Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 4 – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TẠI VIỆT NAM

CHƯƠNG 4 – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TẠI VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ

33

phòng). Do đó, hoạt động huy động và cho vay của các ngân hàng thể hiện rõ tình hình
thanh khoản của hệ thống.
Biểu đồ 4.1: Tăng trƣởng tín dụng và huy động vốn ngân hàng tại Việt Nam giai
đoạn 2006 – 2013.
60%
51.40%
50%
40%

37.50%

36.50%

27.70%

30%
20%

29%

15.61%
25.40%

23.40%

10%

14.30%

0%
2006

2007

2008

2009

Tăng trƣởng tín dụng

2010

2011

8.90%
2012

12.51%
2013

Tăng trƣởng huy động

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ báo cáo thường niên của NHNN.
Bảy tháng đầu năm 2008, thanh khoản của các ngân hàng thiếu hụt trầm trọng thể hiện
ở tình trạng khan hiếm tiền đồng, chạy đua lãi suất huy động. Có lúc lãi suất tăng
nhanh chóng từ 12% lên đến 18% chỉ trong một thời gian ngắn. Mặc dù lãi suất huy
động tăng cao như vậy nhưng tình trạng thanh khoản ngân hàng vẫn luôn bị áp lực do
không thu hút được nhiều tiền gửi vào hệ thống. Sang năm 2009, tình hình thanh khoản
của các NHTM vẫn không có dấu hiệu phục hồi, buộc NHNN đề ra các kế hoạch hỗ trợ
thanh khoản cho các TCTD. Sang năm 2010 – 2012, tình hình thanh khoản trở nên ổn
định hơn trước nhờ NHNN ban hành một loạt các thông tư, quy định lãi suất, đưa ra
các gói giải cứu thanh khoản cho hệ thống ngân hàng trong nước. Tốc độ tăng trưởng
huy động vốn luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng đã tạo hệ luỵ cho năm 2013,
khi mà hệ thống ngân hàng dư thừa vốn, thanh khoản trở nên dồi dào. Một phần do sự
xiết chặt các quy định cho vay để hạn chế nợ xấu, một phần do nền kinh tế vĩ mô bất
ổn nên nhiều doanh nghiệp hạn chế mở rộng vốn cho kinh doanh. Biểu đồ 4.1 thể hiện

34

Biểu đồ 4.2: FGAPR, ROA, ROE và NIM của một số NHTMCP Việt Nam
CTG

BIDV

0.25

0.2

0.2

0.15

0.15

0.1

0.1
0.05
0.05
0

0
2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013

2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013

-0.05

-0.05

-0.1

-0.1
FGAPR

ROA

ROE

FGAPR

NIM

VCB

ROA

ROE

NIM

MDB

0.3

0.8

0.2

0.6

0.1

0.4

0

0.2
2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013

-0.1

0

-0.2

-0.2

-0.3

-0.4

2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013

FGAPR

ROA

ROE

NIM

FGAPR

Saigonbank

ROA

ROE

NIM

Kienlongbank

0.25

0.2

0.2

0.15

0.15
0.1
0.1
0.05
0.05
0

0

2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013

2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013
-0.05

-0.05
FGAPR

ROA

ROE

NIM

FGAPR

ROA

ROE

NIM

Nguồn: Tác giả tổng hợp và tính toán từ BCTC hàng năm của các NHTM Việt Nam.

35

tốc độ tăng trưởng tín dụng và huy động vốn của ngành ngân hàng trong những năm
qua. Dựa vào biểu đồ có thể thấy được sự chênh lệch đáng kể giữa tốc độ tăng trưởng
tín dụng và huy động vốn năm 2012, thể hiện việc ngân hàng gia tăng hoạt động huy
vộng vốn trong khi tín dụng giảm rõ rệt.
Biểu đồ 4.2 thể hiện các tỷ số FGAPR, ROA, ROE và NIM của 3 ngân hàng có quy mô
tài sản lớn nhất (CTG, BIDV, VCB) và 3 ngân hàng có quy mô tài sản bé nhất
(Kienlongbank, Saigonbank, MDB) trong tổng mẫu 25 NHTMCP tại Việt Nam giai
đoạn 2006 – 2013. Quan sát biểu đồ cho thấy tình hình thanh khoản của các ngân hàng
trong những năm gần đây có dấu hiệu tốt, thể hiện ở sự sụt giảm của FGAPR từ năm
2011. Mối quan hệ ngược chiều giữa FGAPR và ROA, ROE cũng như mối quan hệ
cùng chiều giữa FGAPR và NIM khá rõ rệt trong khoảng thời gian 2009 – 2012 do sự
dao động mạnh của các tỷ số này. Sự chuyển động này càng rõ hơn đối với các ngân
hàng có quy mô tài sản nhỏ. Do đó, ta có thể mong đợi một mối quan hệ ngược chiều
giữa FGAPR với ROA, ROE và cùng chiều với NIM khi thực hiện hồi quy mô hình.
4.1.2. Các nhân tố đặc thù ngân hàng
Theo số liệu được tổng hợp và tính toán từ báo cáo tài chính của các ngân hàng qua các
năm, tổng tài sản của 25 NHTMCP được chọn đã tăng hơn 5 lần trong giai đoạn 2006 –
2013, từ 689.76 nghìn tỷ đồng lên đến 3,499.15 nghìn tỷ đồng. Số liệu này được trình
bày chi tiết trong Biểu đồ 4.3. Trong đó, ngân hàng Công Thương Việt Nam luôn là
ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất qua các năm với hơn 576 nghìn tỷ đồng, chiếm 16%
trong tổng tài sản của mẫu 25 ngân hàng.
Việc gia tăng quy mô tài sản trong những năm gần đây phần nào cho thấy tiềm năng
phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam, tạo tiền đề để các hoạt động kinh doanh
của ngân hàng ngày càng mở rộng, thu về nhiều lợi nhuận hơn. Bên cạnh đó, người gửi
tiền (cá nhân, doanh nghiệp) thường có niềm tin vào các ngân hàng có quy mô lớn do

36

sự vững mạnh về tài chính của nó. Do đó, các ngân hàng có quy mô lớn thường ít đối
mặt với rủi ro thanh khoản hơn là các ngân hàng nhỏ. Tác giả kỳ vọng một mối quan
hệ ngược chiều giữa FGAPR và SIZE, mối quan hệ cùng chiều giữa SIZE và ROA,
ROE, NIM khi thực hiện hồi quy mô hình.
Biểu đồ 4.3: Tổng tài sản, vốn chủ sở hữu và tỷ lệ vốn của 25 NHTMCP Việt Nam
giai đoạn 2006 – 2013.
Đơn vị: tỷ đồng, %
4,000,000
3,500,000

8.02%

8.39%

8.76%

7.91%

8.36%
7.60%

7.72%

2010

2011

8.68%

3,000,000
2,500,000
2,000,000
1,500,000
1,000,000
500,000
2006

2007

2008

Vốn chủ sở hữu

2009

Tài sản

2012

10%
9%
8%
7%
6%
5%
4%
3%
2%
1%
0%

2013

Tỷ lệ vốn

Nguồn: Tác giả tổng hợp và tính toán từ BCTC hàng năm của các NHTM Việt Nam.
Tạo cơ sở cho việc các ngân hàng tăng quy mô tài sản là gia tăng vốn chủ sở hữu. Xuất
phát từ mục đích muốn cải tổ ngành ngân hàng hoạt động thêm hiệu quả hơn, NHNN
đã đưa ra Thông tư 13 có hiệu lực từ ngày 01/10/2010, yêu cầu các NHTM phải đáp
ứng vốn điều lệ tối thiểu 3,000 tỷ đồng. Do đó, trong những năm gần đây, các ngân
hàng trong nước, nhất là các ngân hàng nhỏ đã ra sức gia tăng nguồn vốn của mình
nhằm đáp ứng yêu cầu từ phía NHNN, vừa gia tăng năng lực cạnh tranh trong hoạt
động tài chính. Điều này thể hiện rõ hơn qua số liệu thống kê ở Biểu đồ 4.3 khi mà
nguồn vốn chủ sở hữu của mẫu 25 ngân hàng từ 55 nghìn tỷ trong năm 2006 tăng lên
hơn 300 nghìn tỷ trong năm 2013. Bên cạnh đó, vốn cổ phần luôn chiếm một tỷ trọng

37

nhất định trong cơ cấu tài sản ngân hàng, tỷ lệ vốn dao động trong khoảng 7.6% –
8.76%. Theo các lập luận trước đó rằng các ngân hàng vốn hóa tốt chịu mức chi phí
phá sản thấp hơn làm giảm chi phí vay vốn hoặc giảm nhu cầu đối với nguồn vốn bên
ngoài. Ngoài ra, ngân hàng với tiềm lực vốn mạnh có nhiều thời gian và sự linh hoạt để
đối phó với vấn đề thiệt hại bất ngờ, từ đó làm tăng lợi nhuận của ngân hàng. Qua đó,
có thể kỳ vọng một mối quan hệ cùng chiều giữa biến tỷ lệ vốn (ETA) và ROA, ROE,
NIM.
Xét về mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng. Kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO, các
ngân hàng trong nước cạnh tranh gay gắt với nhau thông qua các cuộc chạy đua về quy
mô vốn chủ sở hữu, tài sản cũng như mở rộng địa bàn hoạt động rộng khắp cả nước.
Trong nghiên cứu này, tác giả khảo sát mức độ cạnh tranh trong hệ thống NHTM Việt
Nam thông qua cạnh tranh về năng lực tài chính (quy mô tổng tài sản) của các ngân
hàng. Biến cấu trúc thị trường CON được sử dụng để đo lường mức độ cạnh tranh
trong hệ thống ngân hàng. Trong mẫu dữ liệu gồm 25 NHTMCP, 3 ngân hàng có quy
mô tài sản lớn nhất trong suốt thời gian quan sát là Công Thương Việt Nam
(Vietinbank), Đầu tư và Phát triển (BIDV), Ngoại thương (Vietcombank). Biến CON
được tính bằng cách lấy tổng tài sản của 3 ngân hàng này chia cho tổng tài sản của 25
ngân hàng được lấy mẫu. Biểu đồ 4.4 thể hiện tỷ số này qua các năm. Giá trị CON
càng cao thể hiện mức độ tập trung càng cao hay nói cách khác mức độ cạnh tranh giữa
các ngân hàng càng thấp.
Quan sát biểu đồ cho thấy giá trị CON giảm dần qua các năm thể hiện sự cạnh tranh
giữa các ngân hàng ngày càng gia tăng. Trong năm 2006, tổng tài sản của 3 ngân hàng
này chiếm đến 67.2% trong tổng số tài sản các ngân hàng được lấy mẫu, chiếm hầu hết
thị phần trong hoạt động tài chính của mình. Nhưng đến năm 2011, với sự gia tăng quy
mô tài sản mạnh mẽ từ phía các ngân hàng, cùng với sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ
của chúng đã làm cho giá trị CON giảm xuống mức thấp nhất trong suốt thời gian quan

38

sát là 41.2%. Theo các kết quả nghiên cứu trước đây, các ngân hàng tại các thị trường
tập trung cao (cạnh tranh thấp) có xu hướng cấu kết với nhau và do đó kiếm được lợi
nhuận độc quyền theo giả thuyết SCP. Tuy nhiên, với tính chất cạnh tranh ngày càng
gia tăng tại thị trường Việt Nam như hiện nay, việc các ngân hàng thu được lợi nhuận
độc quyền do cấu kết với nhau không khả thi. Do đó, tác giả kỳ vọng một mối quan hệ
âm giữa CON và ROA, ROE, NIM.
Biểu đồ 4.4: Tỷ số cấu trúc thị trƣờng CON giai đoạn 2006 – 2013.
Đơn vị: tỷ đồng, %
4,000,000
3,500,000

80%
67.2%

3,000,000

70%
60%

53.9% 52.8%
46.2%

2,500,000

42.4%

41.2% 45.4%

45.5%

50%

2,000,000

40%

1,500,000

30%

1,000,000

20%

500,000

10%

-

0%
2006

2007

2008

Tài sản 3 NHTMLN

2009

2010

2011

Tài sản 25 NHTM

2012

2013

CON

Nguồn: Tác giả tổng hợp và tính toán từ BCTC hàng năm của các NHTM Việt Nam.
Tỷ số chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trên các khoản cho vay (LLPL) được sử dụng để
đại diện rủi ro tín dụng. Chi phí dự phòng bao gồm cả dự phòng các khoản cho vay
TCTD và cho vay khách hàng. Biểu đồ 4.5 biểu diễn các tỷ số LLPL trung bình trong
mối quan hệ với ROA, ROE và NIM trung bình của mẫu 25 ngân hàng qua các năm.
Quan sát có thể thấy một sự gia tăng vượt bậc của LLPL trong năm 2008 và tiếp diễn
các năm sau đó, thể hiện việc các ngân hàng gia tăng dự phòng rủi ro cho các khoản
cho vay kể từ khi cuộc khủng hoảng kinh tế của Mỹ lây lan sang Việt Nam. Cùng với

39

đó là sự sụt giảm của ROA, ROE nhưng tăng nhẹ của NIM. Một sự thay đổi trong rủi
ro tín dụng có thể phản ánh những thay đổi trong sức khỏe của danh mục các khoản
cho vay của ngân hàng, từ đó ảnh hưởng lên lợi nhuận ngân hàng. Ngoài ra, với việc sử
dụng các khoản dự phòng để bù đắp cho các khoản vay không có khả năng thu hồi (xử
lý nợ xấu) cũng góp phần làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. Tuy nhiên, các khoản vay
rủi ro cao thường mang lại thu nhập từ lãi cao hơn do ngân hàng đánh một mức phí bảo
hiểm ngầm trong các mức lãi suất được tính phí cho các khoản vay này. Vì vậy, có thể
mong đợi LLPL có mối quan hệ ngược chiều với ROA, ROE và mối quan hệ cùng
chiều với NIM.
Biểu đồ 4.5: LLPL và ROA, ROE, NIM trung bình giai đoạn 2006 – 2013.
0.02

0.14
0.12

0.016

0.1
0.012

0.08

0.008

0.06
0.04

0.004

0.02

0

0
2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013
LLPL

2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013
ROA

ROE

NIM

Nguồn: Tác giả tổng hợp và tính toán từ BCTC hàng năm của các NHTM Việt Nam.
4.1.3. Các nhân tố kinh tế vĩ mô
Biểu đồ 4.6 biểu diễn tốc độ tăng trưởng GDP, lạm phát qua các năm, từ 2006 đến
2013. Trong hai năm đầu, nền kinh tế Việt Nam đạt mức độ tăng trưởng kinh tế khá
cao, đạt mốc 8.46% trong năm 2007 (cao nhất trong suốt khoảng thời gian quan sát).
Đây cũng là cột mốc đánh dấu sự phát triển của kinh tế Việt Nam khi gia nhập WTO
và mở cửa thị trường. Tuy nhiên, bước sang năm 2008, chịu tác động của cuộc khủng
hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu, tốc độ tăng trưởng kinh tế trong nước sụt giảm, đi

40

kèm với chỉ số giá CPI liên tục tăng cao, đẩy lạm phát trong nước lên đến 19.89%.
Năm 2009, tăng trưởng kinh tế tiếp tục sụt giảm xuống mức thấp nhất so với những
năm trước đó là 5.03%. Cùng với các chính sách kiềm hãm lạm phát, giá cả nhiều hàng
hóa đã giảm xuống mức thấp, CPI năm 2009 tăng 6.52%, thấp hơn đáng kể so với
những năm trước đó. Bước ra khỏi khủng hoảng, tình hình kinh tế năm 2010 có dấu
hiệu hồi phục nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều bất ổn do mất cân đối vĩ mô một số ngành, giá
cả các loại hàng hóa biến động tăng, lạm phát leo thang lên đến hai con số, cùng với đó
là cuộc chạy đua lãi suất giữa các ngân hàng dẫn đến hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp và người dân gặp nhiều khó khăn. Kết quả là năm 2011, tốc độ tăng
trưởng giảm còn 5.89% và tiếp tục giảm đến cuối năm 2012. Do bị ảnh hưởng bởi sự
bất ổn của kinh tế thế giới trước đó cùng với khủng hoảng nợ công ở Châu Âu, hoạt
động sản xuất và thương mại toàn cầu bị tác động mạnh. Những bất lợi từ sự sụt giảm
của kinh tế thế giới ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng
trong nước. Tuy nhiên, lạm phát năm 2011 vẫn tiếp tục tăng cao gần bằng với mức
tăng trước đó vào năm 2008 và được kiềm chế thành công vào năm 2012. Sang năm
2013, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ cùng với các chính sách tiền tệ hợp lý, nền kinh tế
đã có dấu hiệu phục hồi với tốc độ tăng trưởng GDP là 5.42%, lạm phát tăng thấp hơn
trước đó với 6.04%.
Biểu đồ 4.6: Tốc độ tăng trƣởng GDP, lạm phát giai đoạn 2006 – 2013.
25%
19.89%
18.13%

20%
12.63%

15%
10%
5%

GDPC

11.75%
8.23%

6.52%

6.81%

6.04%

8.46%
6.70%

6.31%

5.32%

6.78%

5.89%

2010

2011

5.03%

5.42%

2012

2013

INF

0%
2006

2007

2008

2009

Nguồn: Tác giả tổng hợp và tính toán từ cơ sở dữ liệu của World Bank.

41

Theo các tài liệu nghiên cứu trước đây, khi nền kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ sẽ thúc
đẩy các doanh nghiệp trong nước gia tăng đầu tư, sản xuất kinh doanh, do đó mà nhu
cầu vay vốn trên thị trường tài chính cũng sẽ cao hơn. Hoạt động cho vay nhiều trong
khi tiền gửi khách hàng không theo kịp tốc độ cho vay sẽ làm gia tăng khoảng cách tài
chính, gia tăng rủi ro thanh khoản. Tuy nhiên, với nhu cầu vay vốn ngày càng tăng, các
ngân hàng có cơ hội thu được lợi nhuận nhiều hơn từ việc nâng mức phí cho vay (ứng
với lãi suất cho vay cao hơn). Vì vậy, có thể mong đợi GDPC có mối tương quan
dương với FGAPR và ROA, ROE, NIM.
Lạm phát tăng cao và diễn biến bất ngờ phần nào làm giảm đi tính hiệu quả của hoạt
động kinh doanh ngân hàng. Lo sợ đồng tiền ngày càng mất giá vì lạm phát cao, nhà
đầu tư hạn chế gửi tiền vào ngân hàng, họ thực hiện các hoạt động đầu tư sinh lời hay
chuyển sang nắm giữ những tài sản có giá trị hơn như vàng. Nhu cầu vay vốn cao hơn
cùng với tiền gửi ít hơn làm cho khoảng cách tài chính của ngân hàng tăng, rủi ro thanh
khoản tăng. Tuy nhiên, theo các nghiên cứu trước đó, các nhà quản lý rủi ro ngân hàng
đóng vai trò quan trọng khi quyết định các chính sách phù hợp cho hoạt động của ngân
hàng trong các thời kỳ khác nhau. Nếu nhà quản lý nắm bắt đầy đủ thông tin, đưa ra
những dự đoán chính xác, điều chỉnh lãi suất phù hợp có thể giúp cho ngân hàng thu
được lợi nhuận cao hơn và ngược lại. Vì vậy, ta có thể kỳ vọng mối quan hệ giữa lạm
phát (INF) và FGAPR, các biến đại diện cho lợi nhuận ngân hàng (ROA, ROE, NIM)
là cùng chiều.
4.1.4. Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng
Bảng 4.2 trình bày các kết quả cho hai mẫu con gồm các ngân hàng lớn và các ngân
hàng nhỏ. Phân loại này dựa trên quy mô tài sản của mỗi nhóm ngân hàng, do sự chênh
lệch đáng kể giữa mỗi nhóm. Nhóm các ngân hàng lớn có quy mô tài sản trên 150.000
tỷ đồng, dưới mức này là nhóm các ngân hàng nhỏ có quy mô tổng tài sản dao động
trong khoảng 6.000 tỷ - 125.000 tỷ đồng. So sánh trong mối quan hệ giữa hai nhóm

42

Biểu đồ 4.7: LR và CR của một số NHTMCP tại Việt Nam
CTG

BIDV

12.0

1.4

10.0

1.2

8.0

1.0

6.0

0.8
0.6

4.0

0.4

2.0

0.2
0.0
2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013

0.0

-2.0

2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013
LR

CR

LR

VCB

CR

MDB

1.2

1.4
1.2

1.0

1.0

0.8

0.8

0.6

0.6
0.4

0.4

0.2
0.0

0.2

-0.2

0.0
2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013
-0.2

-0.4
-0.6

LR

CR

LR

Kienlongbank
0.80
0.70
0.60
0.50
0.40
0.30
0.20
0.10
0.00
-0.10

2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013

2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013
LR

CR

CR

Saigonbank
3.5
3.0
2.5
2.0
1.5
1.0
0.5
0.0
-0.5
-1.0
-1.5

2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013

LR

CR

Nguồn: Tác giả tổng hợp và tính toán từ BCTC hàng năm của các NHTM Việt Nam.

43

ngân hàng cho thấy LR trung bình giảm theo quy mô ngân hàng với 0.3288 đối với
nhóm các ngân hàng nhỏ và 0.3227 đối với nhóm các ngân hàng lớn, trong khi đó CR
lại tăng từ 0.2568 đến 0.5103. Chứng tỏ nhóm các ngân hàng lớn có tình hình thanh
khoản tốt hơn nhưng lại đối mặt với những rủi ro về tín dụng cao hơn. Điều này cũng
thể hiện rõ trong cả giá trị lớn nhất và nhỏ nhất của mỗi biến. Đây có thể là một dấu
hiệu cho mối tương quan âm giữa LR và CR, ngược với kỳ vọng ban đầu của tác giả.
Tuy nhiên, khi xem xét mối quan hệ giữa hai biến rủi ro này trong mỗi ngân hàng cụ
thể lại thấy có những chuyển động cùng chiều trong một khoảng thời gian ngắn, và
cũng có những chuyển động của LR và CR là ngược chiều nhau (rõ nét nhất ở ngân
hàng MDB (Phát triển Mê Kông). Biểu đồ 4.7 thể hiện giá trị LR và CR tại ba ngân
hàng có quy mô tài sản lớn nhất (thuộc nhóm các ngân hàng lớn) và ba ngân hàng có
quy mô tài sản bé nhất (thuộc nhóm các ngân hàng nhỏ) trong số 25 ngân hàng được
lấy mẫu trong bài nghiên cứu.
Bảng 4.2: Thống kê mô tả các biến trong mô hình rủi ro thanh khoản và rủi ro tín
dụng phân loại theo kích cỡ ngân hàng.
Large
banks

Mean
Small
banks

Maximum
Large
Small
banks
banks

Minimum
Large
Small
banks
banks

Std. Dev.
Large
Small
banks
banks

Obs

72

128

72

128

72

128

72

128

CR

0.5103

0.2568

9.5293

3.2031

-1.0555

-0.8507

1.3412

0.5665

LR
SIZE

0.3227
18.6659

0.3288
16.6559

0.7433
20.1723

1.2124
18.6135

-0.1659
16.2082

-0.3145
13.0115

0.2410
0.9301

0.2835
1.1797

ETA

0.0845

0.1585

0.2662

0.6141

0.0380

0.0521

0.0351

0.1060

ROA

0.0116

0.0117

0.0216

0.0473

0.0002

0.0001

0.0049

0.0082

SLD

0.3020

0.1956

1.0537

1.1688

0.0101

0.0089

0.2179

0.2118

TTA

0.0097

0.0071

0.1660

0.0739

0.0000

0.0000

0.0244

0.0154

OER

-0.1174

-0.0548

2.4728

1.4099

-0.2887

-0.3662

0.3227

0.2307

LG

38.88%

67.94%

145.95%

1132.68%

-5.98%

-37.66%

0.3572

1.3419

ATL

4.71%

10.47%

37.67%

95.35%

0.07%

0.02%

0.0561

0.2010

CTL

21.44%

18.71%

50.21%

83.66%

0.40%

0.15%

0.1081

0.1577

3.09%

3.75%

16.42%

34.09%

0.00%

0.00%

0.0381

0.0642

30.60%

41.15%

80.97%

92.62%

8.54%

0.00%

0.1876

0.2163

RETL
ITL