Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 1TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG& QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG

CHƯƠNG 1TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG& QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG

Tải bản đầy đủ

1.1.2.1 Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia
như sau: sơ đồ 1
Rủi ro
tín dụng

Rủi ro
giao dịch

Rủi ro
lựa chọn

Rủi ro
bảo đảm

Rủi ro
danh mục

Rủi ro
nghiệp vụ

Rủi ro
nội tại

Rủi ro
tập trung

Theo sơ đồ trên, rủi ro tín dụng được chia thành hai loại: rủi ro giao dịch và rủi
ro danh mục.
- Rủi ro giao dịch: Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát
sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá
khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và
rủi ro nghiệp vụ.
+ Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín
dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định
cho vay.
+ Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong
hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và
mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo.
+ Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay, hoạt
động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các
khoản cho vay có vấn đề.
- Rủi ro danh mục: Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát
sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân
chia thành hai loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
+ Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng
biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc
điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn.
Trang 14

+ Rủi ro tập trung là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối
với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một
ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một
loại hình cho vay có rủi ro cao.
1.1.2.2 Căn cứ vào tính khách quan, chủ quan rủi ro tín dụng được phân chia
như sau:
- Rủi ro khách quan: là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai,
dịch họa, người vay bị chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác làm thất
thoát vốn vay trong khi người vay đã thực hiện nghiêm túc chế độ chính sách.
- Rủi ro chủ quan: do nguyên nhân thuộc về chủ quan của người vay và người
cho vay vì cố ý làm thất thoát vốn vay hay những lý do chủ quan khác.
Ngoài ra còn nhiều hình thức phân loại khác như phân loại căn cứ theo cơ cấu các
loại hình rủi ro, phân loại theo nguồn gốc hình thành, theo đối tượng sử dụng vốn
vay….
1.1.3 Các hình thức của rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng có thể xảy ra ở 4 trường hợp đối với nợ gốc và lãi:
- Không thu được lãi đúng hạn: nguy cơ rủi ro đang ở mức thấp và chỉ cần đưa
vào mục lãi treo phát sinh.
- Không thu được vốn đúng hạn: ngân hàng sẽ có khoản nợ quá hạn phát sinh.
Tuy nhiên, khoản này vẫn chưa thể coi là khoản mất mát hoàn toàn của ngân hàng vì
có thể vì lý do nào đó, khách hàng chậm trả nợ gốc và sẽ trả sau hạn cam kết trong hợp
đồng.
- Không thu đủ lãi: thì sẽ có khoản mục lãi treo đóng băng, trừ những trường
hợp ngân hàng miễn giảm lãi đó cho khách hàng.
- Không thu đủ vốn (mất vốn): khoản này ngân hàng không thể thu hồi được
(do khách hàng bị phá sản chẳng hạn) thì lúc này ngân hàng coi như gặp rủi ro tín
dụng ở mức độ cao vì đã phát sinh khoản nợ không có khả năng thu hồi, trừ những
trường hợp đặc biệt, khách hàng vay vốn hội tụ đủ các điều kiện theo quy định về xoá
nợ thì ngân hàng có thể xem xét để xoá nợ cho khách hàng.
Khi nghiên cứu về rủi ro tín dụng người ta thường chú trọng vào các nguy cơ xảy
ra rủi ro như lãi treo và đặc biệt là nợ phát sinh, còn lãi treo đóng băng và nợ quá hạn

Trang 15

không có khả năng thu hồi được coi là các tình huống rủi ro thực sự, nên thường được
xem xét để giải quyết hậu quả và rút ra bài học.
1.1.4 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng luôn tiềm ẩn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng và đã gây ra
những ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia, thậm
chí có thể lan rộng trên phạm vi toàn cầu.
1.1.4.1 Đối với ngân hàng
Khi rủi ro tín dụng xảy ra, ngân hàng không thu được nợ lãi, một phần hoặc toàn
bộ nợ gốc tiền vay, nhưng ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi
đến hạn, điều này làm cho ngân hàng bị mất cân đối trong việc thu chi. Khi không thu
được nợ vay dẫn đến vòng quay vốn tín dụng giảm, ngân hàng kinh doanh không hiệu
quả nếu rủi ro lớn có thể mất khả năng thanh khoản. Điều này làm giảm lòng tin của
người gửi tiền, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của ngân hàng. Ngân hàng không
có tiền chi trả lương cho nhân viên, những người có năng lực tốt sẽ rời khỏi ngân hàng
làm cho ngân hàng càng khó khăn thêm và thậm chí nếu trầm trọng hơn thì ngân hàng
sẽ bị phá sản.
1.1.4.2 Đối với hệ thống ngân hàng
Hoạt động ngân hàng có liên quan đến hệ thống ngân hàng, các tổ chức kinh tế xã
hội và cá nhân trong nền kinh tế. Do vậy nếu kết quả kinh doanh của ngân hàng không
tốt, thậm chí dẫn đến mất khả năng thanh toán và phá sản thì sẽ có những tác động dây
chuyền ảnh hưởng xấu đến hệ thống ngân hàng và các hoạt động khác trong nền kinh
tế. Nếu không có sự can thiệp kịp thời của NHNN, Chính phủ thì tâm lý sợ mất tiền sẽ
lây lan đến toàn bộ người gửi tiền và họ sẽ đồng loạt rút tiền tại các NHTM làm cho
các ngân hàng khác vô hình chung cũng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán và
đổ vỡ dây chuyền.
1.1.4.3 Đối với nền kinh tế
Hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng liên quan đến tất cả các ngành,
thành phần kinh tế vì đó là kênh lớn thu hút vốn và bơm tiền cho nền kinh tế.
Ngân hàng mất khả năng thanh khoản, phá sản ảnh hưởng đến tình hình sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp và các tầng lớp dân cư. Các doanh nghiệp không có
tiền trả lương dẫn đến đời sống công nhân gặp khó khăn. Hơn nữa sự khủng hoảng của

Trang 16

các ngân hàng ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế, làm cho nền kinh tế bị suy thoái, sức
mua giảm, thất nghiệp tăng và xã hội mất ổn định.
Ngoài ra rủi ro tín dụng cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới, vì ngày nay nền
kinh tế mỗi quốc gia đều phụ thuộc ngày càng nhiều vào nền kinh tế khu vực và thế
giới. Điển hình là cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á(1997), cuộc khủng hoảng tài
chính Nam Mỹ(2001-2002) và mới đây là khủng hoảng cho vay dưới chuẩn Mỹ đã
làm rung chuyển toàn cầu. Mặt khác mối liên hệ tiền tệ, đầu tư giữa các nước phát
triển rất nhanh nên rủi ro tín dụng tại một nước sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế
các nước có liên quan.
1.1.4.4 Trong quan hệ kinh tế đối ngoại
Rủi ro tín dụng làm ảnh hưởng đến vai trò, vị thế và uy tín của hệ thống ngân
hàng Việt Nam trong khu vực và quốc tế đây là yếu tố quan trọng để thu hút các nguồn
lực bên ngoài, cũng cố hơn nữa môi trường quốc tế thuận lợi phục vụ phát triển kinh
tế. Với một nền kinh tế đang phát triển rất cần nhiều vốn trong và ngoài nước để đầu
tư phát triển cơ sở hạ tầng, đầu tư phát triển công nghệ cao, máy móc hiện đại…. Với
nguồn vốn bên ngoài chủ yếu là sự hình thành vốn ban đầu từ ODA và FDI. Nếu hệ
thống tài chính ngân hàng không lành mạnh cũng làm hạn chế các nguồn vốn từ bên
ngoài.
Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết sức thận trọng và có
những biện pháp phù hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng.
1.1.5 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
1.1.5.1 Nguyên nhân khách quan
Sự thay đổi của môi trường tự nhiên như thiên tai, dịch bệnh, bão lụt gây tổn
thất cho khách hàng vay vốn kinh doanh. Sự biến động bất thường của thị trường thế
giới và thị trường trong nước ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của khách hàng dẫn
đến việc mất khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Sự tấn công của hàng nhập lậu. Rủi ro
do môi trường pháp lý chưa thuận lợi và sự kém hiệu quả của cơ quan pháp luật cấp
địa phương trong việc triển khai.
1.1.5.2 Nguyên nhân chủ quan
- Từ phía khách hàng : Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong
việc trả nợ vay. Năng lực quản lý kinh doanh kém. Tình trạng khách hàng vay vốn tại
nhiều tổ chức tín dụng nên khó theo dõi được dòng tiền và dễ dẫn đến mất khả năng
Trang 17

thanh toán dây chuyền. Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch.
Doanh nghiệp cố tình lừa đảo ngân hàng.
- Từ phía ngân hàng : Sự không đầy đủ và thiếu chính xác của các thông tin
mà ngân hàng có được (về các số liệu thống kê, chỉ tiêu để phân tích và đánh giá
khách hàng….) dẫn đến những đánh giá sai lệch về hiệu quả, thời hạn cho vay và trả
nợ của dự án xin vay. Sự lơi lỏng trong quá trình giám sát trong và sau khi cho vay.
Việc tin tưởng vào tài sản thế chấp. Bảo lãnh, bảo hiểm coi đó là vật đảm bảo chắc
chắn cho sự thu hồi cả gốc và lãi tiền vay. Sự thiếu vắng một bộ phận chuyên trách
theo dõi, quản trị rủi ro, quản lý hạn mức tín dụng. Sự yếu kém trong năng lực và
phẩm chất đạo đức của một số cán bộ tín dụng ngân hàng.
1.1.6 Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng
Để đánh giá chất lượng tín dụng của NH, người ta thường dùng chỉ tiêu nợ quá
hạn, nợ xấu và kết quả phân loại nợ.
1.1.6.1 Tỷ lệ nợ quá hạn
Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và (hoặc) lãi đã quá
hạn( Nợ thuộc nhóm 2,3,4 và 5)
Dư nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn (%) = -------------------------- x 100
Tổng dư nợ
Tỷ lệ nợ quá hạn là chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá chất lượng tín dụng
của ngân hàng nói riêng và cũng là thước đo để đánh giá sự lành mạnh trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng nói chung.
Tỷ lệ này là một trong những chỉ tiêu của hệ thống, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
hoạt động tài chính của các NHTM, theo quy định tại Thông tư số 49/2004/TT-BTC
ngày 03/6/2004 của Bộ tài chính hướng dẫn thì NHTM được xếp loại A khi trong
nhóm chỉ tiêu an toàn vốn có tỷ lệ nợ quá hạn ở mức ≤ 5%.
1.1.6.2 Tỷ lệ nợ xấu
Đây là chỉ tiêu phản ánh các khoản vay của ngân hàng được đánh giá là có khả
năng tổn thất một phần hoặc toàn bộ nợ gốc. ( Nợ thuộc nhóm 3,4 và 5)
Số dư nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu (%) = ---------------------- x 100
Tổng dư nợ
Trang 18

Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước tại Quyết định số 06/2008/QĐ-NHNN
ngày 12/3/2008 về việc ban hành quy định xếp loại NHTM thì tỷ lệ nợ xấu ≤ 3%.
1.1.6.3 Phân loại nợ
Theo Quyết định 493/2005/QĐ – NHNN ngày 22/04/2005 và Quyết định số
18/2007/QĐ – NHNN ngày 25/04/2007 của Thống đốc NHNN thì TCTD thực hiện
phân loại nợ theo 5 nhóm sau:
Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn
Nhóm 2: Nợ cần chú ý
Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn
Nhóm 4: Nợ nghi ngờ
Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn
Bên cạnh đó, Quy định cũng nêu rõ, thời gian thử thách để chuyển khoản vay
quá hạn về trong hạn là 6 tháng đối với khoản nợ trung dài hạn và 3 tháng đối với
khoản nợ ngắn hạn kể từ ngày khách hàng trả đầy đủ nợ gốc và lãi vay của khoản
vay bị quá hạn hoặc khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ.
Trường hợp một khách hàng có nhiều hơn một khoản nợ với ngân hàng mà
có bất kỳ khoản nợ bị chuyển sang nhóm nợ rủi ro cao hơn thì ngân hàng buộc phải
phân loại các khoản nợ còn lại của khách hàng đó vào các nhóm nợ rủi ro cao hơn
tương ứng với mức độ rủi ro. Khi ngân hàng cho vay hợp vốn không phải với vai
trò là ngân hàng đầu mối, ngân hàng khi thực hiện phân loại các khoản nợ (bao
gồm cả khoản vay hợp vốn) của khách hàng đó vào nhóm rủi ro cao hơn giữa đánh
giá của ngân hàng đầu mối và đánh giá của ngân hàng.
Trích lập dự phòng rủi ro: Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN quy định, trên cơ
sở phân loại các khoản nợ theo 5 nhóm. Các ngân hàng phải trích lập dự phòng cụ thể
để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra, đồng thời trích lập dự phòng chung
với tỷ lệ 0,75% tổng giá trị của các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 để dự phòng
cho những tổn thất chưa xác định. Tuy nhiên việc phân loại nợ phải được NHNN
chấp thuận và phải dựa trên cơ sở xếp hạng tín dụng nội bộ có xem xét đến đặc điểm
hoạt động kinh doanh, đối tượng khách hàng, tính chất rủi ro của khoản nợ từng ngân
hàng.
Trang 19

1.2 QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
1.2.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng
Quản trị rủi ro tín dụng là việc ngân hàng thực hiện các biện pháp để kiểm soát
chất lượng tín dụng, nhằm hạn chế tổn thất do những khoản nợ xấu trong hoạt động tín
dụng gây ra.
Việc quản trị rủi ro tín dụng được dựa trên nhiều yếu tố như qui định quản lý của
nhà nước, chiến lược, triết lý, văn hoá quản trị rủi ro tín dụng của mỗi ngân hàng,
chính sách cho vay, quy trình cho vay, mức độ rủi ro có thể chấp nhận được của chính
mỗi ngân hàng.
1.2.2 Vai trò của hoạt động quản trị rủi ro tín dụng
Hoạch định phương hướng và kế hoạch phòng ngừa rủi ro. Phương hướng nhằm
vào dự đoán xác định rủi ro có thể xảy ra đến đâu, trong điều kiện nào, nguyên nhân
dẫn đến rủi ro, hậu quả ra sao……
Phương hướng tổ chức phòng ngừa rủi ro có khoa học nhằm chỉ ra những mục
tiêu cụ thể cần đạt được, ngưỡng an toàn, mức độ sai sót có thể chấp nhận được.
Tham gia xây dựng các chương trình nghiệp vụ, cơ cấu kiểm soát phòng ngừa rủi
ro, phân quyền hạn và trách nhiệm cho từng thành viên. Lựa chọn những biện pháp
phòng ngừa rủi ro, xử lý rủi ro và giải quyết ảnh hưởng do rủi ro gây ra một cách
nghiêm túc.
Kiểm tra, kiểm soát để đảm bảo việc thực hiện theo đúng kế hoạch phòng ngừa
rủi ro đã hoạch định, phát hiện các rủi ro tiềm ẩn, các sai sót khi thực hiện giao dịch,
đánh giá hiệu quả công tác phòng chống rủi ro trên cơ sở đó đề nghị các biện pháp
điều chỉnh và bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống quản trị rủi ro.
1.2.3 Nội dung cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng
1.2.3.1 Chính sách quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng
Rủi ro tín dụng của khách hàng được quản lý theo nguyên tắc toàn diện, liên tục
ở tất cả các giai đoạn có khả năng phát sinh rủi ro tín dụng, thông qua các quy định cụ
thể của từng loại nghiệp vụ tín dụng.
- Giới hạn cấp tín dụng đối với khách hàng: tuân thủ các quy định về giới hạn
cho vay, bảo lãnh đối với khách hàng theo quy định của NHNN và NHNo&PTNT
Việt Nam.
- Giới hạn tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp: thực hiện xếp hạng tín
dụng nội bộ nhằm lượng hóa mức độ rủi ro của từng khách hàng, xác định giới hạn tín
Trang 20

dụng nhằm quản lý tổng mức rủi ro tín dụng. Xếp hạng tín dụng nội bộ có 10 hạng:
AAA, AA, A, BBB, BB, B, CCC, CC, C, D, những khách hàng có mức xếp hạng tín
dụng từ CC trở xuống sẽ không cho vay. Cơ cấu điểm, mức điểm, kỹ thuật chấm điểm
áp dụng trong xếp hạng tín dụng được cải tiến liên tục thông qua thực tiễn triển khai để
phù hợp với thực tế.
- Hạn chế cấp tín dụng đối với khách hàng: tuân thủ các quy định của pháp luật
các trường hợp không được cấp tín dụng và hạn chế cấp tín dụng, đồng thời thực hiện
chủ trương giảm dư nợ tín dụng, hạn chế cấp tín dụng mới đối với các khách hàng có
dấu hiệu rủi ro (được quy định cụ thể cho từng loại khách hàng).
1.2.3.2 Chính sách phân bổ tín dụng
- Phân bổ theo vùng địa lý: thực hiện phân chia phạm vi cấp tín dụng theo khu
vực địa lý dựa trên năng lực, vị trí của từng Chi nhánh; chủ trương ưu tiên mở rộng
hoạt động tín dụng tại những nơi có điều kiện mở rộng tín dụng và chất lượng tín dụng
bảo đảm, khống chế dư nợ tín dụng tối đa đối với những chi nhánh có chất lượng tín
dụng thấp.
- Phân bổ theo kỳ hạn vay và loại tiền vay: bảo đảm sự phù hợp giữa cơ cấu kỳ
hạn và loại tiền vay với cơ cấu nguồn vốn.
- Phân bổ theo loại hình sản phẩm, đối tượng khách hàng, mặt hàng và lĩnh vực
đầu tư: đa dạng hóa các sản phẩm vay theo nguyên tắc hạn chế tối đa rủi ro, đa dạng
hóa các đối tượng khách hàng nhằm giảm thiểu hóa rủi ro có thể xảy ra, đa dạng hóa
mặt hàng và lĩnh vực đầu tư theo nguyên tắc phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế.
1.2.3.3 Thẩm quyền phán quyết
Thẩm quyền phán quyết bao gồm thẩm quyền phê duyệt giới hạn tín dụng, thẩm
quyền ra quyết định cấp tín dụng, thẩm quyền ký kết hợp đồng tín dụng. Các thẩm
quyền này được phân theo từng cấp bậc trong NHTM (Thẩm quyền phán quyết của
Hội đồng Quản trị, Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc phụ trách tín dụng, các
Trưởng/phó phòng chức năng tại Hội sở chính, Hội đồng tín dụng cơ sở, Giám đốc Chi
nhánh…)
1.2.3.4 Chính sách phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng
NHTM thực hiện phân loại nợ theo quy định của NHNN, đặc biệt những khoản
nợ xấu sẽ tăng cường phân loại nợ, đánh giá khả năng trả nợ với tần suất nhiều hơn để
phục vụ công tác quản lý chất lượng và rủi ro tín dụng. Định hướng của NHTM trong

Trang 21

thời gian tới sẽ thực hiện phân loại nợ trên cơ sở xếp hạng khách hàng và tiến tới trích
lập dự phòng theo thông lệ quốc tế tốt nhất.
1.2.3.5 Các quy định về báo cáo, kiểm tra giám sát rủi ro
Thực hiện các báo cáo theo định kỳ về chất lượng tín dụng trong toàn hệ thống
để đánh giá công tác quản lý rủi ro, đồng thời đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao
chất lượng tín dụng.
1.2.4 Quy trình quản trị rủi ro tín dụng
Trong hoạt động ngân hàng thương mại, việc quản trị rủi ro được thực hiện chủ
yếu qua các bước sau: nhận biết rủi ro, đánh giá rủi ro, theo dõi rủi ro, kiểm soát và tài
trợ rủi ro.
1.2.4.1 Nhận biết rủi ro
Nhận biết rủi ro là bước đầu tiên trong quy trình quản trị rủi ro của ngân hàng.
Nhận biết rủi ro sẽ được xét trên 2 góc độ:
* Về phía ngân hàng: Rủi ro tín dụng được thể hiện qua quy mô tín dụng, cơ cấu
tín dụng, nợ quá hạn, nợ xấu và dự phòng rủi ro. Do đó, khi các yếu tố này có xu
hướng thiên lệch như quy mô tín dụng tăng quá nhanh vượt quá khả năng quản lý của
ngân hàng hay là cơ cấu tín dụng tập trung quá mức vào một ngành, một lĩnh vực rủi
ro hoặc là các chỉ số nợ quá hạn, nợ xấu có dấu hiệu vượt ngưỡng cửa cho phép, dự
phòng rủi ro được sử dụng hết, ngân hàng đứng trước nguy cơ rủi ro.
* Về phía khách hàng: khi khách hàng có những dấu hiệu khó có khả năng trả
được nợ, tình hình tài chính xấu, nguy cơ rủi ro sẽ xảy ra. Lúc đó, ngân hàng cần nhận
biết được khả năng xảy ra rủi ro để ra quyết định kịp thời.
Do đó, nhận biết rủi ro bao gồm các nội dung sau:
- Phân tích danh mục tín dụng của ngân hàng: là phân tích chung toàn bộ danh
mục tín dụng để nhận biết những rủi ro về quy mô tín dụng, cơ cấu tín dụng, về
ngành, về loại tiền. Cần kết hợp với dự báo kinh tế vĩ mô để đánh giá rủi ro chung của
toàn bộ danh mục tín dụng.
- Phân tích đánh giá khách hàng: là phân tích đánh giá khách hàng nhằm phát
hiện các nguy cơ rủi ro trong từng khách hàng, từng khoản nợ cụ thể. Phân tích đánh
giá khách hàng được thực hiện từ khi bắt đầu tiếp xúc khách hàng, phân tích trong
quá trình cho vay và phân tích sau khi cho vay. Để có thể phân tích đánh giá khách
Trang 22

hàng cần: thu thập thông tin về khách hàng; phân tích theo khách hàng theo các chỉ
tiêu định lượng và định tính để có những kết luận chính xác về tình trạng của khách
hàng; phân tích xử lý thông tin và xác định nguy cơ đối với khách hàng.
Với những nội dung cơ bản này, ngân hàng luôn chú trọng đến công tác quản trị
hệ thống thông tin tín dụng, hỗ trợ đắc lực cho công tác thẩm định khách hàng vay,
phòng ngừa rủi ro từ khâu thẩm định hồ sơ vay.
1.2.4.2 Đo lường rủi ro
* Đánh giá rủi ro khách hàng vay
Về cơ bản có 2 công cụ là xếp loại tín dụng đối với khách hàng doanh
nghiệp và chấm điểm tín dụng đối với k h á c h h à n g c á n h â n . Tuy nhiên, chấm
điểm tín dụng chỉ áp dụng trong hệ thống ngân hàng để đánh giá mức độ rủi ro tín
dụng đối với khoản vay của cá nhân, còn xếp hạng tín dụng áp dụng rộng rãi hơn,
không những trong hoạt động ngân hàng, kinh doanh chứng khoán mà còn trong
kinh doanh thương mại, đầu tư …
- Chấm điểm tín dụng: chủ yếu dựa vào thông tin phi tài chính, các thông
tin cần thiết trong giấy đề nghị vay vốn cùng với các thông tin khác về KH do
NH thu thập sẽ được nhập vào máy tính, thông qua hệ thống thông tin tín dụng để
phân tích, xử lý bằng phần mềm cho điểm. Kết quả sẽ đưa ra một con số điểm tín
dụng chỉ mức độ rủi ro tín dụng của người vay. Hiệu quả kỹ thuật này cao, giúp
ích đắc lực cho quản trị rủi ro đối với KH là cá nhân. Vì đối tượng này không có
báo cáo tài chính hoặc thiếu thông tin nên thường khó khăn trong tiếp cận ngân hàng.
- Xếp loại tín dụng: áp dụng đối với doanh nghiệp lớn, có đủ báo cáo tài chính,
số liệu thống kê tích lũy nhiều thời kỳ phục vụ cho việc xếp loại.
Bao gồm 2 loại phân tích:
+ Phân tích phi tài chính: Sử dụng các mô hình lượng như 6C, 5P ….
Tuy tên gọi các tiêu chuẩn khác nhau, nhưng về bản chất, cách xem xét các yếu tố
để cấp tín dụng thì các mô hình trên đều tương đồng nhau.
+ Phân tích tài chính: Đối với khoản vay của doanh nghiệp, thì ngoài các yếu
tố phi tài chính, NH còn sử dụng các chỉ tiêu tài chính để đánh giá khả năng trả nợ của
doanh nghiệp. Đây là việc phân tích hiện trạng tài chính, khái quát khả năng quản trị
vốn và các hoạt động kinh doanh qua số liệu trong các báo cáo tài chính của doanh
Trang 23

nghiệp. Một số chỉ tiêu phân tích tài chính thường áp dụng là: Nhóm chỉ tiêu thanh
khoản; Nhóm chỉ tiêu hoạt động; Nhóm chỉ tiêu cân nợ; Nhóm chỉ tiêu doanh lợi, …
Tùy theo từng loại hình tín dụng mà NH quan tâm đến các chỉ số khác nhau:
cho vay ngắn hạn thì lưu ý đến các chỉ số vốn lưu động, chỉ số về nợ, cho vay dài hạn
thì quan tâm đến chỉ số sinh lời, khả năng trả nợ.
* Đánh giá rủi ro danh mục: Mô hình xác định giá trị rủi ro tới hạn-Value at
Risk(VaR)
Giá trị tới hạn VaR của một danh mục tài sản được định nghĩa là khoản lỗ tối đa
trong một thời gian nhất định nếu loại trừ những trường hợp xấu nhất hiếm khi xảy ra.
Đây là phương pháp đánh giá mức rủi ro của một danh nục đầu tư theo 2 tiêu chuẩn:
giá trị danh mực đầu tư và khả năng chịu đựng rủi ro của nhà đầu tư.
Có thể hiểu “ Nếu không tồn tại sự kiện đặc biệt thì tổn thất tối đa trong X% các
trường hợp sẽ không vượt quá V đồng trong vòng N ngày”. Biến số V là giá trị rủi ro
tới hạn của danh mục tài sản, phụ thuộc vào 3 thông số:
- Độ tin cậy
- Thời gian đo lường VaR
Sự phân bổ lời/lỗ trong khoảng thời gian này. Trong đó đường phân bổ khoản
lời lỗ của danh mục đầu tư thể hiện thông số quan trọng nhất và khó xác định nhất.
Nếu tính vốn của ngân hàng theo mức độ rủi ro của thị trường, thì các nhà quản
trị sẽ sử dụng N=10 ngày và X=99. Điều này có nghĩa là họ tập trung vào mức thu lỗ
trong thời gian 10 ngày mà nó được hy vọng rằng không vượt quá 1%. Vốn mà họ yêu
cầu ngân hàng duy trì ít nhất gấp 3 lần giá trị rủi ro tới hạn này.
* Tính toán tổn thất tín dụng
Các ngân hàng sử dụng hệ thống cơ sở dữ liệu nội bộ để đánh giá rủi ro tín dụng,
từ đó xác định hệ số an toàn vốn tối thiểu, khả năng tổn thất tín dụng.
EL = PD x EAD x LGD
EL: Expected Loss: Tổn thất tín dụng ước tính
PD: Probability of Default: Xác xuất không trả được nợ
EAD: Exposure at Default: Tổng dư nợ của KH tại thời điểm không trả được nợ
Trang 24