Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 2 - TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

CHƯƠNG 2 - TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

Tải bản đầy đủ

7

So với rủi ro tín dụng, có ít tài liệu thảo luận về rủi ro thanh khoản. Hiệp ước Basel I
(BCBS, 1988) đã đặt ra các tiêu chuẩn để quản lý rủi ro tín dụng và rủi ro thị trường.
Bên cạnh đó, Hiệp ước Basel II (BCBS, năm 2004) đã thêm các tiêu chuẩn về quản lý
rủi ro hoạt động. Tuy nhiên, cả hai hiệp định trên đều ít đề cập đến vấn đề rủi ro thanh
khoản. Landskroner và Paroush (2008) cũng chỉ ra rằng đã có những buổi học thuật
thảo luận sâu rộng về những rủi ro khác nhau trong ngân hàng: rủi ro tín dụng, rủi ro
thị trường và cả rủi ro hoạt động nhưng rủi ro thanh khoản lại ít khi được chú ý đến,
trong khi nó đã trở thành một trong những rủi ro lớn phải đối mặt của các ngân hàng và
các tổ chức tài chính khác trong những năm gần đây.
2.2. Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và lợi nhuận ngân hàng
Trong các nghiên cứu trước đây, người ta thường sử dụng các tỷ số để đo lường rủi ro
thanh khoản, như là tỷ số tài sản lưu động trên tổng tài sản (Barth et al., 2003;
Demirgüç-Kunt et al., 2003; Pavla Vodová, 2011), tỷ số tài sản lưu động trên các
khoản tiền gửi (Shen et al., 2001; Pavla Vodová, 2011) và tỷ số tài sản lưu động trên
tiền gửi ngắn hạn của khách hàng (Kosmidou et al., 2005), tỷ số tài sản lưu động dễ
chuyển đổi trên tổng nợ (Jose Arias et al., 2014). Các ngân hàng có giá trị các tỷ số này
càng cao cho thấy khả năng thanh khoản càng cao. Bên cạnh đó, một nghiên cứu khác
sử dụng các tỷ số như tỷ số vốn vay trên tổng tài sản (Athanasoglou et al., 2006; Pavla
Vodová, 2011), tỷ số các khoản vay ròng trên tiền gửi ngắn hạn của khách hàng
(Pasiouras và Kosmidou, 2007; Kosmidou, 2008; Naceur và Kandil, 2009; Pavla
Vodová, 2011) để đánh giá rủi ro thanh khoản của ngân hàng. Giá trị của các tỷ số này
càng cao, các ngân hàng càng chịu nhiều rủi ro thanh khoản.
Như vậy, bên cạnh việc sử dụng các chỉ số thanh khoản truyền thống để đánh giá rủi ro
thanh khoản ngân hàng thì ta vẫn có thể sử dụng một vài chỉ số khác để xác định mối
tương quan chặt chẽ giữa nó với rủi ro thanh khoản ngân hàng. Hơn nữa, việc đo lường
và nhận xét về rủi ro thanh khoản còn có thể được tiến hành dựa trên các phương pháp

8

về định lượng và chất lượng. Saunders và Cornett (2006) chỉ ra rằng các ngân hàng có
thể sử dụng phương pháp phân tích nguồn và sử dụng nguồn vốn; so sánh nhóm tỷ số
đồng đẳng, chỉ số thanh khoản, khoảng cách tài chính để đo lường rủi ro thanh khoản
của ngân hàng. Bên cạnh đó, theo Matz và Neu (2007), các ngân hàng có thể áp dụng
phân tích bảng cân đối kế toán, vị thế vốn góp tiền mặt để đánh giá rủi ro thanh khoản
và đánh giá rủi ro thanh khoản về chất lượng cũng quan trọng không kém gì một phép
đo định lượng dựa vào mô hình.
Sau Saunders và Cornett (2006), Chung-Hua Shen (2009) đo lường rủi ro thanh khoản
bằng cách tính toán khoảng cách tài chính của mỗi ngân hàng. Saunders và Cornett
(2006) cho rằng các ngân hàng thường coi các khoản tiền gửi nòng cốt trung bình
(average core deposit) như là một nguồn vốn ổn định, do đó nó có thể dùng để tài trợ
lâu dài cho các khoản vay trung bình của ngân hàng. Các khoản tiền gửi nòng cốt trung
bình được định nghĩa như là tiền gửi không kỳ hạn, các lệnh rút tiền có thể chuyển
nhượng (Negotiable Order of Withdrawal accounts – NOW), các tài khoản ký thác của
thị trường tiền tệ (Money Market Deposit accounts – MMDAs), các tài khoản tiết kiệm
khác và chứng chỉ tiền gửi cá nhân (CDs). Chung-Hua Shen (2009) sử dụng tiền gửi
khách hàng để thay thế cho tiền gửi nòng cốt.
Ta có thể thấy rằng tác động của rủi ro thanh khoản lên lợi nhuận ngân hàng là hỗn
hợp. Một số nghiên cứu phát hiện ra tác động cùng chiều (Barth et al., 2003; Ameira
Nur Amila Binti Sohaimi, 2013), một số khác phát hiện ra tác động ngược chiều
(Kosmidou, 2005; Kosmidou, 2008; Chung-Hua Shen et al., 2009; Jose Arias et al.,
2014; Naser Ail Yadollahzadeh Tabari et al.,2013). Bên cạnh đó, các nghiên cứu trước
đây cho thấy rằng các ngân hàng với tính thanh khoản cao thì có biên lãi ròng (NIM)
thấp hơn. (Shen et al., 2001; Demirgüç-Kunt et al., 2003; Naceur và Kandil, 2009),
nhưng cũng có nghiên cứu cho kết quả ngược lại khi cho rằng với rủi ro thanh khoản
cao có thể nhận được khoản thu nhập từ lãi cao hơn (Chung-Hua Shen et al., 2009).

9

Bên cạnh đó, các nghiên cứu này còn đề cập đến tác động của các nhân tố khác. Ví dụ
như Aspachs et al. (2005) chỉ ra rằng trong thời kỳ kinh tế suy thoái, khi hoạt động cho
vay bị hạn chế, các ngân hàng gia tăng tích trữ thanh khoản; ngược lại, khi kinh tế tăng
trưởng, cơ hội cho vay càng nhiều thì thanh khoản ngân hàng giảm. Vì vậy, khi kinh tế
tăng trưởng cao, các ngân hàng cho vay nhiều hơn nhưng lại thu hút tiền gửi ít hơn dẫn
đến sự gia tăng rủi ro thanh khoản.
Ngoài ra, sự khác biệt về chi phí có thể gây ra một mối quan hệ cùng chiều giữa kích
thước và thành quả ngân hàng, nếu đó là hiệu quả kinh tế do mở rộng quy mô có ý
nghĩa (Goddard et al., 2004). Short (1979) lập luận rằng kích thước có mối quan hệ
chặt chẽ với an toàn vốn của một ngân hàng kể từ khi các ngân hàng tương đối lớn có
xu hướng nâng cao vốn giá rẻ (less expensive capital), do đó thu nhiều lợi nhuận hơn.
Eichengreen và Gibson (2001) cho rằng tác động của kích thước lên lợi nhuận ngân
hàng có thể là cùng chiều cho đến một giới hạn nhất định. Khi vượt điểm này, ảnh
hưởng của kích thước có thể ngược chiều do tính chất quan liêu trong quản lý hay tham
nhũng. Các nghiên cứu trước đây sử dụng tỷ số vốn trên tài sản như là một biến giải
thích cho lợi nhuận ngân hàng và tìm thấy mối quan hệ giữa chúng là cùng chiều
(Kosmidou et al., 2005).
2.3. Mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và lợi nhuận ngân hàng
Tác động của rủi ro tín dụng lên lợi nhuận ngân hàng cũng bao gồm các tác động hỗn
hợp. Thay đổi trong các khoản chi phí dự phòng rủi ro tín dụng có thể phản ánh những
thay đổi trong danh mục các khoản cho vay của ngân hàng (Cooper et al., 2003;
Chung-Hua Shen et al.,2009; Naser Ail Yadollahzadeh Tabari et al., 2013; Jose Arias
et al., 2014) và nó có thể ảnh hưởng ngược chiều lên lợi nhuận ngân hàng. Bên cạnh
đó, Miller và Noulas (1997) chỉ ra rằng các tổ chức tài chính thực hiện các hoạt động
cho vay mang tính chất rủi ro cao sẽ tích lũy nhiều các khoản vay chưa thanh toán, dẫn
đến lợi nhuận thấp. Tuy nhiên, các khoản vay rủi ro cao thường cho thu nhập từ lãi cao.

10

Theo Maudos và Fernández de Guevara (2004), nguy cơ không trả nợ hoặc vỡ nợ tín
dụng từ phía khách hàng đòi hỏi các ngân hàng áp dụng một mức phí bảo hiểm rủi ro
ngầm trong các mức lãi suất cho vay, do đó ngân hàng thu được một khoản lãi vay cao
hơn từ các hợp đồng có rủi ro tín dụng cao đó.
2.4. Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng
Có hai bộ phận nghiên cứu chính dựa trên khía cạnh kinh tế vi mô của ngân hàng để
giải thích cho mối quan hệ giữa các nguồn rủi ro chính thông qua tác động của chúng
lên lợi nhuận ngân hàng: lý thuyết trung gian tài chính cổ điển, đại diện nổi bật nhất
bởi các mô hình của Bryant (1980), Diamond và Dybvig (1983) và phần mở rộng sau
đó (Diamond, 1997); và cũng bởi cách tiếp cận tổ chức công nghiệp đến hệ thống ngân
hàng, có tính năng nổi bật nhất trong mô hình Monti - Klein của các tổ chức ngân hàng
và nghiên cứu liên quan xảy ra sau đó. Các trung gian tài chính xem mô hình ngân
hàng như quỹ thanh khoản mà cung cấp cả người gửi tiền và người đi vay với sự sẵn
sàng của tiền mặt, qua đó nâng cao phúc lợi kinh tế và tiếp thu rủi ro thanh khoản nền
kinh tế. Tổ chức công nghiệp thăm dò các mô hình ngân hàng như người chấp nhận giá
lợi nhuận tối đa trong thị trường cho vay và tiền gửi độc quyền, đã đối mặt với một
đường cầu có độ dốc lên đối với các khoản tiền gửi và đường cầu dốc xuống cho các
khoản vay đối với vấn đề tăng lãi suất. Ở phía bên Tài sản, các ngân hàng tạo ra lợi
nhuận thông qua lãi suất cho vay; ở phía bên Nợ, các ngân hàng phải đối mặt với chi
phí thông qua lãi suất huy động. Các mô hình của cả hai bộ phận tài liệu nghiên cứu
trước đó cho rằng, ít nhất về mặt lý thuyết, có một mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản
và rủi ro tín dụng. Tuy nhiên, nghiên cứu không rõ ràng về câu hỏi liệu mối quan hệ
này là dương hay âm.
Một số bằng chứng lý thuyết cũng như thực nghiệm hỗ trợ cho mối quan hệ dương
giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng.

11

Rủi ro thanh khoản được xem như là một chi phí làm giảm lợi nhuận, một khoản vay
quá hạn (tức rủi ro tín dụng tăng) làm tăng rủi ro thanh khoản này vì nó gây ra dòng
tiền và khấu hao giảm (Dermine, 1986). Bryant (1980), Diamond và Dybvig (1983) và
phần mở rộng của họ (Samartín, 2003; Iyer và Puri, 2012) đã mô hình hoá các lý thuyết
về trung gian tài chính cho thấy các tài sản ngân hàng có tính rủi ro cùng với sự không
chắc chắn về nhu cầu thanh khoản của nền kinh tế gây ra sự rút tiền ngân hàng hàng
loạt. Dựa trên các mô hình này, rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng nên có mối tương
quan dương và đóng góp đồng thời cho sự bất ổn của ngân hàng.
Ý tưởng về một mối quan hệ dương giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng cũng
được hỗ trợ bởi một nội dung rất mới cũng dựa trên cuộc khủng hoảng tài chính
2007/2008, chẳng hạn như Diamond và Rajan (2005), Gorton và Metrick (2011). Mô
hình của họ được dựa trên tiền đề rằng các khoản tiền ngân hàng thu từ người gửi tiền
không có chuyên môn được sử dụng để cho vay. Các vấn đề phát sinh nếu có quá nhiều
dự án kinh tế được tài trợ bằng vốn vay không đủ sinh lợi (hoặc thậm chí vỡ nợ) và các
ngân hàng không thể đáp ứng nhu cầu của người gửi tiền. Như một hệ quả của sự suy
giảm tài sản này, ngày càng nhiều người gửi tiền sẽ yêu cầu đòi lại tiền của họ. Do đó
ngân hàng sẽ thu hồi tất cả các khoản cho vay và từ đó làm giảm toàn bộ thanh khoản
trên thị trường. Vì vậy, kết quả chính là rủi ro tín dụng cao hơn đi kèm với rủi ro thanh
khoản cao hơn thông qua nhu cầu người gửi tiền.
Một quan điểm khác về mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng được
cung cấp bởi Gorton và Metrick (2011). Phân tích thực nghiệm của họ cho thấy một sự
rút tiền hàng loạt dựa trên sự hoảng loạn của nhà đầu tư có thể xảy ra trong thời đại hệ
thống ngân hàng được chứng khoán hóa, trái ngược với các cuộc rút tiền hàng loạt
trong ngân hàng truyền thống. Bằng chứng của họ cho thấy rằng trong cuộc khủng
hoảng tài chính gần đây cho thấy rủi ro tín dụng trong hình thức các khoản cho vay
dưới chuẩn gây ra tỷ lệ tái cấp vốn và mức vay thế chấp tài trợ trên thị trường liên

12

ngân hàng tăng lên đáng kể. Mặc dù các nhà đầu tư không biết về những rủi ro cho vay
dưới chuẩn thực tế của các ngân hàng, sự sợ hãi cho các khoản đầu tư của họ gây ra
vấn đề thanh khoản nghiêm trọng cho các ngân hàng vì thị trường vốn ngắn hạn cạn
kiệt vì tỷ lệ repo (lãi suất qua đêm) và mức vay thế chấp cao hơn. Nghiên cứu này cho
thấy một cách ấn tượng rằng rủi ro tín dụng được nhận thức (trái ngược với rủi ro tín
dụng thực tế) có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản trong ngân hàng như thế nào.
Một số bằng chứng thực nghiệm hỗ trợ cho mối quan hệ âm giữa rủi ro thanh khoản và
rủi ro tín dụng.
Một nghiên cứu của Wagner (2007) cho thấy tài sản thanh khoản ngân hàng tăng dẫn
đến sự mất ổn định ngân hàng tăng cao. Nghiên cứu này cho rằng mặc dù các ngân
hàng được hưởng lợi từ phía tài sản thanh khoản hơn thay vì sự ổn định (giảm thiểu rủi
ro, tạo thuận lợi cho việc bán các tài sản trong cuộc khủng hoảng), cuộc khủng hoảng
trở nên ít tốn kém hơn cho các ngân hàng và như vậy họ có nhiều thiên hướng không
ngăn chặn chúng từ lúc xảy ra. Nghiên cứu của Gatev, Schuermann và Strahan (2009)
cho thấy rằng các khoản tiền gửi giao dịch có ích cho rủi ro thanh khoản của ngân hàng
trong thời gian rủi ro tín dụng tăng cao bởi vì chúng giúp các ngân hàng chống lại việc
giải ngân của các cam kết cho vay. Acharya, Shin và Yorulmazer (2010) dựa trên các
bằng chứng thực nghiệm cho rằng việc nắm giữ tiền mặt của các ngân hàng tăng lên rất
nhanh trong suốt tiến trình của cuộc khủng hoảng tài chính gần đây nhất. Nghiên cứu
này phát triển một mô hình trong đó việc nắm giữ thanh khoản là một lựa chọn chiến
lược từ trước của sự quản lý ngân hàng chủ động để mua sắm tài sản của các ngân hàng
khác với giá bán tháo trong thời gian khủng hoảng kinh tế. Do đó, mối quan hệ mặc
nhiên công nhận giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng một lần nữa là âm. Cuối
cùng, Acharya và Naqvi (2012) cho thấy trong thời điểm căng thẳng kinh tế vĩ mô tăng
cao (tức là trong một cuộc khủng hoảng), các hộ gia đình và doanh nghiệp gửi tài sản
của họ vào các ngân hàng. Điều này khiến các ngân hàng phong phú tiền mặt do đó

13

làm giảm "chất lượng" và giám sát của họ đối với khách hàng hiện có và vay mới. Do
đó hàm ý này là rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng không di chuyển song song, các
ngân hàng nắm giữ thanh khoản cao hơn có thể đảm nhận các danh mục cho vay với
các khoản cho vay "xấu".
Kết quả của tất cả các nghiên cứu nói trên đó là mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và
rủi ro tín dụng theo giả thuyết có thể là dương hay âm, tùy thuộc vào loại của ngân
hàng được quan sát, các giả định liên quan đến mô hình kinh doanh của các ngân hàng
và các điều kiện kinh tế trong thời gian ngân hàng hoạt động.
Tóm lại, dựa vào các kết quả nghiên cứu trên, tác giả tiến hành khảo sát thực tiễn thị
trường Việt Nam để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau:
 Các nhân tố nào tác động lên rủi ro thanh khoản ngân hàng thương mại Việt
Nam?
 Mối tương quan giữa rủi ro thanh khoản và lợi nhuận hoạt động của ngân hàng
thương mại Việt Nam?
 Có tồn tại một mối quan hệ đồng thời/trễ có thể có giữa rủi ro thanh khoản và
rủi ro tín dụng ngân hàng?

14

CHƢƠNG 3 - PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Dữ liệu và lựa chọn mẫu
Các khoản mục được dùng để tính toán các biến đặc thù ngân hàng trong bài được lấy
từ bảng cân đối kế toán, kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo luân chuyển tiền tệ,
thuyết minh báo cáo tài chính trong các báo cáo tài chính (BCTC) của 25 NHTMCP tại
Việt Nam giai đoạn 2006 – 2013. Danh sách 25 ngân hàng này được trình bày trong
Phụ lục 1. Ban đầu, tác giả thu thập dữ liệu của tất cả các NHTMCP tại Việt Nam từ
năm 2005 đến năm 2013 để khảo sát. Tuy nhiên, danh sách này được rút ngắn lại chỉ
còn 25 ngân hàng, do một lượng lớn dữ liệu liên quan của các ngân hàng không được
công bố đầy đủ hay có một số ngân hàng mới thành lập nên số liệu không đáp ứng
được yêu cầu nghiên cứu. Lưu ý rằng các vụ sáp nhập trong thời gian quan sát được
xem như các ngân hàng đã sáp nhập vào đầu thời kỳ quan sát.
Tác giả sử dụng bộ dữ liệu hàng năm cho mẫu 25 NHTM để phân tích cho các mục
tiêu nghiên cứu đã nêu ở trên. Ngoài ra, tác giả còn thu thập thêm bộ dữ liệu hàng quý
cho 5 NHTMCP có quy mô tài sản lớn nhất Việt Nam từ Q1/2009 đến Q4/2013 để
kiểm định một lần nữa mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng ngân
hàng. Có hai lý do của việc lấy mẫu 5 ngân hàng này: một là tính đại diện của nó, hai là
chỉ có 5 ngân hàng này có công bố đầy đủ dữ liệu hàng quý trong các báo cáo tài chính
của mình trong giai đoạn cần thu thập của tác giả, trong khi các ngân hàng khác thì
không.
Các dữ liệu này được lấy từ trang thông tin điện tử chính thức của mỗi ngân hàng.
Trong quá trình thu thập số liệu, một số ngân hàng chỉ công bố báo cáo tài chính tóm
tắt và/hoặc không đồng nhất trong cách lập báo cáo tài chính, do đó không cung cấp đủ
thông tin để có thể tổng hợp tất cả các biến theo như mô hình gốc, nên một số biến
không được sử dụng trong mô hình hồi quy. Bên cạnh đó, tác giả không tìm thấy cơ sở

15

nào cho việc thu thập số liệu cho các biến giám sát và quy định tại Việt Nam và cũng
không có bất cứ tài liệu nào trước đây đã nghiên cứu về vấn đề này, nên các biến OSP,
PMI, BAR cũng không được sử dụng trong mô hình.
Các biến kinh tế vĩ mô như GDP, lạm phát, lãi suất chính sách của NHNN (lãi suất cơ
bản) được lấy từ trang thông tin điện tử, mục cơ sở dữ liệu của International Financial
Statistics (IFS) thuộc Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF). Dữ liệu của một số biến vĩ mô khác
như tổng tiết kiệm cá nhân (Gross Private Savings), tỷ số tiết kiệm (Saving Ratio), lãi
suất trái phiếu Chính phủ 1 tháng và 10 năm cũng không được tìm thấy nên tác giả bỏ
qua tác động của các biến kiểm soát này lên mô hình hồi quy kiểm định mối quan hệ
giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng ngân hàng.
Dữ liệu chi tiết của các biến sử dụng trong các mô hình sau được trình bày trong Phụ
lục 4 và 5.
3.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
3.2.1. Mô hình nguyên nhân của rủi ro thanh khoản
3.2.1.1. Mô tả biến
Mô hình nguyên nhân của rủi ro thanh khoản xem xét biến đại diện cho rủi ro thanh
khoản, các biến đặc thù ngân hàng và các biến kinh tế vĩ mô.
Rủi ro thanh khoản: được đo lường bởi khoảng cách tài chính của mỗi ngân hàng,
theo như nghiên cứu Chung- Hua Shen (2009). Theo đó, khoảng cách tài chính được
định nghĩa là chênh lệch giữa các khoản cho vay của ngân hàng và tiền gửi của khách
hàng. Chia giá trị này cho tổng tài sản để tiêu chuẩn hóa, ta có được tỷ số khoảng cách
tài chính trên tổng tài sản (FGAPR) – biến đại diện cho rủi ro thanh khoản ngân hàng.