Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 3ĐO LƯỜNG SUẤT SINH LỢI VÀ RỦI RO CỦA CÁC CÔNGTY NIÊM YẾT TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁNTHÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2008-2010

CHƯƠNG 3ĐO LƯỜNG SUẤT SINH LỢI VÀ RỦI RO CỦA CÁC CÔNGTY NIÊM YẾT TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁNTHÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2008-2010

Tải bản đầy đủ

36

học và công nghệ. Tác giả không chọn do khoảng thời gian các công ty thuộc 03
ngành này bắt đầu niêm yết trên HOSE không đủ dài cho việc theo dõi sự biến động
giá, suất sinh lợi và rủi ro trước những thay đổi của nền kinh tế vĩ mô.
Trong quá trình phân tích tác giả chia mốc thời gian nghiên cứu như sau:
năm thứ nhất từ ngày 02/01/2008 đến 31/12/2008 có 245 phiên, năm thứ hai từ ngày
02/01/2009 đến 31/12/2009 có 251 phiên, năm thứ ba từ ngày 04/01/2010 đến
31/12/2010 có 250 phiên.
Bảng 3.1: Danh sách các công ty được phân tích trong luận văn
TT

Tên công ty

Ngày

Nhóm
ngành(*)

MCK

VHTT*
(Tỷ VND)

niêm yết

1

CTCP giống cây trồng trung ương

A

NSC

274

01/12/2006

2

CTCP khoáng sản Bình Định

B

BMC

205

12/12/2006

3

CTCP Cát Lợi

C

CLC

235

18/10/2006

4

CTCP điện lực Khánh Hòa

D

KHP

411

08/12/2006

5

CTCP XD&KD địa ốc Hòa Bình

F

HBC

701

22/11/2006

6

CTCP dịch vụ ô tô Hàng xanh

G

HAX

107

13/12/2006

7

CTCP Đại lý Vận tải Safi

H

SFI

158

08/12/2006

8

NHTMCP Sài Gòn Thương Tín

K

STB

14320

02/6/2006

9

CTCP phát triển nhà Bà Rịa Vũng Tàu

L

HDC

819

25/9/2007

Nguồn: data từ HOSE
Ghi chú (*):
- A: Nông, lâm nghiệp và thủy sản
- B: Khai khoáng
- C: Công nghiệp chế biến, chế tạo
- D: Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa
không khí.
- F: Xây dựng

37

- G: Bán buôn, bán lẻ; sửa chữa ôtô, xe máy và xe có động cơ khác
- H: Vận tải kho bãi
- K: Hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm
- L: Hoạt động kinh doanh bất động sản
3.2. Điều chỉnh giá khi tính toán tỷ suất sinh lợi
Tỷ suất sinh lợi được tính trên giá thực tế tại các thời điểm thực tế. Tuy nhiên,
có một trường hợp cần điều chỉnh giá khi tính toán, đó là khi công ty phát hành bổ
sung (ví dụ như phân bổ cổ tức dưới dạng cổ phiếu). Khi đó số lượng cổ phiếu tăng
lên nhưng giá cổ phiếu sẽ giảm. Nếu tính tỷ suất sinh lợi trên giá thì sẽ thấy nhà đầu
tư bị lỗ. Thực ra, thị trường rất công bằng với những phân bổ cổ tức kiểu này: giá
thị trường sẽ giảm một mức sao cho tổng giá trị công ty không đổi. Nói khác đi,
được lợi bao nhiêu lần về lượng thì bị thiệt bấy nhiêu lần về giá. Nhưng khi phân
tích thuần túy về giá thì bắt buộc phải điều chỉnh ngược lại. Mặt khác, mỗi công ty
nghiên cứu trong đề tài có thể phát hành thêm cổ phiếu để trả cổ tức hoặc bán để
tăng vốn nhiều lần trong năm, nên việc điều chỉnh giá sau khi phát hành cũng cần
phải được thực hiện tương ứng với số lần phát hành thêm.
Ví dụ, ngày 02/6/2008 công ty BMC phân bổ cho 5 cổ phiếu cũ 2 cổ phiếu
thưởng. Giá thị trường trước khi phân bổ (30/5) là 76.500 đồng. Giá thị trường sau
khi phân bổ (02/6) là 54.000 đồng. Nếu không điều chỉnh, suất sinh lợi (về vốn) của
BMC ngày 02/6 sẽ là (54.000 – 76.500)/76.500 = -29,4%. Như vậy là không công
bằng với BMC, vì vào ngày đó, không có lý do gì mà giá công ty BMC giảm xuống
1/3. Nếu cổ đông A trước ngày 02/6 có 5 cổ phiếu có giá trị là 76.500x5 =
382.500đ, sau khi được phân bổ thêm 2 cổ phiếu thưởng cổ đông A có 54.000x7 =
378.000đ. Như vậy giá trị tài sản của cô đông A giảm (-1,17%). Do vậy, cần phải
điều chỉnh giá tính toán cho hợp lý: giá điều chỉnh bằng giá thị trường sau khi phát
hành nhân với nghịch đảo của tỷ lệ phát hành, nghĩa là nhân với 7/5. Khi đó suất
sinh lợi của ngày 02/6 sẽ là [(54.000x7/5)-76.500]/76.500 = -1,17%.
Với mẫu nghiên cứu trên ghi nhận 16 đợt phát hành của 09 công ty thuộc 09
ngành, trong đó 01 đợt phát hành quyền mua cổ phiếu, 11 đợt phát hành cổ phiếu

38

thưởng hoặc/và trả cổ tức (cổ phiếu thưởng), 04 đợt vừa thưởng (hay trả cổ tức) vừa
phát hành quyền mua cổ phiếu. Cụ thể ở bảng sau đây:
Bảng 3.2: Điều chỉnh giá khi các công ty phát hành bổ sung niêm yết trên
HOSE (xếp theo thứ tự thời gian)
TT

Ngày ảnh
hưởng

Tên
Nội dung điều chỉnh

công
ty

Phát hành 2.280.000 cổ phiếu trong
1

17/01/2008

NSC
(lần 1)

đó 1.230.000 cổ phiếu cho cổ đông
(11:4) giá 25.000đ, 180.000 cổ
phiếu cho CBCNV giá 27.500đ và
780.000 cổ phiếu cho CĐCL

2

02/6/2008

BMC

3

02/6/2008

CLC

4

03/6/2008

5

23/7/2008

6

24/7/2008

7

18/6/2009

8

24/6/2009

SFI

Phát hành 2.360.520 cổ phiếu
thưởng tỷ lệ (5:2)
Phát hành 3.023.985 cổ phiếu trả cổ
tức tỷ lệ (10:3)
Phát hành 360.454 cổ phiếu trả cổ

(lần 1) tức
STB

Phát hành 66.732.212 cổ phiếu trả

(lần 1) cổ tức tỷ lệ (100:15)
HBC

Phát hành 1.620.000 cổ phiếu trả cổ

(lần 1) tức tỷ lệ (100:12)
KHP

Phát hành thưởng 3.481.817 cổ

(lần 1) phiếu
SFI

Phát hành 5.526.645 cổ phiếu trả cổ

(lần 2) tức và thưởng tỷ lệ (1:2)
Phát hành 3.724.842 cổ phiếu

9

29/6/2009

Giá điều chỉnh

HAX

thưởng tỷ lệ (100:70) và bán với giá
10.000đ tỷ lệ (100:16)

[(P*5140000)(25*1360000+
27.5*180000)]/
3600000
P*7/5
P*13/10
P*2763484/
2333480
P*115/100
P*112/100
P*20892057/
17410240
P*3/1
[(P*186)(10*16)]/100

39

10

11

12

13

14

15

16

21/7/2009

16/9/2009

12/11/2009

11/12/2009

16/4/2010

07/7/2010

07/7/2010

NSC

Phát hành thưởng và trả cổ tức

(lần 2) 2.248.721 cổ phiếu
STB
(lần 2)
HDC
(lần 1)
KHP

(lần 3)
HBC
(lần 2)

5765950
[(P*670088553)

trong đó thưởng 76.737.462 cổ

-(10*81737462)]

phiếu còn lại giá 10.000đ

/511613629

Phát hành 2.672.000 cổ phiếu trong

[(P*10800000)-

đó trả cổ tức 818.800 cổ phiếu còn

(20*1853200)]/

lại giá 20.000đ

8128000

Phát hành 20.987.368 cổ phiếu với

Phát hành 4.678.509 cổ phiếu

(lần 2) thưởng và trả cổ tức
STB

2248721)/

Phát hành 158.474.924 cổ phiếu

(lần 2) giá 10.000đ
HDC

P*(5769950+

[(P*41879425) –
(10*20987368)]/
20892057
P*15478869/
10800000

Phát hành 234.512.355 cổ phiếu

[(P*904600908) -

trong đó trả cổ tức 100.505.295 cổ

(12*134007060)]/

phiếu còn lại giá 12.000đ

670088553

Trả cổ tức 1.461.954 cổ phiếu

P*16581954/
15120000

Ghi chú: P – giá thị trường của cổ phiếu tương ứng sau khi thực hiện nghiệp
vụ về vốn. Giá điều chỉnh được sử dụng để tính suất sinh lợi.
3.3. Đo lường suất sinh lợi
Căn cứ vào phương pháp đo lường suất sinh lợi của một tài sản và của danh
mục tài sản được trình bày trong phần 1.1.1 của mục 1.1 chương I, sau khi tiến hành
bước điều chỉnh giá cho từng công ty và tính toán từ phần mềm Excel, ta có bảng
kết quả suất sinh lợi năm của từng chứng khoán và danh mục như sau:

40

Bảng 3.3.1: Suất sinh lợi của các công ty niêm yết và thị trường trên HOSE
qua 3 năm (2008-2010)
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9

MCK

BMC
CLC
HAX
HDC
KHP
NSC
SFI
STB
HBC
VN-Index
Trung bình

2008

2009

2010

-70.9%
-60.6%
-82.1%
-79.6%
-73.8%
-57.4%
-63.1%
-67.2%
-84.2%
-65.7%
-71%

-2.2%
68.0%
121.0%
251.1%
148.0%
178.7%
189.1%
64.0%
109.3%
56.8%
125.2%

-62.7%
-23.0%
-18.7%
-4.4%
-44.3%
-8.7%
-40.9%
-18.2%
38.8%
-2.0%
-20.2%

Nguồn: tính toán từ số liệu tập hợp từ http://www.ssc.gov.vn
Kết quả tính toán suất sinh lợi từng cổ phiếu và danh mục cổ phiếu qua 03
năm cho thấy chúng biến động khá mạnh, trong khi suất sinh lợi trung bình của 09
công ty ở năm 2008-2010 giảm sâu so với suất sinh lợi thị trường tương đương
(RP2008 = -71% < -65.7%, RP2010 = -20.2% < -2%) thì riêng năm 2009 suất sinh lợi
trung bình của 09 công ty bất ngờ tăng mạnh (RP = 125.2% > 56.8%). Nguyên nhân
làm cho suất sinh lợi trung bình năm 2009 có sự biến động lớn này, có lẽ do các
biện pháp kích thích kinh tế vĩ mô của Chính phủ cụ thể là chính sách tài khóa mở
rộng và chính sách tiền tệ nới lỏng thông qua gói kích cầu, đặc biệt là hỗ trợ lãi suất
4%, cũng như chính sách giảm, giãn thuế đối với doanh nghiệp đã tạo điều kiện
thuận lợi cho doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nhưng để xác định TSSL và rủi ro danh mục, trước hết ta cần xác định tỷ
trọng của từng chứng khoán thành phần trong danh mục mà cụ thể là tỷ trọng của
09 chứng khoán được khảo sát trong đề tài.
Bằng cách giả định, một NĐT sẽ đầu tư vào danh mục này với số vốn ban
đầu là 10,000 cổ phiếu/công ty. Tỷ trọng danh mục ở năm thứ nhất sẽ được tính dựa
vào giá cổ phiếu ngày đầu năm, còn tỷ trọng danh mục ở các năm sau sẽ được tính
vào giá cổ phiếu ngày cuối năm của năm trước; riêng đối với TSSL danh mục tối ưu
và rủi ro danh mục tối ưu thì tỷ trọng danh mục được tính từ tỷ trọng của danh mục

41

đã điều chỉnh cơ cấu của năm trước. Sau đây là bảng tính tỷ trọng qua từng năm:
Bảng 3.3.2: Tỷ trọng chứng khoán qua từng năm
STT

MCK

1
2
3
4
5
6
7
8
9

BMC
CLC
HAX
HDC
KHP
NSC
SFI
STB
HBC
Tổng cộng

2008
Tỷ trọng
3320000
495000
755000
1060000
400000
500000
1150000
645000
1150000
9475000

%
35
5
8
11
4
5
12
7
12
1

2009
Tỷ trọng
966000
195000
135000
216000
105000
213055.6
423970.8
211600
181440
2647066

%
36
7
5
8
4
8
16
8
7
1

2010
Tỷ trọng
%
945000 19
327600 6.6
298340
6
758287.4 12.1
260361 5.2
593838.9 11.9
1225726 24.6
347022.2
7
379680 7.6
5135855
1

Nguồn: tính toán từ số liệu tập hợp từ http://www.ssc.gov.vn
Bảng 3.3.3: Suất sinh lợi của danh mục đầu tư qua 3 năm (2008-2010)

chứng
khoán
1
BMC
2
CLC
3
HAX
4
HDC
5
KHP
6
NSC
7
SFI
8
STB
9
HBC
SSL danh mục

STT

2008
Tỷ
trọng
35%
5%
8%
11%
4%
5%
12%
7%
12%

SSL
-24.8%
-3.2%
-6.5%
-8.9%
-3.1%
-3.0%
-7.7%
-4.6%
-10.2%
-72.1%

2009
Tỷ
trọng
36%
7%
5%
8%
4%
8%
16%
8%
7%

SSL
-0.8%
5.0%
6.2%
20.5%
5.9%
14.4%
30.3%
5.1%
7.5%
94%

2010
Tỷ
trọng
19.0%
6.6%
6.0%
12.1%
5.2%
11.9%
24.6%
7.0%
7.6%

SSL
-11.9%
-1.5%
-1.1%
-0.5%
-2.3%
-1.0%
-10.1%
-1.3%
3.0%
-26.8%

Nguồn: tính toán từ số liệu tập hợp từ http://www.ssc.gov.vn

42

Bảng 3.3.4: Suất sinh lợi của DMĐT đã điều chỉnh tỷ trọng bằng Solver
giai đoạn 2008-2010

chứng
khoán
1
BMC
2
CLC
3
HAX
4
HDC
5
KHP
6
NSC
7
SFI
8
STB
9
HBC
SSL danh mục

STT

2008
Tỷ
SSL
trọng
26% -18.6%
7%
-4.2%
9%
-7.7%
12%
-9.8%
6%
-4.3%
6%
-3.3%
12%
-7.8%
8%
-5.2%
14% -11.5%
-72%

2009
Tỷ
SSL
trọng
35.7% -0.8%
7.9%
5.3%
6.6%
8.0%
11.3% 28.3%
4.8%
7.1%
4.3%
7.6%
9.7%
18.4%
7.3%
4.7%
12.5% 13.7%
92%

2010
Tỷ
SSL
trọng
24% -14.9%
10% -2.3%
8%
-1.5%
12% -0.5%
6%
-2.6%
7%
-0.6%
10% -4.0%
9%
-1.6%
14%
5.6%
-23%

Nguồn: tính toán từ số liệu tập hợp từ http://www.ssc.gov.vn
Từ bảng 3 và 4 cho thấy, khi kết hợp TSSL của 09 cổ phiếu với tỷ trọng
được tính ở bảng 3 để xác định suất sinh lợi danh mục thấy rằng, suất sinh lợi danh
mục cũng biến động mạnh và suất sinh lợi danh mục trung bình qua 03 năm thấp
hơn suất sinh lợi trung bình thị trường (Rp = -26% < -19%), nhưng khi kết hợp với
tỷ trọng đã điều chỉnh bằng Solver ta thấy suất sinh lợi danh mục trung bình tối ưu
tăng nhẹ (Rp = -25%) song nhìn chung vẫn thấp hơn suất sinh lợi thị trường. Mặc dù
suất sinh lợi danh mục năm 2009 tăng cao, nhưng vì xu hướng chủ đạo của suất sinh
lợi danh mục là âm ở năm 2008-2010 kết hợp với những biến động của nền kinh tế
vĩ mô trong và ngoài nước đã kéo theo suất sinh lợi danh mục qua 03 năm âm.
Như vậy có thể thấy, ở giai đoạn 2008-2010 cổ phiếu của những công ty có
mức VHTT thấp và trung bình có khả năng sinh lợi rất kém cho dù đã kết hợp với
tỷ trọng tối ưu thì cũng không làm suất sinh lợi danh mục bớt sụt giảm như mong
muốn của NĐT.
3.4. Một số rủi ro chính của thị trường cổ phiếu
Khi bỏ tiền ra mua cổ phiếu, NĐT phải chấp nhận rất nhiều loại rủi ro: rủi ro
có thể phân tán được và rủi ro không thể phân tán được; rủi ro bắt nguồn từ các yếu
tố ngoài thị trường, từ chính bản thân phương thức tổ chức thị trường và rủi ro bắt
nguồn từ tình hình tài chính của công ty niêm yết... Nghiên cứu này chỉ đề cập đến

43

rủi ro tổng thể, rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống.
3.4.1. Đo lường rủi ro tổng thể
Để đo lường rủi ro (mức độ biến động giá) thường được tính bằng phương
sai hoặc độ lệch chuẩn của suất sinh lợi trong một giai đoạn nào đó, theo năm,
tháng, tuần, ngày, thậm chí mỗi 5 phút. Để tính mức độ biến động suất sinh lợi
trong năm, người ta lấy mức độ biến động giá trung bình của tháng trong năm nhân
với căn bậc hai của 12 tháng. Vì TTCK Việt Nam còn non trẻ, nếu chỉ tính theo
năm, tháng, ngày sẽ không chính xác. Do vậy, trong đề tài này tác giả đo lường rủi
ro theo hai cách:
- Độ lệch chuẩn theo ngày sau đó năm hóa. Việc năm hóa được tính bằng độ
lệch chuẩn suất sinh lợi ngày nhân với căn bậc hai số lượng phiên giao dịch trong
năm lần lượt là 245, 251, 250 phiên.


ă

=

à.



ê



ă

- Độ lệch chuẩn theo tháng. Mỗi tháng được quan niệm có 21 ngày. Suất sinh
lợi tháng sẽ bằng (Pn+21 – Pn)/Pn. Cũng bằng cách tịnh tiến n nên năm thứ nhất sẽ có
224 (245-21) giá trị suất sinh lợi tháng, hai năm sau sẽ có đủ số lượng suất sinh lợi
tháng, tương đương với số phiên giao dịch (251, 250). Tuy nhiên, do số phiên năm
thứ nhất chỉ tương đương 245/21 tháng, năm thứ hai tương đương 251/21 tháng,
năm thứ ba tương đương 250/21 tháng nên khi năm hóa sẽ nhân độ lệch chuẩn suất
sinh lợi tìm được với căn bậc hai của 245/21, 251/21, 250/21.


ă

=

á

.



ê



ă

Có thể thấy rõ ảnh hưởng của việc hạn chế biên độ giao dịch của cơ quan
quản lý thị trường làm méo mó độ lệch chuẩn suất sinh lợi, chính xác là làm giảm
suất sinh lợi ngày, vì giá tăng hay giảm đến giá xứng đáng phải chờ một vài phiên .
Bảng 1 tính toán độ lệch chuẩn TSSL của thị trường/năm dựa vào chỉ số VN-Index
cho thấy tình hình đó. Với cách tính trên ngoại trừ năm 2010, hai năm còn lại, độ
lệch chuẩn suất sinh lợi/năm tính theo tháng lớn hơn tính theo ngày.

44

Bảng 3.4.1: Độ lệch chuẩn TSSL/năm của thị trường giai đoạn 2008-2010
tính theo hai chu kỳ khác nhau
Năm
Theo ngày
Theo tháng
2008
37%
51%
2009
35%
51%
2010
21%
19%
Trung bình
31%
40%
Nguồn: tính toán từ số liệu tập hợp từ http://www.ssc.gov.vn
Như vậy, việc quy ước cách tính độ lệch chuẩn TSSL năm tính theo tháng
làm cơ sở để thiết lập DMĐT còn độ lệch chuẩn TSSL năm tính theo ngày là để đo
lường RRHT và RRPHT.
* Rủi ro năm 2008
Do tình hình lạm phát năm 2008 cùng với Chỉ thị 03 được ban hành và cuộc
khủng hoảng tài chính thế giới đã kéo TTCK Việt Nam liên tục những phiên giảm
giá và trở lại với những con số thực của nó, khiến cho nhiều NĐT e ngại về tính
thanh khoản của thị trường. Điều này được thể hiện rất rõ ở bảng 1, RRTT trung
bình của 09 công ty cao hơn rủi ro thị trường (σTB = 72% > 51%). Cổ phiếu có
RRTT cao nhất thuộc về ngành khai khoáng (BMC), lý do vì hầu hết các công ty
trong ngành này đều đang ở vị thế "độc quyền" trong một phạm vi nhất định nào đó
nên rủi ro của các ngành này lớn . Mặt khác, các công ty trong ngành này phụ thuộc
vào sự phát triển của nền kinh tế trong và ngoài nước. Vì sự phát triển của nền kinh
tế thế giới và Việt Nam, tạo ra sức cầu quan trọng đối với ngành khoáng sản. Giá
bán nhiều loại khoáng sản hiện cũng phụ thuộc vào mặt bằng giá thế giới. Ðồng
nghĩa rằng nếu nền kinh tế toàn cầu suy thoái, sức cầu suy giảm dẫn đến giá bán
nhiều loại khoáng sản giảm sút sẽ tạo ra rủi ro rất lớn mà các doanh nghiệp trong
ngành phải đối mặt. Nhất là thị truờng Trung Quốc – đối tác nhập khẩu lớn (65%
các loại quặng khoáng sản của Việt Nam) – nền kinh tế Trung Quốc có biến động,
hoặc chính sách của chính phủ Trung Quốc đối với việc xuất nhập khẩu các mặt
hàng này thay đổi thì ảnh hưởng của nó đến đầu ra của ngành khoáng sản Việt Nam
sẽ là không nhỏ; chịu ảnh hưởng rất lớn từ các chính sách của Nhà nước như định

45

hướng phát triển ngành khoáng sản, những ưu đãi, khuyến khích hay hạn chế... suất
sinh lợi càng cao, rủi ro càng lớn đó là điều đương nhiên.
Bảng 1: Rủi ro của chứng khoán và thị trường trên HOSE
2008
σnăm

BMC

CLC

HAX

HDC

KHP

NSC

SFI

STB

HBC

115%

44%

50%

70%

45%

94%

108%

68%

54%

VnIndex
51%

Nguồn: tính toán từ số liệu tập hợp từ http://www.ssc.gov.vn
Đồng thời giá trị phương sai và hiệp phương sai của 09 chứng khoán và thị
trường (VN-Index) được cho trong bảng sau:
Bảng 2: Phương sai - hiệp phương sai của từng cặp chứng khoán với nhau và
chứng khoán với thị trường trên HOSE
VnIndex
0.0432
0.0125
0.0193
0.0221
0.0163
0.0359
0.0397
0.0272
0.0177

Covij

BMC

CLC

HAX

HDC

KHP

NSC

SFI

STB

HBC

BMC
CLC
HAX
HDC
KHP
NSC
SFI
STB
HBC
VnIndex

0.1135
0.0226
0.0379
0.0480
0.0279
0.0845
0.1029
0.0560
0.0289

0.0226
0.0164
0.0109
0.0148
0.0136
0.0183
0.0230
0.0200
0.0158

0.0379
0.0109
0.0213
0.0233
0.0146
0.0320
0.0345
0.0233
0.0160

0.0480
0.0148
0.0233
0.0423
0.0179
0.0388
0.0470
0.0287
0.0221

0.0279
0.0136
0.0146
0.0179
0.0170
0.0222
0.0267
0.0222
0.0182

0.0845
0.0183
0.0320
0.0388
0.0222
0.0762
0.0803
0.0472
0.0222

0.1029
0.0230
0.0345
0.0470
0.0267
0.0803
0.0989
0.0540
0.0289

0.0560
0.0200
0.0233
0.0287
0.0222
0.0472
0.0540
0.0397
0.0251

0.0289
0.0158
0.0160
0.0221
0.0182
0.0222
0.0289
0.0251
0.0247

0.0432 0.0125

0.0193

0.0221 0.0163

0.0359

0.0397

0.0272

0.0177 0.0220

Nguồn: tính toán từ số liệu tập hợp từ http://www.ssc.gov.vn
Bởi vì rủi ro năm 2008 của 09 công ty và thị trường quá cao, muốn rủi ro
giảm thấp thì cần đa dạng hóa đầu tư bằng cách thiết lập DMĐT cho năm này. Với
tỷ trọng từng chứng khoán trong danh mục được xác định dựa vào bảng 2 mục 3.3.
Sau đó, ta kết hợp tỷ trọng với phương sai và hiệp phương sai của từng cặp chứng
khoán với nhau và chứng khoán với thị trường để xác định rủi ro của danh mục vừa
thiết lập.

46

Bảng 3: Phương sai - hiệp phương sai có tỷ trọng của DMĐT
Tỷ
trọng
0.350
0.052
0.080
0.112
0.042
0.053
0.121
0.068
0.121

0.350

0.052

0.080

0.112

0.042

0.053

0.121

0.068

0.121

0.0139
0.0004
0.0011
0.0019
0.0004
0.0016
0.0044
0.0013
0.0012

0.0004
0.0000
0.0000
0.0001
0.0000
0.0001
0.0001
0.0001
0.0001

0.0011
0.0000
0.0001
0.0002
0.0000
0.0001
0.0003
0.0001
0.0002

0.0019
0.0001
0.0002
0.0005
0.0001
0.0002
0.0006
0.0002
0.0003

0.0004
0.0000
0.0000
0.0001
0.0000
0.0000
0.0001
0.0001
0.0001

0.0016
0.0001
0.0001
0.0002
0.0000
0.0002
0.0005
0.0002
0.0001

0.0044
0.0001
0.0003
0.0006
0.0001
0.0005
0.0015
0.0004
0.0004

0.0013
0.0001
0.0001
0.0002
0.0001
0.0002
0.0004
0.0002
0.0002

0.0012
0.0001
0.0002
0.0003
0.0001
0.0001
0.0004
0.0002
0.0004

Nguồn: tính toán từ số liệu tập hợp từ http://www.ssc.gov.vn
Bảng 4: Rủi ro tổng thể và suất sinh lợi của DMĐT
Phương sai danh
mục tháng
0.05

Rủi ro danh
mục tháng
0.23

Rủi ro danh
mục năm
78%

Suất sinh lợi danh
mục năm
-72%

Nguồn: tính toán từ số liệu tập hợp từ http://www.ssc.gov.vn
Qua kết quả bảng 4 cho thấy, trong năm 2008, nếu NĐT cố gắng đa dạng hóa
đầu tư để giảm thiểu rủi ro thì kết quả cũng không mấy khả quan do suất sinh lợi và
rủi ro danh mục sau khi đa dạng hóa so với trước lúc chưa đa dạng chẳng khác bao
nhiêu. Cụ thể, suất sinh lợi danh mục thấp hơn suất sinh lợi thị trường (Rp = -72% <
-66%), rủi ro danh mục cao hơn rủi ro thị trường (σp = 78% > 51%) dẫn tới số
lượng NĐT bán tháo cổ phiếu nhiều.
Vì vậy, tác giả đề xuất áp dụng cách tiếp cận Markowitz giúp các NĐT điều
chỉnh cơ cấu danh mục bằng cách tìm một tỷ trọng tối ưu mới cho danh mục phù
hợp với khẩu vị rủi ro của NĐT. Và để giải bài toán Markowitz, tác giả sẽ áp dụng
thuật giải Solver với các ràng buộc dưới đây:
(1) x1+x2+x3+x4+x5+x6+x7+x8+x9 = 1
(2) Rủi ro hệ thống của DMĐT nhỏ hơn hoặc bằng với rủi ro hệ thống của thị
trường (β1x1+β2x2+β3x3+β4x4+β5x5+β6x6+β7x7+β8x8+β9x9 ≤ 1).
(3) Độ lệch chuẩn (rủi ro) danh mục bằng với độ lệch chuẩn (rủi ro) trung
bình năm của 09 công ty (σp = 72%)