, xem xét rủi ro tín dụng và xây dựng một chiến lược xuyên
suốt trong hoạt động của ngân hàng như tỷ lệ nợ xấu, mức độ chấp nhận rủi ro…...
Trên cơ sở đó, Ban Tổng giám đốc có trách nhiệm thực thi các định hướng này và
phát triển các chính sách, thủ tục nhằm phát hiện, đo lường, theo dõi và kiểm soát
nợ xấu trong mọi hoạt động, ở cấp độ của từng khoản tín dụng và cả danh mục đầu
tư. Các ngân hàng cần xác định quản trị rủi ro tín dụng trong tất cả các sản phẩm
và hoạt động của mình, đặc biệt là sản phẩm mới phải có sự phê duyệt của Hội đồng
Trang 26

quản trị hoặc Ủy ban của Hội đồng quản trị..
+ Thực hiện cấp tín dụng lành mạnh(4 nguyên tắc): các ngân hàng cần xác
định rõ ràng các tiêu chí cấp tín dụng lành mạnh như thị trường mục tiêu, đối tượng
khách hàng, điều khoản và điều kiện cấp tín dụng .... Ngân hàng cần xây dựng các
hạn mức tín dụng cho từng loạ i khách hàng vay vốn và nhóm khách hàng
vay vốn để tạo ra các loại hình rủi ro tín dụng khác nhau nhưng có thể so sánh và
theo dõi được trên cơ sở xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng trong các lĩnh
vực, ngành nghề khác nhau. Ngân hàng cần phải có quy trình rõ ràng trong phê
duyệt tín dụng, các sửa đổi tín dụng với sự tham gia của các bộ phận tiếp thị, bộ
phận phân tích tín dụng và bộ phận phê duyệt tín dụng cũng như trách nhiệm rạch
ròi của các bộ phận tham gia. Đồng thời cần phát triển đội ngũ nhân viên quản lý
rủi ro tín dụng có kinh nghiệm, kiến thức nhằm đưa ra các nhận định thận trọng
trong việc đánh giá, phê duyệt và quản lý rủi ro tín dụng. Việc cấp tín dụng cần
được thực hiện trên cơ sở giao dịch công bằng giữa các bên, đặc biệt cần có sự cẩn
trọng và đánh giá hợp lý đối với các khoản tín dụng cấp cho các khách hàng có quan
hệ.
+ Duy trì quá trình quản lý, đo lường và theo dõi tín dụng phù hợp(6 nguyên
tắc): Các ngân hàng cần có hệ thống quản lý cập nhật đối với các danh mục đầu tư
có rủi ro tín dụng, bao gồm cập nhật hồ sơ tín dụng, thu nhập thông tin tài chính
hiện hành, dự thảo các hợp đồng vay ... theo quy mô và mức độ phức tạp của ngân
hàng. Các chính sách rủi ro tín dụng của ngân hàng cần nêu cụ thể cách thức quản lý
các khoản tín dụng có vấn đề. Trách nhiệm đối với các khoản tín dụng này có thể
giao cho bộ phận tiếp thị hay bộ phận xử lý nợ hoặc kết hợp cả hai bộ phận này, tùy
theo quy mô và bản chất của mỗi khoản tín dụng. Ủy ban Basel cũng khuyến khích
các ngân hàng phát triển và xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ trong quản
t r ị r ủ i r o t í n d ụ n g , giúp phân biệt các mức độ rủi ro tín dụng trong các tài sản có
tiềm năng rủi ro của ngân hàng.
+ Bảo đảm kiểm soát đầy đủ đối với rủi ro tín dụng( 4 nguyên tắc): Đồng thời
hệ thống này phải có khả năng nắm bắt và kiểm soát tình hình tài chính, sự tuân thủ
các cam kết của khách hàng ... để phát hiện kịp thời những khoản vay có vấn đề.
Ngân hàng cần có hệ thống khắc phục sớm đối với các khoản tín dụng xấu, quản lý
các khoản tín dụng có vấn đề. Xây dựng hệ thống đánh giá liên tục, độc lập về các
quá trình quản trị rủi ro tín dụng và kết quả đánh giá cần được báo cáo trực tiếp cho
Trang 27

Hội Đồng Quản Trị và Ban (Tổng) giám đốc.
Như vậy trong xây dựng mô hình quản lý rủi ro tín dụng, nguyên tắc Basel có
một số điểm cơ bản:
- Tách bạch bộ máy cấp tín dụng theo các bộ phận tiếp thị, bộ phận phân tích tín
dụng và bộ phận phê duyệt tín dụng cũng như trách nhiệm rạch ròi của các bộ phận
tham gia.
- Nâng cao năng lực của cán bộ quản lý rủi ro tín dụng.
- Xây dựng một hệ thống quản lý và cập nhập thông tin hiệu quả để duy trì một
quá trình đo lường, theo dõi tín dụng thích hợp, đáp ứng yêu cầu thẩm định và quản lý
rủi ro tín dụng.
1.2.6 Một số mô hình quản trị rủi ro tín dụng
Các mô hình này rất đa dạng bao gồm cả định lượng và định tính. Một số mô
hình phổ biến sau:
1.2.6.1 Mô hình định tính- Mô hình chất lượng 6 C
Trọng tâm của mô hình này là xem xét liệu người vay có thiện chí và khả năng
thanh toán các khoản vay khi đến hạn hay không. Cụ thể bao gồm 6 yếu tố:
- Tư cách người vay( Character ): Cán bộ tín dụng phải làm rõ mục đích xin vay
của khách hàng, mục đích vay của khách hàng có phù hợp với chính sách tín dụng hiện
hành của ngân hàng và phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của khách hàng hay
không, đồng thời xem xét về lịch sử đi vay và trả nợ vay đối với khách hàng cũ; còn
khách hàng mới thì cần thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác như từ Trung tâm
thông phòng ngừa rủi ro, từ ngân hàng khác hoặc các cơ quan thông tin đại chúng….
- Năng lực của khách hàng ( Capacity ): Tùy thuộc vào quy định luật pháp của
quốc gia, đòi hỏi người đi vay phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi
dân sự.
- Thu nhập của người vay( Cash ): Trước hết, phải xác định được nguồn trả nợ
của người vay như luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay thu nhập, tiền từ bán thanh lý
tài sản, hoặc tiền từ phát hành chứng khoán….Sau đó cần phân tích tình hình tài chính
của doanh nghiệp vay vốn thông qua các chỉ số tài chính.
- Bảo đảm tiền vay( Collateral ): Đây là điều kiện để ngân hàng cấp tín dụng và
là nguồn tài sản thứ hai có thể dùng để trả nợ vay cho ngân hàng.
- Các điều kiện( Conditions ): Ngân hàng quy định các điều kiện tùy theo chính
sách tín dụng theo từng thời kỳ.
Trang 28

- Kiểm soát( Control ): tập trung vào những vấn đề như sự thay đổi của luật pháp,
quy chế hoạt động đến khả năng KH đáp ứng được các tiêu chuẩn của ngân hàng.
Việc sử dụng mô hình này tương đối đơn giản, song hạn chế là phụ thuộc vào
mức độ chính xác của nguồn thông tin thu thập, khả năng dự báo cũng như trình độ
phân tích, đánh giá của CBTD.
Ngoài ra, còn có các mô hình đánh giá như 5P(dựa trên các yếu tố: Purpose: mục
đích, Payment: thanh toán, Protection: bảo vệ, Policy: chính sách, Pricing: Định giá)
hoặc nhóm đánh giá CAMPARI(dựa trên các yếu tố: Character: tư cách người vay,
Ability: năng lực vay và hoàn trả nợ vay, Magin: lãi cho vay, Purspose: mục đích vay,
Amount: số tiền, Repayment: hoàn trả, Insurance: đảm bảo). Tuy tên gọi các tiêu
chuẩn khác nhau nhưng về bản chất, cách xem xét các yếu tố để cấp tín dụng thì cả 3
cách đánh giá trên đều tương đồng nhau.
1.2.6.2 Mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng:
Hiện nay, hầu hết các ngân hàng đều sử dụng mô hình định lượng để lượng hóa
được rủi ro và dự báo những tổn thất có thể xảy ra trong quá trình cấp tín dụng. Các
mô hình thường được sử dụng:
* Mô hình xếp hạng của Moody và Standard & Poor
Rủi ro tín dụng trong cho vay và đầu tư thường được thể hiện bằng việc xếp hạng
trái phiếu và khoản cho vay. Trong đó Moody và Standard&Poor là những công ty
cung cấp dịch vụ này tốt nhất. Moody và Standard&Poor xếp hạng trái phiếu và khoản
cho vay theo 9 hạng chất lượng giảm dần. Trong đó 4 hạng đầu ngân hàng nên cho
vay, còn các hạng sau thì không nên đầu tư, cho vay.
Nguồn
Moody

Xếp hạng

Tình trạng

Aaa

Chất lượng cao nhất, rủi ro thấp nhất

Aa

Chất lượng cao

A

Chất lượng trên trung bình

Baa

Chất lượng trung bình

Ba

Chất lượng trung bình, mang yếu tố đầu cơ

B

Chất lượng dưới trung bình

Caa

Chất lượng kém

Ca

Mang tính đầu cơ, có thể vỡ nợ
Trang 29

Standard & Poor

C

Chất lượng kém nhất, triển vọng xấu

AAA

Chất lượng cao nhất, rủi ro thấp nhất

AA

Chất lượng cao

A

Chất lượng trên trung bình

BBB

Chất lượng trung bình

BB

Chất lượng trung bình, mang yếu tố đầu cơ

B

Chất lượng dưới trung bình

CCC

Chất lượng kém

CC

Mang tính đầu cơ, có thể vỡ nợ

C

Chất lượng kém nhất, triển vọng xấu

Tóm lại: NH đánh giá xác suất rủi ro của người vay, từ đó định giá các khoản
vay. Việc này phụ thuộc vào quy mô của khoản vay và chi phí thu nhập thông tin.
* Mô hình điểm số Z
Do Giáo sư Edward I.Altman trường kinh doanh Leonard N. Stern thuộc trường
Đại học New York xây dựng dựa vào việc nghiên cứu khá công phu trên số lượng
nhiều công ty khác nhau tại Mỹ dùng để chấm điểm tín dụng đối với các doanh nghiệp
vay vốn, nhằm mục đích phân loại mức độ rủi ro tín dụng dựa trên các chỉ tiêu ( Xj )
phản ánh đặc điểm tài chính và kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong đó:
X1= Vốn lưu động/ tổng tài sản
X2= Lợi nhuận tích luỹ/tổng tài sản
X3= Lợi nhuận trước thuế và lãi vay/tổng tài sản
X4= Giá trị thị trường của tổng vốn sở hữu/giá trị hạch toán của tổng nợ
X5= Doanh thu/tổng tài sản có
Điểm số Z càng cao thì xác suất vỡ nợ càng thấp, như vậy khi trị số Z thấp hoặc
là một số âm sẽ là căn cứ để xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao.
* Đối với doanh nghiệp đã cổ phần hóa, ngành sản xuất:
Z= 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 0,999X5
Z <1,8: DN nguy cơ phá sản cao.
1,8 < Z <2.99: DN có thể có nguy cơ phá sản
Z > 2,99: DN chưa có nguy cơ phá sản
* Đối với doanh nghiệp đã cổ phần hóa, ngành sản xuất:
Z= 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 0,999X5
Trang 30

Z <1,8: DN nguy cơ phá sản cao.
1,8 < Z <2.99: DN có thể có nguy cơ phá sản
Z > 2,99: DN chưa có nguy cơ phá sản
* Đối với doanh nghiệp chưa cổ phần hóa, ngành sản xuất:
Z’= 0,717X1 + 0,847X2 + 3,107X3 + 0,420X4 + 0,998X5
Z’ <1,23: DN nguy cơ phá sản cao.
1,23 < Z’ <2.9: DN có thể có nguy cơ phá sản
Z’ > 2,9: DN chưa có nguy cơ phá sản
Các biến X1, X2, X3, X5 tính như trên, riêng X4 bằng giá trị sổ sách của vốn chủ
sở hữu/tổng nợ.
* Đối với doanh nghiệp đã cổ phần hóa, ngành sản xuất:
Chỉ số Z’’ dưới đây có thể được dùng cho hầu hết các ngành, các loại hình doanh
nghiệp. Vì sự khác nhau khá lớn của X5 giữa các ngành, nên X5 đã được đưa ra. Hình
thức này nhằm tối thiểu hóa ảnh hưởng tiềm năng khi một biến số nhạy cảm của doanh
nghiệp như doanh thu từ tài sản được tính vào.
Z’’= 6,56X1 + 3,26X2 + 6,72X3 + 1,05X4
Z’’ <1,1: DN nguy cơ phá sản cao.
1,1 < Z’’ <2,6: DN có thể có nguy cơ phá sản
Z’’>2,6: DN chưa có nguy cơ phá sản
Ưu điểm: kỹ thuật đo lường rủi ro tín dụng tương đối đơn giản
Nhược điểm: Mô hình này chỉ cho phép nhóm khách hàng vay có rủi ro và không
rủi ro.
* Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng
Ngoài mô hình điểm số Z, nhiều ngân hàng còn áp dụng mô hình cho điểm để xử
lý đơn xin vay của người tiêu dùng như: mua xe hơi, trang thiết bị gia đình, bất động
sản,…Các yếu tố quan trọng trong mô hình cho điểm tín dụng bao gồm: hệ số tín
dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ thuộc, sở hữu nhà, thu nhập, điện thoại
cố định, tài khoản cá nhân, thời gian làm việc.
Mô hình này thường sử dụng khoảng 8 hạng mục, mỗi hạng mục được cho điểm
từ 1-10. Những hạng mục và mức điểm này được các ngân hàng ở Mỹ sử dụng. Khách
hàng có điểm số cao nhất theo mô hình với 8 hạng mục là 43 điểm, thấp nhất là 9
điểm. Theo cách tính toán, các NH nhận thấy rằng ở mức 28 điểm là ranh giới giữa

Trang 31