Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 2:TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG CỔ PHIẾU VÀ NHỮNG RỦIRO TRONG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAMGIAI ĐOẠN 2008 - 2010

CHƯƠNG 2:TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG CỔ PHIẾU VÀ NHỮNG RỦIRO TRONG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAMGIAI ĐOẠN 2008 - 2010

Tải bản đầy đủ

19

biện pháp mạnh nhằm kiềm chế lạm phát, ngân hàng Nhà nước đã rút tiền mặt khỏi
lưu thông, khiến các ngân hàng thương mại thiếu tiền mặt buộc phải đẩy lãi suất
huy động vốn lên cao. TTCK lúc này vẫn đang theo xu hướng xuống giá, lãi suất
cao khiến các nhà đầu tư rời bỏ thị trường, gửi tiền vào ngân hàng vừa có lợi nhuận
cao vừa an toàn.
Ngày 25/3/2008 VN-Index đóng cửa tại 496.64 điểm, chính thức phá đáy
500 điểm. Ðiều này đã khiến cho UBCKNN quyết định điều chỉnh biên độ dao
động giá cổ phiếu và chứng chỉ quỹ tại HOSE từ +/-5% xuống +/-1%, tại Trung tâm
giao dịch chứng khoán Hà Nội (HASTC) từ +/-10% xuống +/-2%. Việc thu hẹp
biên độ giao dịch bắt đầu thực hiện từ ngày 27/03/2008.
Vì VN-Index đã rớt liên tục từ 1,100 điểm còn 496 điểm (giảm hơn 50%),
nên UBCKNN quyết định giảm biên độ dao động đã làm nhà đầu tư giảm bớt việc
bán cổ phiếu ra. Thay vào đó là tâm lý đầu cơ mua vào. Ngày 03/4/2008 UBCKNN
quyết định cho điều chỉnh biên độ giao dịch lên +/- 2% tại HOSE và +/-3% tại
HASTC sau khi thị trường đã có những dấu hiệu ổn định.
Do nền kinh tế vĩ mô vẫn còn quá xấu, nên xu hướng tăng ngắn hạn đã sớm
chấm dứt vào ngày 9/4/2008, VN-Index tăng liên tục 11 phiên đạt 552 điểm (tăng
11% so với đáy 496 điểm). Thị trường quay trở lại xu hướng giảm giá dài hạn.
* Giai đoạn 2 (từ tháng 5 đến giữa tháng 6/2008): áp lực từ nguồn cung
giải chấp các hợp đồng Repo[ii].
Ngoài các tin xấu đến dồn dập, thị trường cổ phiếu còn đón nhận một lượng
hàng bán ra bất chấp mọi giá trong thời điểm này, đó là lượng hàng giải chấp từ các
hợp đồng Repo của các công ty chứng khoán và ngân hàng thương mại. Một lượng
hàng rất lớn được tung ra bán trong khoảng thời gian đầu tháng 5 đến giữa tháng 6
ở hầu hết các mã Blue-chips: NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (STB), CTCP chứng
khoán Sài Gòn (SSI), CTCP sữa Việt Nam (VNM), CTCP FPT (FPT), CTCP cơ
điện lạnh (REE), Tổng công ty phân bón và hóa chất dầu khí - CTCP (DPM), CTCP

20

nhiệt điện Phả lại (PPC)… vì đây là các mã có tính thanh khoản cao, mức vốn hóa
thị trường lớn nên thường được đa số các công ty chứng khoán chấp nhận ký hợp
đồng Repo với khách hàng của họ.
Các yếu tố trên kết hợp lại đã kéo VN-Index giảm mạnh vượt qua mốc 400
điểm một cách dễ dàng và chạm đáy 367 điểm vào ngày 11/06/2008.
Thống kê giao dịch cho thấy sức cầu (mua) toàn thị trường 2 sàn HOSE và
HASTC trong giai đoạn 15/5 đến 15/6/2008 chỉ đạt trung bình 140 tỷ đồng/ngày,
mức thấp nhất từ năm 2006 cho đến nay.
* Giai đoạn 3 (từ giữa tháng 6 đến cuối tháng 8/2008): niềm tin của nhà
đầu tư được khôi phục từ dấu hiệu kinh tế vĩ mô.
Những biện pháp can thiệp của Chính Phủ từ đầu năm đã bắt đầu có tác dụng
từ giữa tháng 6/2008, thâm hụt mậu dịch giảm, tăng trưởng tín dụng đã chậm lại và
có chọn lọc. Thị trường đã rớt về đáy 367 điểm và hấp thụ hết các thông tin xấu,
nên giới đầu cơ quay lại thị trường thu gom cổ phiếu với tâm lý cổ phiếu giá rẻ.
Cuối tháng 7/2008 với thông tin từ Tổng Cục thống kê, lạm phát tháng
7/2008 chỉ tăng 1.13% so với tháng 6/2008, cho thấy các biện pháp thắt chặt tiền tệ
đã tỏ ra có hiệu quả. Giá dầu thế giới tháng 8/2008 cũng hạ nhiệt chỉ dao động trong
khoảng 100-120$/thùng. Cú sốc thị trường do tăng giá xăng dầu bất ngờ cũng chấm
dứt, nhà đầu tư lại quay trở lại thị trường khiến VN-Index đã tăng liên tục trong
tháng 8/2008. Trước sự phục hồi của thị trường, ngày 18/8/2008 UBCKNN đã nâng
biên độ giao dịch tại HOSE từ +/-3 lên +/-5, tại HASTC từ +/-4 lên +/-7.
* Giai đoạn 4 (từ đầu tháng 9 đến cuối tháng 12/2008): VN-Index bị tác
động mạnh từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Bước sang đầu tháng 9/2008 thị trường lại tiếp tục chu kỳ giảm giá dài hạn,
đặc biệt chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính của Mỹ. HASTC lần đầu

21

tiên giảm dưới mốc 100 điểm sau hơn 3 năm thành lập, đạt 97.6 điểm vào ngày
27/11/2008, còn VN-Index thì gần chạm mốc 300 điểm đạt 303.54 vào hôm đó.
Hàng loạt tin tức xấu trong vòng 2 tuần về các ngân hàng lớn nhất nước Mỹ
làm chao đảo thị trường tài chính toàn cầu. Thị trường chứng khoán thế giới từ Mỹ,
Châu Âu, Nhật tới các nước Châu Á đều giảm mạnh, và TTCK Việt Nam cũng
không ngoại lệ. Trong giai đoạn này thị trường có xu hướng đi ngang, do nhiều mã
chứng khoán niêm yết có giá thị trường thấp hơn giá sổ sách và hầu như đã tới
ngưỡng mà nhiều nhà đầu tư cho rằng “không thể giảm thêm được nữa”, nên những
nguời đang nắm giữ cổ phiếu sẽ hạn chế bán ra. Trong khi đó những người đang có
tiền trong tay lại thận trọng mua vào, chờ tín hiệu hồi phục rõ ràng hơn từ nền kinh
tế thế giới và trong nước.
* TTCK Việt Nam 2009
Năm 2009 là một năm đầy biến động cho TTCK Việt Nam từ suy giảm tạo
đáy đầu năm, sau đó hồi phục ngày càng mạnh mẽ trong quý II và III/2009. Tuy
nhiên đến cuối năm thị trường đã quay đầu giảm điểm khá mạnh trái ngược với
những nhận định lạc quan trước đó. Mặc dù vậy, những thành quả đạt được trong
năm đã đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ của TTCK Việt Nam. Cụ thể, chỉ số thị
truờng VN-Index và HNX-Index trong năm đã hồi phục mạnh lần lượt khoảng 57%
và 61%. Số lượng doanh nghiệp mới niêm yết cũng tăng vọt trong đó có nhiều tổng
công ty lớn và uy tín. Một bước tiến mới là sự chuyển đổi TTGDCK Hà Nội
(HASTC) thành SGDCK Hà Nội (HNX) cũng như thành lập thêm sàn UPCoM cho
công ty đại chúng đăng ký giao dịch. Qua đó có thể phân diễn biến của TTCK Việt
Nam năm 2009 thành 4 giai đoạn lớn:

22

Hình 1. Diễn biến giao dịch trên HOSE và SGDCK Hà Nội năm 2009

Giai đoạn 1 (từ tháng 1 -> 2/2009) - Suy thoái và tạo đáy: Nền kinh tế
trong nước bị ảnh hưởng nặng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, thể hiện rõ
nhất ở tiêu dùng suy giảm, sản xuất đình đốn, kim ngạch xuất khẩu bị thu hẹp, vốn
đầu tư nước ngoài yếu đi. Do vậy mức tăng trưởng GDP của Việt Nam trong qúy
I/2009 đạt 3.1%. TTCK vì thế đã tiếp tục giảm theo xu thế giảm dài hạn của năm
trước và tạo đáy 235 điểm vào cuối tháng 2/2009.
Giai đoạn 2 (từ tháng 3 -> 7/2009) – Tăng trưởng đợt 1: Bước sang tháng
3/2009, Chính phủ Việt Nam bắt đầu thực hiện các biện pháp kích thích kinh tế,
chính sách tài khoá mở rộng và chính sách tiền tệ nới lỏng thông qua gói kích cầu,
đặc biệt là hỗ trợ lãi suất 4%, cũng như chính sách giảm, giãn thuế đối với doanh
nghiệp. Vì vậy, nền kinh tế đã có một số dấu hiệu phục hồi và chính thức thoát đáy
từ quý II/2009 với tốc độ tăng trưởng GDP đạt 3.9%. Dấu hiệu tích cực này đã phản

23

ánh nhanh chóng vào TTCK, trong tháng 3 – 4/2009 thị trường chỉ đạt được mức
tăng trưởng nhẹ và chậm, sau đó đã tăng tốc mạnh từ tháng 5/2009 và chính thức
xác lập đỉnh 525 điểm khoảng giữa tháng 6/2009. Sau giai đoạn tăng trưởng nóng,
TTCK đã điều chỉnh giảm cho đến gần hết tháng 7/2009.
Giai đoạn 3 (từ tháng 8 -> 10/2009) – Tăng trưởng đợt 2: Các trung tâm
kinh tế lớn của thế giới lần lượt khẳng định sự phục hồi. Ðặc biệt một số quốc gia
tại Châu Á và Trung Quốc đạt tốc độ tăng trưởng cao đã giúp TTCK thế giới thực
sự hồi phục và lấy lại được những đỉnh cao trước thời điểm suy thoái. Trong nước,
các doanh nghiệp mặc dù có tốc độ tăng trưởng doanh thu không cao, nhưng nhờ
tận dụng được cơ hội chí phí vốn thấp, nguyên liệu đầu vào rẻ cũng như những
chính sách hỗ trợ về thuế nên đạt tốc độ tăng trưởng lợi nhuận rất lớn, cao hơn so
với tốc độ tăng trưởng doanh thu. Tăng trưởng GDP tính chung 3 quý đầu năm
2009 của Việt Nam đạt 4.6% và cả năm là đạt 5.32%. Ðây chính là cơ sở khá vững
chắc để TTCK tiếp tục đợt tăng giá lần 2 này với việc liên tiếp phá vỡ những kỷ lục
về giá trị và khối lượng. Chỉ số VN-Index đã xác lập mốc 633 điểm vào cuối tháng
10/2009 đây cũng là mức cao nhất của thị trường sau 394 phiên giao dịch kể từ
ngày 14/3/2008, cùng khối lượng giao dịch đạt trên 100 triệu đơn vị, tương ứng với
những phiên giao dịch 5.000 - 6.000 tỷ đồng. Trong khoảng thời gian này, thanh
khoản liên tục đạt kỷ lục trên cả hai sàn. TTCK tăng trưởng mạnh, nằm ngoài dự
đoán của giới chuyên gia khi có tốc độ phục hồi nhanh nhất Châu Á.
Giai đoạn 4 (từ tháng 11 -> 12/2009) – Thoái lui và thận trọng: Chính
sách kích thích kinh tế mặc dù đã phát huy được tác dụng chính là ngăn chặn đà suy
giảm kinh tế, nhưng bên cạnh đó cũng tạo ra tác dụng phụ và tiềm ẩn một số nguy
cơ. Cụ thể nó đã kích thích mạnh vào tăng trưởng tín dụng năm 2009 lên tới 37.7%,
tăng quá mức cần thiết và vượt quá khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế và gây
những nguy cơ lạm phát tăng mạnh, tăng trưởng không bền vững. Căng thẳng thị
trường ngoại hối, lo lắng về sự mất giá của tiền đồng đẩy thị trường Vàng tăng
mạnh. Trước thực trạng đó, ngân hàng Nhà nước đã bất ngờ thực hiện nâng lãi suất

24

cơ bản từ 7% lên 8% sau khi đã cam kết ổn định chính sách tiền tệ đến hết năm
2009. Mặc dù các chính sách này có tác động tích cực cho nền kinh tế trong trung
và dài hạn, nhưng điều này đã gây khó khăn cho cả doanh nghiệp và nhà đầu tư trên
TTCK. Những tác động thực đến luồng tiền vào TTCK cũng như những tác động
tâm lý thái quá khiến các chỉ số chứng khoán rơi vào chu kỳ giảm điểm từ tháng
11/2009 cho đến hết năm.
Một điểm khác của TTCK là sự phát triển mạnh mẽ về quy mô. Tính đến hết
tháng 11/2009, đã có 430 cổ phiếu và chứng chỉ quỹ được niêm yết. Tổng giá trị
vốn hóa thị trường lên tới hơn 669 nghìn tỷ đồng (39 tỷ USD), tương đương 55%
GDP của năm 2008. Mức vốn hóa này tăng gần gấp 3 lần so với thời điểm cuối năm
2008. Năm 2009 cũng đánh dấu sự niêm yết của hàng loạt doanh nghiệp lớn như
Eximbank, Bảo Việt, Vietcombank và Vietinbank... Sự góp mặt của các doanh
nghiệp lớn này đồng nghĩa với việc nguồn cung trên thị trường ngày càng đa dạng
hơn. Đã làm cho giá cổ phiếu các doanh nghiệp bảo hiểm và ngân hàng nhờ vậy
tăng trong một thời gian khá dài và trở thành những cổ phiếu thu hút nhiều nhà đầu
tư trên thị trường.
Bảng 1: Quy mô giao dịch của TTCK từ năm 2006 – 2009

HOSE

2006

2007

2008

2009

Khối lượng CP (triệu)

538,5

1.817

2.978

10.432

Giá trị (tỷ VND)

35.742

217.835

124.576

423.299

Giá trung bình 1CP (VND)

66.370

119.900

41.832

40.577

95,6

612

1.531

5.765

3.917

63.442

57.122

197.524

Giá trung bình 1CP (VND)

40.970

103.630

37.310

34.263

Khối lượng CP (triệu)

634.1

2.426

4.509

16.197

Giá trị (tỷ VND)

39.389

281.258

181.698

620.823

Giá trung bình 1CP (VND)

62.118

115.935

40.296

38.329

Khối lượng CP (triệu)
HASTC Giá trị (tỷ VND)

Toàn
TTCK

(Nguồn: CTCP Chứng khoán Âu Việt – 04/01/2010)

25

* TTCK Việt Nam 2010
Năm 2010 khép lại với nhiều biến động bất lợi của nền kinh tế, những chính
sách vĩ mô khó dự đoán và sự suy giảm trên TTCK nói chung. Xu thế thị trường
năm 2010 là tình trạng đi ngang và giảm điểm kéo dài, sự rút đi của dòng tiền và
suy giảm niềm tin của nhà đầu tư. Phân đoạn diễn biến TTCK Việt Nam từ đầu năm
2010 có thể chia thành 3 đợt đi ngang trong xu hướng giảm điểm và một đợt phục
hồi cuối năm. Riêng khối ngoại đã có trọn một năm mua ròng trên TTCK. Trong
năm 2010, giá trị mua ròng trên HOSE của nhà đầu tư nước ngoài đạt 15,346 tỷ
đồng và trên HNX đạt 824.3 tỷ đồng. Tính cả năm, VN-Index giảm 6.26%, HNXIndex giảm 36.5% so với đầu năm. Có thể nhận định thị trường qua 4 quý như sau:
- Quý 1, sự thận trọng của nhà đầu tư khi đón nhận các thông tin không
mấy tích cực: Dòng tiền đổ vào thị trường hạn chế do Chính phủ áp dụng các biện
pháp hướng dòng vốn vào lĩnh vực sản xuất, uu tiên cho xuất khẩu, khu vực nông
nghiệp và phát triển nông thôn. Ðây cũng là thời điểm ngân hàng Nhà nước thắt
chặt CSTT nhằm ngăn ngừa lạm phát; thậm chí, ngân hàng Nhà nước còn yêu cầu
các ngân hàng thương mại không được cấp vốn trực tiếp cho các công ty chứng
khoán trực thuộc. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng gặp khó khăn trong việc tiếp
cận nguồn vốn do chi phí vốn khá đắt. Do vậy, TTCK trong quý 1 không có sự bứt
phá và chỉ đi ngang quanh mốc 500-550 điểm.
- Quý 2, tăng giá nhỏ xuất phát từ các cổ phiếu penny và midcaps: Thị
trường trong nước trong tháng 5 đã giảm điểm mạnh do chịu ảnh hưởng tiêu cực từ
thông tin cuộc khủng hoảng công nợ Châu Âu, nguy cơ bong bóng bất động sản của
Trung Quốc và đà phục hồi yếu của Mỹ. Ðáng chú ý, TTCK Việt Nam đón nhận
một đợt tăng giá nhỏ xuất phát từ các cổ phiếu penny và midcaps do sự hỗ trợ tích
cực của các chỉ số trong nước: Lạm phát đã có chiều huớng giảm, chỉ tăng 0.22%
trong tháng 6, thấp hơn hẳn so với mức 1.96% của tháng 2. Mặt bằng lãi suất cũng
được hạ xuống. Tuy nhiên, sự tăng trưởng này không thực sự bền vững do tính đầu
cơ và tâm lý bầy đàn. TTCK tiếp tục có những phiên giảm điểm nhẹ và biến động
xung quanh mốc 480-500 điểm cho đến hết tháng 7.

26

- Quý 3, tạo đáy ở mốc 423.89 điểm vào ngày 25/08/2010: TTCK tiếp tục
chứng kiến một mặt bằng giá mới, lùi về mốc thấp nhất trong vòng 1 năm qua.
Nguyên nhân giảm sâu được giải thích là do:
(1) Tác động tiêu cực của Thông tư 13[iii] tới dòng tiền đổ vào TTCK;
(2) Sự pha loãng cổ phiếu với số cổ phiếu và chứng chỉ quỹ niêm yết mới
trên HOSE là 2,7 tỷ cổ phiếu, tức tăng hơn 28%, cũng như sự thoái vốn ồ ạt của các
Tập đoàn, Tổng công ty, Doanh nghiệp Nhà nuớc;
(3) Tình hình kinh tế vĩ mô cũng có những nét diễn biến lạc quan và chưa
thật lạc quan xen lẫn, do đó, không tạo nên sự hưng phấn cho thị trường.
Bên cạnh đó là hàng loạt các vụ việc bê bối xung quanh việc lũng đoạn thị
trường. Tất cả gây ra tâm lý chán nản, sụt giảm niềm tin nơi nhà đầu tư, dòng tiền
suy yếu.
- Quý 4, xu thế giảm điểm trung hạn xem như đã được phá vỡ: Trong
suốt giai đoạn đi ngang từ tháng 9 – 11/2010, biến động của VN-Index là không quá
lớn nhờ lực đỡ của các bluechips, nổi bật là Tập đoàn Bảo Việt (BVH), CTCP tập
đoàn Ma San (MSN) và CTCP Vincom (VIC). Trong khi đó cổ phiếu penny và
midcap liên tục mất giá, giảm sâu. Tác động lớn nhất vẫn là (1) CPI tăng cao trên
1% (2) cuộc chạy đua lãi suất của các ngân hàng thương mại.
2.2. Những rủi ro trên thị trường cổ phiếu Việt Nam giai đoạn 2008-2010
Bất kỳ NĐT nào khi tham gia đầu tư chứng khoán cũng mong muốn đạt được
hai mục tiêu: tối đa hóa tỷ suất sinh lợi và tối thiểu hóa rủi ro. Tuy nhiên, làm thế
nào để dung hòa được mâu thuẫn thống nhất giữa TSSL và rủi ro? Vấn đề cốt lõi là
ta phải nhận dạng được các loại rủi ro để có thể phòng tránh một cách hiệu quả, từ
đó đưa ra những quyết định đúng đắn trong chiến lược đầu tư của mình. TTCK Việt
Nam sau 10 năm hoạt động đã bộc lộ khá rõ những rủi ro cơ bản của một thị truờng
điển hình, bao gồm:
2.2.1. Rủi ro hệ thống
Loại rủi ro này chủ yếu có nguồn gốc từ sự thay đổi các nhân tố vĩ mô như
chiến tranh, lạm phát, sự kiện kinh tế - chính trị ... và tác động của nó ảnh hưởng

27

đến toàn bộ thị trường. Rủi ro hệ thống có ý nghĩa quan trọng vì nó không thể đa
dạng hóa được cho dù NĐT có nắm giữ một danh mục tối ưu. Rủi ro hệ thống bao
gồm ba loại chính: rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất và rủi ro sức mua (lạm phát).
2.2.1.1. Rủi ro thị trường
Là rủi ro phụ thuộc chủ yếu vào cách nhìn nhận của các nhà đầu tư về các loại
cổ phiếu nói chung hay về một nhóm các cổ phiếu nói riêng, nó xuất hiện do có
những phản ứng của các nhà đầu tư đối với những sự kiện hữu hình hay vô hình.
Chẳng hạn, khi các nhà đầu tư dự báo rằng lợi nhuận của các công ty sẽ sụt giảm
có thể là nguyên nhân làm cho phần lớn các loại cổ phiếu bị giảm giá. Các nhà đầu
tư thường phản ứng dựa trên cơ sở các sự kiện thực, hữu hình như các sự kiện kinh
tế, chính trị, xã hội còn các sự kiện vô hình là các sự kiện nảy sinh do yếu tố tâm lý
của thị trường. Rủi ro thị trường thường xuất phát từ những sự kiện hữu hình,
nhưng do tâm lý không vững vàng của các nhà đầu tư nên họ hay có phản ứng vượt
quá các sự kiện đó. Những sự sút giảm đầu tiên trên thị trường là nguyên nhân gây
sợ hãi đối với các nhà đầu tư và họ sẽ cố gắng rút vốn, từ đó kéo theo những
phản ứng dây chuyền làm tăng vọt số lượng bán, giá cả chứng khoán sẽ rơi xuống
thấp so với giá trị cơ sở. Điều này đã được minh chứng trong giai đoạn từ trong và
sau khủng hoảng tài chính năm 2008 đến nay ở nước ta. Do tâm lý bất ổn của nhà
đầu tư mà hàng loạt cổ phiếu đã được đặt bán sàn với khối lượng lớn. Khởi nguyên
cũng bởi sự kỳ vọng tăng trưởng giá thái quá của các nhà đầu tư ở các giai đoạn
trước đó, khiến cho tình hình cung cầu chứng khoán luôn mất cân bằng.
2.2.1.2. Rủi ro lãi suất
Rủi ro lãi suất nói đến sự không ổn định trong giá trị thị trường và số tiền thu
nhập trong tương lai, nguyên nhân là dao động trong mức lãi suất chung. Lãi suất
tăng cao sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến TTCK ở 3 khía cạnh:
(1) Lãi suất chiết khấu đối với cổ phiếu sẽ tăng lên: Điều này đồng
nghĩa với việc lãi suất yêu cầu của nhà đầu tư trở nên cao hơn, và
giá cổ phiếu sẽ đi vào chiều hướng suy giảm. Ngoài ra, lãi suất cao

28

khuyến khích nhà đầu tư quay trở lại với hình thức đầu tư quen
thuộc là gởi tiết kiệm thay vì đầu tư vào TTCK đầy rủi ro, và ảnh
hưởng không tích cực đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
do hầu hết các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay đang trong giai
đoạn phát triển, nên các nguồn tài trợ thông qua TTCK còn rất hạn
chế mà chủ yếu dựa vào nguồn vốn vay ngân hàng. Lãi suất cho
vay tăng sẽ làm tăng chi phí sử dụng vốn cũng như làm tăng rủi ro
của doanh nghiệp. .
(2) Lãi suất tăng là một tín hiệu thắt chặt tiền tệ, khiến dòng tiền vào
TTCK qua việc vay đầu tư chứng khoán bị hạn chế, và dòng vốn
có thể chuyển sang kênh đầu tư khác hấp dẫn hơn.
(3) Tâm lý nhà đầu tư dao động với kỳ vọng kinh tế còn nhiều bất ổn.
Trong khi TTCK Việt Nam vẫn đang trong tình trạng không mấy khả quang
thì việc “rút tiền” ra khỏi lưu thông để chống lạm phát của ngân hàng Nhà nước sau
Tết Nguyên Ðán Mậu Tý 2008 đã làm cho TTCK Việt Nam càng gặp khó khăn.
Các ngân hàng thương mại phải đồng loạt tăng cao lãi suất huy động VND đã đẩy
lãi suất vay tăng cao. Thế nhưng, mặc dù các doanh nghiệp có chấp nhận mức lãi
suất cao như thế thì cũng không được cho vay, rồi họ không có vốn để tiếp tục kinh
doanh trong khi huy động qua TTCK cũng không được. Kết quả là, hàng loạt doanh
nghiệp phá sản và thua lỗ, làm cho kinh tế thêm đình trệ.
Sang năm 2009, sau giai đoạn TTCK bùng nổ mạnh mẽ khi có thêm sự hỗ trợ
mạnh bởi các dấu hiệu hồi phục kinh tế trong nước và quốc tế, đặc biệt là đòn bẩy
tài chính từ các công ty chứng khoán, TTCK bước vào giai đoạn thoái lui và thận
trọng. Khi bước vào năm 2010, bên cạnh các yếu tố như căng thẳng thanh khoản
của hệ thống ngân hàng, diễn biến bất thường của giá vàng, ngoại tệ, chỉ số giá tiêu
dùng và tỷ lệ lạm phát trong vài tháng cuối năm 2010 có xu hướng tăng trở lại thì
NHNN tăng lãi suất nhằm hạn chế lạm phát và đầu cơ; đồng thời chấp nhận phá giá
VND ở mức thấp, cùng với việc rút dần gói kích thích kinh tế và nhu cầu vốn trong
nền kinh tế thời hậu khủng hoảng vẫn ở mức cao. Ảnh hưởng của những tác động

29

trên là giá chứng khoán liên tục giảm và gây thiệt hại cho người nắm giữ nó. Như
vậy, lãi suất biến động ảnh hưởng đến giá chứng khoán và đây là yếu tố mà các nhà
đầu tư phải xem xét khi thực hiện đầu tư.
Hình 2: biến động lãi suất cơ bản giai đoạn 2007-2009

Nguồn: Ngân hàng nhà nước Việt Nam
2.2.1.3. Rủi ro sức mua (lạm phát)
Rủi ro sức mua là biến cố của sức mua của đồng tiền thu được. Rủi ro sức mua
là tác động của lạm phát đối với khoản đầu tư, biến động giá càng cao thì rủi ro sức
mua càng tăng nếu nhà đầu tư không tính toán lạm phát vào TSSL mong đợi. Chỉ số
lạm phát và giá cả giai đoạn 2008- 2010 tăng cao làm cho Chính phủ và toàn xã hội
phải bận tâm và tìm cách giải quyết. NĐT ngoài việc lo sợ cho sức mua của đồng
lãi thu được từ đầu tư chứng khoán giảm xuống, họ còn phải đối đầu với rủi ro các
chỉ số của TTCK sụt giảm nhanh mà không có điểm dừng. Vì vậy, rủi ro do tác
động của lạm phát cũng là rủi ro không thể đa dạng hóa.
Hình 3: Diễn biến chỉ số CPI theo tháng giai đoạn 2008 - 2010
5
4
3
2
1
0
-1

T1

T2

T9

T10

T11

T12

2008
2009

2.38

3.56

2.99

2.2

3.91

2.14

1.13

1.56

0.18

-0.19

-0.76

-0.68

0.32

1.17

-0.17

0.35

0.44

0.55

0.52

0.24

0.62

0.37

0.55

1.38

2010

1.36

1.96

0.75

T3

0.14

T4

0.27

T5

0.22

0.06

0.23

1.31

1.05

1.86

1.98

2008

T6

T7

2009

T8

2010

Nguồn: Tổng cục Thống kê