Tải bản đầy đủ
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ

38
Cần nhấn mạnh rằng đồ thị phân tán chỉ cung cấp một cái nhìn ban đầu về
tương quan giữa tăng trưởng kinh tế và FDI. Để khẳng định mối tương quan này,
cần phải có những phân tích hồi quy và kiểm định giả thiết một cách đầy đủ hơn.
Đó là mục tiêu của phần tiếp theo.
4.2. Kết quả hồi quy
4.2.1. Mô hình tăng trưởng kinh tế
Phương trình hồi quy tăng trưởng kinh tế (phương trình 4.1):

Trong đó:
: sai số kết hợp
Do

là yếu tố tác động cố định theo thời gian, do đó
vừa tác động tới

, như vậy biến

vừa tác động tới
là biến

nội sinh. Tập biến công cụ của phương trình (4.1) chính là độ trễ của biến ngoại
sinh

, như vậy biến

là biến công cụ.

Bảng 4.1 trình bày tóm lược kết quả hồi quy mô hình tăng trưởng kinh tế
bằng phương pháp GMM. Kết quả nghiên cứu được trình bày một cách tóm tắt,
là kết quả hồi quy bằng phương pháp GMM sau khi đã kiểm định Hansen. Kiểm
định Hansen (hay còn gọi là kiểm định Sargan) dùng để kiểm tra tính hợp lý của
các biến công cụ được sử dụng trong mô hình. Nếu trong một mô hình có quá
nhiều biến công cụ thì mô hình này được gọi là ràng buộc quá mức

39
(overidentified). Kết quả kiểm định Hansen của nghiên cứu này cho thấy rằng ta
chấp nhận giả thiết rằng việc sử dụng các biến công cụ trong mô hình nghiên cứu
của luận văn này (các biến độ trễ của các biến giải thích ngoại sinh) là hợp lý
(Kết quả kiểm định Hansen xem trong phụ lục A).
Bảng 4.1. Kết quả hồi quy phương trình tăng trưởng kinh tế
Hệ số phương trình

Biến
lngdp1_lag

0.9230*** (0.0184621)

lnfdi1

0.0102*** (0.0029913)
-0.0051* (0.00264)

lnfdi1_lag
Lninv

0.03845*** (0.0197556)

Tertiary

0.00234*** (0.0008299)

Lngovcons

0.02885*** (0.0226038)

Phone

0.00088 (0.0008064)

Trade

0.00052** (0.0002116)

Inf

-0.00006*** (8.85e-06)
Ghi chú: Trong ngoặc đơn là sai số (robust standard errors)
* ** ***

, ,

: lần lượt có ý nghĩa ở mức 10%, 5% và 1%
Nguồn: Tính toán bằng phần mềm stata

40
Kết quả hồi quy cho thấy đa số các biến kiểm soát trong phương trình đều có
ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Cụ thể, các biến như đầu tư tư nhân (lninv),
tỷ lệ nhập học sau phổ thông (tertiary), Các khoản chi của chính phủ
(lngovcons), kim ngạch thương mại (trade), có tác động tích cực đến tăng trưởng
GDP bình quân đầu người, bằng chứng là các hệ số hồi quy ước lượng được đều
mang giá trị dương và có ý nghĩa thống kê. Ngược lại, lạm phát (inf) có tác động
tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, hệ số của biến lạm phát mang giá trị âm và có ý
nghĩa thống kê. Bên cạnh đó, các biến tỷ lệ điện thoại cố định trên 100 người dân
(phone) và biến độ trễ của FDI (lnfdi_lag) không ảnh hưởng có ý nghĩa đến tăng
trưởng kinh tế. Hay nói cách khác, các yếu tố như chi tiêu chính phủ, đầu tư tư
nhân, nguồn nhân lực hay thương mai quốc tế ảnh hưởng một cách có ý nghĩa
đến tăng trưởng kinh tế. Kết quả này thích hợp với dự đoán của mô hình tăng
trưởng ngoại sinh.
Các yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất đến tăng trưởng kinh tế là đầu tư và chi tiêu
chính phủ. Theo các hệ số hồi quy kết quả nghiên cứu trong bảng 4.1, nếu tổng
đầu tư tăng 1% sẽ làm cho GDP bình quan đầu người tăng trung bình 0.04% và
nếu chi tiêu chính phủ tăng 1% sẽ làm cho GDP bình quân đầu người tăng trung
bình 0.03%, giả sử rằng các yếu tố khác không đổi.
Cũng cần lưu ý rằng, hệ số của biến lngdp1_lag có ý nghĩa thống kê, có nghĩa
là biến độ trễ của GDP bình quân đầu người có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh
tế. Hay nói cách khác, tăng trưởng kinh tế của năm trước càng cao sẽ tạo tiền đề
để thúc đẩy tăng trưởng trong năm hiện tại. Điều này càng khẳng định cho quan
điểm rằng tăng trưởng kinh tế của các quốc gia đang phát triển luôn có yếu tố xu
thế, tức là GDP bình quân đầu người của các quốc gia này luôn có xu hướng tăng
lên theo thời gian.

41
Mối quan tâm của nghiên cứu này là tác động của FDI đến tăng trưởng kinh
tế. Kết quả ước lượng cho thấy tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế là có ý
nghĩa. Cụ thể, theo kết quả hồi quy phương trình khi FDI tăng lên 1% thì GDP
bình quân đầu người sẽ tăng xấp xỉ 0.01%, trong điều kiện các yếu tố khác
không đổi. Kết quả trên chấp nhận giả thiết H1, tức FDI của một quốc gia có tác
động tích cực đến tăng trưởng kinh tế của quốc gia đó. Kết quả tương tự cũng
được tìm thấy bởi các nghiên cứu trước đây chẳng hạn như Kueh (1992),
Blomstrom et al. (1992), Athukorala và Menon (1995), Mihai Daniel Roman và
Andrei Padureanu (2012), hay các nghiên cứu cho Việt Nam như Nguyễn Thị
Tuệ Anh và cộng sự (2006), Le Thanh Thuy (2007) và Le Viet Anh (2009).
4.2.2. Mô hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Phương trình hồi quy thu hút vốn đầu tư nước ngoài:

(4.2)
Trong đó sai số vit có thể tách thành các thành phần như sau:
được gọi là sai số kết hợp.
Do sai số

là yếu tố tác động cố định theo thời gian,

vừa tác động tới

, như vậy biến

vừa tác động tới
là biến

nội sinh. Tập biến công cụ của phương trình (4.2) chính là độ trễ của biến ngoại
sinh

, như vậy biến

là biến công cụ.

42
Kết quả phương trình hồi quy thu hút vốn đầu tư nước ngoài theo phương
pháp GMM được trình bày trong bảng 4.2. Kết quả kiểm định Hansen của
nghiên cứu cho mô hình thu hút FDI cho thấy rằng việc sử dụng các biến độ trễ
làm biến công cụ (xem trong phụ lục B).
Bảng 4.2. Kết quả hồi quy phương trình thu hút FDI
Hệ số phương trình

Biến

9.2626*** (2.4773)

lngdp1
lnfdi1_lag

0.1384 (0.1422)

Tertiary

-0.0244 (0.0326)

Trade

0.01401*** (0.0045)

phone

0.05312*** (0.018)

deficit

-0.04516** (0.0206)

Inf

-0.00221 (0.002)
-6.4409*** (2.1506)

lngdp1_lag

Ghi chú: Trong ngoặc đơn là sai số (robust standard errors)
* ** ***

, ,

: lần lượt có ý nghĩa ở mức 10%, 5% và 1%
Nguồn: Tính toán bằng phần mềm stata

43
Kết quả hồi quy cho thấy rằng hệ số hồi quy của biến tăng trưởng kinh tế
(lngdp1) là số dương và có ý nghĩa ở mức 1%. Điều này chứng tỏ rằng tăng
trưởng kinh tế có tác động tích cực đến vốn FDI. Theo hệ số ước lượng của biến
lngdp1 trong phương trình, khi tăng trưởng GDP bình quân đầu người tăng thêm
1% thì vốn FDI sẽ tăng thêm 9.26%, trong điều kiện các yếu tố khác được giữ cố
định. Như vậy, có thể kết luận rằng tăng trưởng kinh tế có tác động tích cực đến
vốn FDI. Hay nói cách khác, tăng trưởng kinh tế là một yếu tố giúp thu hút FDI.
Với kết quả trên, có thể chấp nhận giả thiết H2, rằng tăng trưởng kinh tế chính là
một trong các yếu tố tác động đến thu hút FDI của một quốc gia.
Đối với các biến kiểm soát phương trình (4.2) cho thấy những kết quả không
giống nhau. Chỉ có biến kim ngạch thương mại (trade) và số điện thoại cố định
trên 100 dân (phone) , ảnh hưởng tích cực đến vốn FDI, mức ý nghĩa 1%. Cụ thể,
nếu tỷ lệ kim ngạch thương mại quốc tế trên GDP tăng lên 1% thì vốn FDI thu
hút được sẽ tăn trung bình 0.014%, nếu các yếu tố khác không đổi. Tương tự, cơ
sở hạ tầng tốt sẽ tạo điều kiện thu hút vốn FDI. Cụ thể cứ tăng thêm một thuê
bao điện thoại cố định trên 100 dân tăng lên thì vốn FDI sẽ tăng lên 0.05%, trong
điều kiện các yếu tố khác được giữ cố định.
Nợ công là một yếu tố cản trở thu hút vốn FDI. Khi các yếu tố khác không
đổi, một phần trăm tăng lên trong nợ công sẽ làm giảm thu hút FDI một tỷ lệ là
0.45%, theo kết quả nghiên cứu.
Các biến kiểm soát còn lại đều các tác động tiêu cực đến vốn FDI, hệ số của
các biến này mang giá trị âm và có ý nghĩa thống kê trừ biến tỷ lệ nhập học sau
phổ thông (tertiary) và lạm phát (inf) là không có ý nghĩa thống kê. Kết quả này
hàm ý rằng FDI không phải là một biến xu thế, giá trị FDI năm trước không tác
động một cách có ý nghĩa đến giá trị FDI của năm tiếp theo. Bên cạnh đó, trình

44
độ nguồn nhân lực không phải là một yếu tố giúp thu hút vốn FDI. Có thể thấy
rằng, các nhà đầu tư nước ngoài không căn cứ vào trình độ nhân lực có kỹ năng
và chuyên môn để đầu tư vào các nước đang phát triển. Các nhà đầu tư nước
ngoài có thể căn cứ vào yếu tố nguồn lao động giá rẻ ở các quốc gia đang phát
triển để ra quyết đĩnh đầu tư của mình.
4.3. Tổng kết chương 4
Chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu về ước lượng hệ số hồi quy của các
yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng GDP bình quân đầu người và các yếu tố ảnh
hưởng đến vốn FDI. Sử dụng thang đo cho FDI là vốn FDI tính bằng dollar
thang đo tăng trưởng kinh tế là GDP bình quân đầu người. Khi xem xét ảnh
hưởng của FDI lên tăng trưởng kinh tế, nghiên cứu này tìm ra rằng FDI tính bằng
dollar có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng GDP bình quân đầu người. Ngược
lại, kết quả hồi quy các yếu tố ảnh hưởng đến FDI cho thấy rằng tăng trưởng
GDP bình quân đầu người có tác động đến cả hai thước đo của FDI, là FDI tính
bằng dollar và tính bằng tỷ lệ % trên GDP. Những kết quả nghiên cứu trên cho
thấy rằng có thể chấp nhận các giả thiết nghiên cứu được nêu ra trong phần 3, tức
là FDI có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế, đồng thời theo chiều
ngược lại, tăng trưởng kinh tế là một yếu tố giúp thu hút FDI của quốc gia đó. Từ
đó, có thể kết luận rằng có một mối tương quan hai chiều giữa FDI và GDP.

45
5. Kết luận và gợi ý chính sách
5.1. Kết luận
FDI và tăng trưởng kinh tế tương quan với nhau, tạo nên sự đa dạng, phong
phú từ lý thuyết đến thực nghiệm, với nhiều quan điểm, tranh luận nhiều chiều.
Điều đó càng làm cho các nhà nghiên cứu quan tâm để khẳng định và chứng
minh kết quả nghiên cứu của mình trong những điều kiện không gian và thời
gian cụ thể, bằng việc áp dụng các khung phân tích, các phương pháp ước lượng
tiên tiến để khẳng định những quy luật chung nhất về mối quan hệ giữa FDI và
tăng trưởng kinh tế ở phạm vi toàn cầu, ở điều kiện từng quốc gia.
Nhằm góp phần hoàn thiện lý thuyết cũng như đánh giá thực tiễn về mối quan
hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế, luận văn đã đạt được những mục tiêu nghiên
cứu: (i) Tác động của dòng vốn FDI đến tăng trưởng kinh tế các nước đang phát
triển và (ii) Chiều hướng của mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế. Đề
tài thực nghiệm với việc khai thác nguồn dữ liệu bảng của các quốc gia đang
phát triển ở châu Á giai đoạn từ 1990 đến 2014 từ Ngân hàng thế giới
(WorldBank).
Kết quả cho thấy FDI tác động dương đến tăng trưởng kinh tế, tức tác động
tích cực đến tăng trưởng GDP bình quân đầu người ở các quốc gia đang phát
triển của châu Á. Đồng thời tăng trưởng GDP bình quân đầu người cũng có tác
động tích cực đến dòng vốn FDI tại các quốc gia này. Như vậy, mối quan hệ giữa
FDI và tăng trưởng kinh tế là mối quan hệ hai chiều, tức FDI có ảnh hưởng đến
tăng trưởng kinh tế và ngược lại tăng trưởng kinh tế cũng tác động đến FDI.
5.2. Gợi ý chính sách
5.2.1. Chính sách thu hút FDI

46
Đề tài luận văn đã chứng minh tác động tích cực của tăng trưởng kinh tế đến
dòng vốn FDI. Do đó, để thu hút dòng vốn FDI đầu tư vào một quốc gia đang
phát triển, các nước này cần duy trì tăng trưởng kinh tế ổn định. Việc tăng trưởng
ổn định càng thể hiện vai trò quan trọng trong thu hút vốn FDI khi kết quả
nghiên cứu cho thấy rằng vốn FDI của năm trước sẽ có tác động tích cực đến vốn
FDI của năm sau. Do đó, chính sách thu hút FDI bằng tốc độ tăng trưởng ổn định
sẽ kích thích vốn FDI ban đầu, và qua đó duy trì việc thu hút vốn FDI cho trong
một thời gian sau đó.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn cho thấy rằng chất lượng nguồn nhân lực,
cơ sở hạ tầng, kim ngạch thương mại và chính sách kinh tế vĩ mô cũng có ảnh
hưởng một cách có ý nghĩa đến tăng trưởng kinh tế. Do đó, để thu hút vốn FDI,
các quốc gia đang phát triển ở châu Á cần có chính sách nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực đảm bảo đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp FDI (hầu hết là
các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ cao). Các quốc gia này cũng cần cải
thiện cơ sở hạ tầng, phục vụ tốt nhất cho các doanh nghiệp nước ngoài để thu hút
vốn FDI. Bên cạnh đó, đẩy mạnh thương mại, chính sách mở cửa nền kinh tế
bằng cách hội nhập vào các khối hiệp ước thương mại cũng là một chính sách
đáng lưu ý để thu hút vốn FDI. Cuối cùng, thu hút vốn FDI cần có những cơ chế,
chính sách khuyến khích của chính quyền trung ương và các địa phương.
5.2.2. Chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Kết quả nghiên cứu đã tìm ra các yếu có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng
kinh tế tại các quốc gia đang phát triển ở Châu Á bao gồm vốn FDI, vốn đầu tư
trong nước, nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng. Do đó, chính sách thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, đầu tiên, nên hướng vào việc thu hút vốn FDI (các giải pháp
nhằm thu hút vốn FDI đã được đề cập ở phần trên). Bên cạnh đó, để thúc đẩy