Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 2. KHUNG LÝ THUYẾTVÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

CHƯƠNG 2. KHUNG LÝ THUYẾTVÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

Tải bản đầy đủ

7

niềm tin nhà đầu tư. Đồng thời, các nghiên cứu hàn lâm về lĩnh vực này cũng
bắt đầu nở rộ (Solomon & Solomon, 2004). Tác phẩm “Modern Corporation and
Private Property” do Berle & Means nghiên cứu năm 1932 có thể xem là nghiên
cứu đầu tiên về quản trị công ty trên thế giới (Phạm Thị Ngọc Bích, 2014). Tiếp
theo sau là các nghiên cứu của Jensen & Meckling (1976), Fama (1980), Fama
& Jensen (1983), là nền tảng cho các nghiên cứu về quản trị công ty sau này.
Tuy nhiên, Tricker lại được xem là cha đẻ của quản trị công ty bằng việc đặt tên
chính thức vào năm 1984 cho vấn đề mà các nhà nghiên cứu trước đã tìm hiểu
(Phạm Thị Ngọc Bích, 2014).
Mặc dù có nhiều nghiên cứu đề cập nhưng đến nay vẫn chưa có một định nghĩa
thống nhất nào về quản trị công ty được chấp nhận rộng rãi. Đầu tiên, quản trị
công ty được hiểu là một quy trình xử lý các vấn đề nhằm đảm bảo nhà đầu tư
nhận được lợi ích của mình một cách xứng đáng (Shleifer & Vishny, 1997). Như
vậy, quản trị công ty có thể hiểu là cách thức để đưa lợi ích của chủ sở hữu và
nhà quản lý về cùng một mối, đảm bảo rằng công ty được vận hành vì lợi ích
của nhà đầu tư (Mayer, 1997). Sau đó, định nghĩa đơn giản nhất và bao trùm
nhất được đưa ra bởi OECD (1999, 2004). Theo đó, quản trị công ty là một quy
trình mà công ty sẽ được định hướng và kiểm soát nhằm đảm bảo việc điều hành
của ban quản lý phù hợp với lợi ích cổ đông. Nó bao gồm các quy tắc và thủ tục
thực hiện các quyết định liên quan đến hoạt động của công ty với sự quan tâm
của các bên liên quan (IIA3, 2014). Một cách rộng hơn, bên cạnh việc bảo vệ lợi
ích của cổ đông, quản trị công ty còn hướng đến đảm bảo quyền lợi của các bên
liên quan (John & Senbet, 1998) như nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp, và
các cơ quan quản lý nhà nước. Nếu như quản lý công ty liên quan đến các quyết
định hàng ngày nhằm điều hành các hoạt động thì quản trị công ty nhằm đảm

3

Hiệp Hội Kiểm Toán Nội Bộ (The Institute of Internal Auditors, IIA) là tổ chức nghề nghiệp
duy nhất về kiểm toán nội bộ được thế giới công nhận. Được thành lập vào năm 1941, IIA có
246 chi nhánh trên toàn thế giới và phục vụ hơn 115.000 thành viên trong lĩnh vực kiểm toán
nội bộ, quản lý rủi ro, quản trị, kiểm soát nội bộ, kiểm toán công nghệ thông tin, đào tạo và
chứng khoán ở trên 160 quốc gia.

8

bảo công ty được điều hành tốt và theo đúng định hướng. Theo lý thuyết đại
diện (agency theory)4, quản trị công ty là một hệ thống do những người chủ công
ty thiết lập để kiểm soát các nhà quản lý nhằm đảm bảo các quyết định của nhà
quản lý hướng đến mục tiêu tối đa hóa lợi ích cho cổ đông (Jensen & Meckling,
1976; Fama, 1980). Mặc dù được trình bày một cách hẹp hơn nhưng định nghĩa
này đã phản ánh rõ hơn bản chất của quản trị công ty.
Như vậy, có thể hiểu rằng, quản trị công ty là một cơ chế kiểm soát, được áp
dụng ở mỗi doanh nghiệp nhằm giải quyết vấn đề người đại diện giữa chủ sở
hữu và nhà quản lý. Theo đó, các nhà quản lý mặc dù không sở hữu các nguồn
lực của doanh nghiệp nhưng là người quyết định cách thức sử dụng nguồn lực
đó. Vì vậy, cơ chế quản trị công ty được thiết lập nhằm đảm bảo các quyết định
của nhà quản lý là duy lý và bảo vệ lợi ích cho cổ đông.
2.1.2. Các cơ chế kiểm soát của quản trị công ty
Đến nay, đã có nhiều nghiên cứu đề cập các cơ chế kiểm soát trong quản trị công
ty như sự giám sát của hội đồng quản trị (HĐQT), cổ đông lớn, thành viên
HĐQT độc lập, hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB), v.v. Bộ chỉ số CGI do
Connelly, Limpaphayom, & Nagarajan (2012) xây dựng dựa trên năm nhóm
nguyên tắc của OECD (1999, 2004) tập trung đánh giá rất nhiều về các cơ chế
kiểm soát của quản trị công ty. Do đó, để thuận lợi trong việc vận dụng bộ chỉ
số này ở chương 03, trong phần này tác giả tập trung trình bày các cơ chế kiểm
soát của quản trị công ty được sử dụng theo thông lệ quốc tế.
(1) Hội đồng quản trị
Khi những người chủ không tự mình kiểm soát các nguồn lực do mình sở hữu,
họ sẽ lựa chọn những người có năng lực, kinh nghiệm và đáng tin cậy để thay
mặt họ giám sát các hoạt động của doanh nghiệp và kiểm soát nhà quản lý. Tập
hợp những người được chọn chính là HĐQT trong công ty cổ phần hay hội đồng
4

Lý thuyết đại diện (agency theory) được trình bày cụ thể trong phần 2.2 của chương này.

9

thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn. Do vậy HĐQT (hay hội đồng
thành viên) phải do chủ sở hữu của công ty trực tiếp bầu chọn.
Để đảm bảo HĐQT thực hiện tốt chức năng của mình, các thành viên HĐQT
phải đảm bảo được các yêu cầu về năng lực, kinh nghiệm và tính độc lập. Đến
nay, đã có nhiều nghiên cứu về tính độc lập của HĐQT như sự bất kiêm nhiệm
giữa Chủ tịch HĐQT và tổng giám đốc/giám đốc (CEO), số lượng thành viên
độc lập hoặc thành viên không điều hành, v.v. Trong đó, thành viên độc lập
(hoặc tối thiểu là thành viên không điều hành) đóng một vai trò quan trọng
(OECD, 2004). Theo OECD (2004), thành viên HĐQT độc lập là thành viên
hoàn toàn không liên quan đến lợi ích công ty. Do đó, nếu không có các thành
viên này, HĐQT sẽ không thực hiện tốt được vai trò giám sát của mình. Đồng
thời, với nguyên tắc quản trị theo OECD, HĐQT phải lập ra các ủy ban (tiểu
ban) như ủy ban lương thưởng, ủy ban kiểm toán, ủy ban nhân sự, và trưởng/chủ
tịch các tiểu ban bắt buộc phải là thành viên độc lập. Như vậy, với vai trò quan
trọng của thành viên độc lập, có nên chăng tất cả các thành viên HĐQT đều là
thành viên độc lập? Thực tế cho thấy khi các thành viên quá độc lập với công
ty, họ cũng rất khó giám sát và kiểm soát doanh nghiệp vì không tìm được tiếng
nói chung (Phạm Thị Ngọc Bích, 2014). Đồng thời, HĐQT ngày nay không chỉ
đóng vai trò kiểm soát và giám sát mà còn chủ động trong việc hoạch định chiến
lược công ty, vì vậy, vẫn cần nhân sự của công ty có mặt trong HĐQT. Theo
Cadbury (1992), tỷ lệ thành viên độc lập chỉ cần ít nhất 1/3 nhưng các thành
viên này phải có năng lực và khả năng chất vấn tốt.
(2) Ủy ban kiểm toán
Để thực hiện chức năng giám sát, HĐQT thường lập các tiểu ban (ủy ban) hỗ
trợ, gồm ủy ban thù lao/khen thưởng (compensation/ remuneration committee),
ủy ban nhân sự/ đề cử/ bổ nhiệm (nomination committee) và ủy ban kiểm toán
(audit committee). Trong đó, ủy ban kiểm toán (hay còn gọi là ủy ban kiểm toán
độc lập) là bộ phận quan trọng nhất trong cấu trúc quản trị của một tổ chức (IIA,

10

2014) Ủy ban kiểm toán trực tiếp chịu trách nhiệm về giám sát hệ thống kế toán
và kiểm soát nội bộ; chỉ định, thương lượng giá phí và kiểm soát kiểm toán độc
lập; và chỉ đạo kiểm toán nội bộ5. Trong đó, chức năng kiểm toán nội bộ là chức
năng quan trọng và sự vắng mặt của chức năng này sẽ phải thể hiện trong báo
cáo hàng năm của công ty (ICAEW, 20046). Với vai trò quan trọng của mình,
các thành viên của ủy ban kiểm toán thường là các thành viên độc lập, có nhiều
kinh nghiệm chuyên môn về tài chính, kế toán và quản trị rủi ro (IIA, 2014).
(3) Hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ
Hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ là hai cơ chế kiểm soát quan trọng và lâu
đời trong quản trị công ty. Theo đó, hệ thống kế toán sẽ cung cấp thông tin về
cơ cấu tài sản, tình hình hoạt động công ty thông qua hệ thống BCTC và các báo
cáo khác. Các báo cáo này phần nào giải quyết tình trạng bất cân xứng thông tin
(vấn đề người đại diện) giữa chủ sở hữu và nhà quản lý. Tuy nhiên, để đảm bảo
các thông tin được cung cấp là đáng tin cậy cũng như hạn chế các rủi ro trong
quá trình điều hành, BCTC của công ty cần phải được kiểm toán bởi các công
ty kiểm toán độc lập. Đồng thời các nhà quản lý cũng phải xây dựng và duy trì
một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu tại doanh nghiệp.
Thuật ngữ kiểm soát nội bộ xuất hiện lần đầu tiên vào thời kỳ cách mạng công
nghiệp với hình thức ban đầu là kiểm soát tiền. Theo thời gian, khái niệm kiểm
soát nội bộ đã không ngừng được mở rộng, vượt ra khỏi những thủ tục bảo vệ
tài sản và ghi chép sổ sách kế toán (Dicksee & Montgomery, 1905; FRB, 1929;
AICPA, 1949; CAP, 1958, 1963, 1972). Tuy nhiên, trước khi báo cáo COSO
(1992) ra đời thì kiểm soát nội bộ chủ yếu được quan tâm và đánh giá bởi các
kiểm toán viên trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính. Báo cáo COSO
(1992) là tài liệu đầu tiên trên thế giới nghiên cứu và định nghĩa về kiểm soát
nội bộ một cách đầy đủ và có hệ thống. Theo đó, kiểm soát nội bộ là một quá
5

Các chức năng này cũng là cơ chế kiểm soát của quản trị công ty, được trình bày ở mục (3), (4), (5).

6

Hội kế toán công chứng Anh và xứ Wales (The Institute of Chartered Accountants in England & Wales,
ICAEW).

11

trình do người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối,
được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện mục tiêu về:
(i) Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động; (ii) Sự tin cậy của BCTC; và (iii) Sự
tuân thủ các luật lệ và quy định.
Khuôn mẫu hệ thống kiểm soát nội bộ theo COSO (1992) đã đề cập đến năm bộ
phận cấu thành hoạt động kiểm soát, bao gồm: môi trường kiểm soát, đánh giá
rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, và giám sát. Trong đó,
hoạt động kiểm soát đóng vai trò quan trọng, tồn tại ở mọi bộ phận và mọi cấp
độ tổ chức trong đơn vị.
(4) Kiểm toán nội bộ
Nếu như hệ thống kế toán góp phần giảm thiểu sự bất cân xứng thông tin và
kiểm soát nội bộ giúp giảm thiểu rủi ro và gia tăng sự tin cậy của các thông tin
đó thì kiểm toán nội bộ được duy trì như một cơ chế để giám sát chất lượng của
hệ thống kiểm soát nội bộ và quản trị rủi ro tại doanh nghiệp. Kiểm toán nội bộ
là hoạt động cung cấp các dịch vụ bảo đảm và tư vấn nhằm đem lại giá trị gia
tăng cho doanh nghiệp, hoàn thiện các hoạt động của doanh nghiệp (IIA, 1999).
Như vậy, kiểm toán nội bộ trước hết phải chịu trách nhiệm đánh giá tính hữu
hiệu của hai cơ chế kiểm soát quan trọng trong quản trị công ty là kiểm soát nội
bộ và quản trị rủi ro (IIARF, 2009). Sau đó là chỉ ra các khiếm khuyết của hai
hệ thống này, tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra giải pháp, góp phần gia tăng lợi
ích cho cổ đông. Như vậy, khác với kiểm toán độc lập, kiểm toán nội bộ không
chỉ đưa ra kết luận về sự phù hợp của thông tin mà còn đưa ra các kiến nghị
thích hợp và khả thi cho doanh nghiệp.
Tương tự các cơ chế kiểm soát khác, tính hữu hiệu của kiểm toán nội bộ phụ
thuộc vào năng lực, kinh nghiệm và tính độc lập của các thành viên (kiểm toán
viên nội bộ). Mặc dù IIA đã ban hành các chuẩn mực về kiểm toán nội bộ nhưng
tính độc lập của kiểm toán nội bộ vẫn là mối quan tâm hàng đầu bởi vì các kiểm
toán viên nội bộ vẫn là các nhân viên của công ty. Để khắc phục được vấn đề

12

này, doanh nghiệp phải thiết lập một cơ cấu quản trị thích hợp. Tính hữu hiệu
của kiểm toán nội bộ sẽ giảm sút rõ rệt nếu bộ phận này dưới sự chỉ đạo của nhà
quản lý (ban giám đốc) (Phạm Thị Ngọc Bích, 2014). Theo thông lệ quốc tế,
kiểm toán nội bộ nên trực thuộc ủy ban kiểm toán thuộc HĐQT.
(5) Kiểm toán độc lập
Để đảm bảo các thông tin cung cấp cho chủ sở hữu (thông qua hệ thống kế toán)
là đáng tin cậy, hệ thống kiểm soát nội bộ đã được chủ sở hữu xây dựng và duy
trì xuyên suốt trong mọi hoạt động của doanh nghiệp. Đồng thời, hệ thống này
còn chịu sự giám sát bởi hệ thống kiểm toán nội bộ. Tuy nhiên, các nhà quản lý
đều hiểu rằng, các cổ đông sẽ dựa trên BCTC để đánh giá hiệu quả làm việc và
mức lương thưởng của họ. Do đó, quá trình lập và trình bày BCTC có thể bị tác
động, qua mặt được hệ thống kiểm soát nội bộ và các gian lận trên BCTC có thể
xảy ra. Bên cạnh đó, hệ thống kiểm toán nội bộ không phải lúc nào cũng được
doanh nghiệp thiết lập. Chính vì vậy, kiểm toán độc lập được xem là khâu cuối
cùng trong việc đảm bảo độ tin cậy của các thông tin được cung cấp cho cổ
đông. Thực tế cho thấy một sự thất bại trong kiểm toán độc lập sẽ gây ra các
hậu quả khôn lường (như trường hợp WorldCom hay Enron). Vì vậy, đạo luật
Sarbanes Oxley (2002) hay bộ nguyên tắc quản trị doanh nghiệp của OECD
(2004) đều khẳng định vai trò quan trọng của kiểm toán độc lập trong hệ thống
quản trị công ty. Với vai trò quan trọng của mình, hoạt động kiểm toán độc lập
chịu sự chi phối bởi một hệ thống các chuẩn mực kiểm toán. Tương tự với các
cơ chế kiểm soát khác đã trình bày, tính độc lập của kiểm toán độc lập cũng là
vấn đề được quan tâm. Tính độc lập của cơ chế này cần được đảm bảo ở khâu
đầu tiên là việc chỉ định công ty kiểm toán độc lập. Theo đó, việc chỉ định phải
thuộc ủy ban kiểm toán. Tiếp theo là các quy định về phí kiểm toán, các dịch vụ
phi kiểm toán (như thẩm định giá, tư vấn thuế) không được cung cấp đồng thời,
việc thay đổi kiểm toán viên định kỳ và các nguy cơ khác mà kiểm toán viên
độc lập cần tránh để duy trì tính độc lập.

13

(6) Khuôn khổ pháp lý quản trị công ty ở Việt Nam
Luật doanh nghiệp 2005 (Luật số 60/2005/QH11 ngày 29.11.2005) được xem
là khuôn khổ pháp lý nền tảng của quản trị công ty tại Việt Nam. Theo đó, các
cơ chế kiểm soát trong quản trị công ty cũng có nét tương đồng với thông lệ
quốc tế. Nghĩa là cũng bao gồm (i) HĐQT, (ii) ủy ban kiểm toán, (iii) hệ thống
kế toán và kiểm soát nội bộ, (iv) kiểm toán nội bộ, và (v) kiểm toán độc lập. Tuy
nhiên, Việt Nam có thêm ban kiểm soát bên cạnh HĐQT (Luật doanh nghiệp
2005, 2014). Điểm khác biệt này cũng tương đồng với một số nước trên thế giới
(Ooghe & Langhe, 2002).
Về HĐQT: luật doanh nghiệp (2005) vẫn chưa làm rõ vai trò, trách nhiệm giải
trình của HĐQT (hay hội đồng thành viên). Theo luật doanh nghiệp 2014 (Luật
số 68/2014/QH13 ngày 26.11.2014), HĐQT là cơ quan quản lý công ty, có toàn
quyền nhân danh công ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của
công ty không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ). Đồng
thời, chức năng giám sát của HĐQT đã được trình bày một cách rất cụ thể trong
Luật doanh nghiệp 20147.
Về ủy ban kiểm toán và ban kiểm soát: đây là sự khác biệt giữa Việt Nam và
thông lệ quốc tế nhưng Việt Nam không hoàn toàn bỏ đi sự tồn tại của Ủy ban
kiểm toán trong HĐQT mà bổ sung thêm ban kiểm soát bên cạnh HĐQT. Sự
khác biệt này phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức quản lý mà công ty lựa chọn8.

7

Theo đó, HĐQT có thể (i) […] bổ nhiệm, miễn nhiệm, ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng đối
với Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý quan trọng khác do Điều lệ công ty quy
định; (ii) quyết định tiền lương và quyền lợi khác của những người quản lý đó; (iii) cử người
đại diện theo ủy quyền tham gia Hội đồng thành viên hoặc ĐHĐCĐ ở công ty khác, quyết định
mức thù lao và quyền lợi khác của những người đó; (iv) giám sát, chỉ đạo Giám đốc hoặc Tổng
giám đốc và người quản lý khác trong điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty;
(v) quyết định cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ của công ty […], v.v.

8

Theo khoản 1, điều 134 Luật doanh nghiệp 2014, CTCP có quyền lựa chọn tổ chức quản lý và
hoạt động theo một trong hai mô hình sau đây, trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có
quy định khác:

14

Về hệ thống kế toán, hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ và kiểm toán
độc lập: các khuôn khổ pháp lý của các cơ chế này tiệm cận với thông lệ quốc
tế thông qua các văn bản quy phạm pháp luật và hệ thống các chuẩn mực được
ban hành bởi Chính phủ và Bộ Tài chính.
Bên cạnh đó, các công ty niêm yết còn chịu sự chi phối bởi quy chế quản trị
công ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán/Trung
tâm Giao dịch Chứng khoán (Quyết định 12/2007/QĐ-BTC ngày 13.03.2007)
và Quy định về quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng (Thông tư
121/2012/TT-BTC ngày 26.07.2012). Quyết định 12/2007/QĐ-BTC đã khắc
phục một số khiếm khuyết của Luật doanh nghiệp (2005) như (i) có đề cập đến
thành viên không điều hành trong HĐQT; (ii) bảo vệ lợi ích của cổ đông không
nắm quyền kiểm soát; và (iii) làm rõ hơn trách nhiệm của HĐQT và ban kiểm
soát. Thông tư 121/2012/TT-BTC đưa ra một số quy định khắt khe hơn, đồng
thời nhấn mạnh về số lượng thành viên độc lập trong HĐQT thay vì thành viên
không điều hành đối với công ty đại chúng quy mô lớn.
Với quản trị công ty, tính độc lập của từng cơ chế kiểm soát trong quy chế này
là vấn đề được quan tâm nhiều nhất. Tại Việt Nam, khuôn khổ pháp lý quy định
về tính độc lập tuy chưa đầy đủ nhưng có những bước tiến rõ rệt. Ban đầu, các
yêu cầu về tính độc lập của HĐQT không được nhắc đến trong các văn bản quy
phạm pháp luật. Luật doanh nghiệp (2005) có đề cập đến tính độc lập của ban
kiểm soát nhưng ban kiểm soát không được trao đủ quyền để giám sát hữu hiệu.
Thành viên độc lập bắt đầu xuất hiện trong điều lệ mẫu dành cho các công ty
niêm yết từ những năm 2002-2003. Tuy nhiên, số doanh nghiệp thực hiện không

a) ĐHĐCĐ, HĐQT, Ban kiểm soát và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp CTCP có
dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty thì
không bắt buộc phải có Ban kiểm soát;
b) ĐHĐCĐ, HĐQT, và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp này ít nhất 20% số thành
viên HĐQT phải là thành viên độc lập và có Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc HĐQT. Các
thành viên độc lập thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc
quản lý điều hành công ty.

15

nhiều vì yêu cầu có tính khuyến khích, không chế tài. Sau đó quy chế quản trị
công ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán/Trung
tâm Giao dịch Chứng khoán (Quyết định 12/2007/QĐ-BTC ngày 13.03.2007)
và Quy định về quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng (Thông tư
121/2012/TT-BTC ngày 26.07.2012) quy định số lượng thành viên HĐQT của
công ty đại chúng quy mô lớn và công ty niêm yết ít nhất là 5 người, nhiều nhất
11 người, trong đó 1/3 là thành viên HĐQT độc lập. Tuy nhiên, văn bản không
đề cập thành viên độc lập là gì, các tiêu chí về năng lực, kinh nghiệm mà họ
phải đạt được. Bên cạnh đó, vai trò của thành viên độc lập cũng không được đề
cập một cách chi tiết. Điều lệ mẫu áp dụng cho công ty niêm yết (Quyết định
15/2007/QĐ-BTC ngày 19.03.2007) có đề cập đến vai trò của thành viên độc
lập nhưng không có sự khác biệt với các thành viên HĐQT khác. Cho đến khi
Luật doanh nghiệp 2014 được ban hành, các tiêu chí về thành viên độc lập trong
HĐQT mới được đề cập một cách rõ ràng9.

9

Thành viên độc lập Hội đồng quản trị có các tiêu chuẩn và điều kiện sau đây, trừ trường hợp
pháp luật về chứng khoán có quy định khác:
a) Không phải là người đang làm việc cho công ty, công ty con của công ty; không phải là
người đã từng làm việc cho công ty, công ty con của công ty ít nhất trong 03 năm liền trước.
b) Không phải là người đang hưởng lương, thù lao từ công ty, trừ các khoản phụ cấp mà thành
viên HĐQT được hưởng theo quy định;
c) Không phải là người có vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi,
anh ruột, chị ruột, em ruột là cổ đông lớn của công ty; là người quản lý của công ty hoặc
công ty con của công ty;
d) Không phải là người trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu ít nhất 1% tổng số cổ phần có quyền
biểu quyết của công ty;
đ) Không phải là người đã từng làm thành viên HĐQT, Ban kiểm soát của công ty ít nhất trong
05 năm liền trước đó.

16

2.1.3. Cấu trúc sở hữu kim tự tháp
Hiệu quả của cách thức quản trị công ty được cho là có thể bị ảnh hưởng khi
công ty có tồn tại cấu trúc sở hữu kim tự tháp (Connelly, Limpaphayom, &
Nagarajan, 2012). Để hiểu rõ cấu trúc sở hữu kim tự tháp là gì, trong phần này,
tác giả trình bày sơ nét về cấu trúc sở hữu, quyền sở hữu và quyền kiểm soát.
(1) Cấu trúc sở hữu và công ty gia đình
Đầu tiên, cấu trúc sở hữu không chỉ là sự phân bố các thành phần nắm giữ vốn
chủ sở hữu mà còn là danh tính (đặc điểm, tính chất) của chủ sở hữu (Zheka,
2003). Nghiên cứu của Jensen & Meckling (1976) là một nghiên cứu kinh điển
về lĩnh vực này. Theo đó, cấu trúc sở hữu có thể được phân loại thông qua mức
độ tập trung và/hoặc danh tính của các chủ sở hữu. Ở mức độ tập trung, cấu trúc
sở hữu gồm sở hữu tập trung và sở hữu phân tán (Fazlzadeh & cộng sự, 2011).
Ở góc độ danh tính, cấu trúc sở hữu được phân thành sở hữu bên trong và sở
hữu bên ngoài (Jensen & Meckling, 1976). Trong đó, chủ sở hữu bên trong là
các nhà quản lý và nhân viên; và chủ sở hữu bên ngoài là các cá nhân, tổ chức
và nhà nước. Đồng thời, chủ sở hữu còn được phân biệt bởi yếu tố quốc gia
(nước ngoài và bản địa) hay có sự tồn tại của sở hữu gia đình hay không.
Ở nhiều quốc gia, công ty gia đình (cấu trúc sở hữu gia đình) là một loại hình
sở hữu phổ biến. Claesens & cộng sự (2000) cho thấy hơn 50% trong 2980 công
ty niêm yết tại Đông Á trong mẫu nghiên cứu là công ty gia đình. Không chỉ
Đông Á, 1/3 công ty trong danh sách S&P 500 tại Mỹ (Anderson & Reeb, 2003)
và 53% trong 675 công ty niêm yết tại 11 quốc gia châu Âu (Barontini & Caprio,
2006) cũng là công ty gia đình. Tuy nhiên, đến nay, như thế nào được xem là
một công ty gia đình vẫn còn là vấn đề nhiều tranh cãi. Miller & cộng sự (2007)
cho thấy có đến 28 định nghĩa khác nhau về công ty gia đình trong các nghiên
cứu trước đó. Về tổng thể, công ty gia đình là một loại hình sở hữu mà trong đó
các thành viên gia đình nắm giữ phần lớn vốn chủ sở hữu, quyền quản trị và
điều hành công ty. Theo đó, một gia đình có thể kiểm soát công ty theo ba cách:

17

 Là thành viên sáng lập công ty: cách tiếp cận này được Anderson & Reeb
(2003), Cronqvist & Nilsson (2003), Villalonga & Amit (2004) sử dụng,
trong đó cổ đông lớn nhất công ty là thành viên của gia đình sáng lập.
 Kiểm soát công ty thông qua quyền biểu quyết: La Porta & cộng sự (1999)
sử dụng cách tiếp cận này dựa trên số lượng quyền biểu quyết và/hoặc vốn
cổ phần lớn nhất mà gia đình (hoặc cá nhân) nắm giữ. Nhiều nghiên cứu sau
đó đã sử dụng và phát triển cách tiếp cận này (Claesens & cộng sự; 2002;
Faccio & Lang, 2002; Bennedsen & cộng sự, 2007).
 Tham gia hoạt động quản trị của công ty: theo cách tiếp cận này, công ty gia
đình được xác định thông qua việc sở hữu và tham gia hoạt động quản trị
công ty và/hoặc có thành viên gia đình trong ban giám đốc của công ty
(Martinez & cộng sự, 2007).
Trong ba cách tiếp cận này, cách tiếp cận thứ hai được cho là sẽ giúp các thành
viên trong gia đình duy trì một lượng quyền biểu quyết cao hơn với số lượng cổ
phiếu nắm giữ ít hơn. Từ đó, hình thành cấu trúc sở hữu kim tự tháp. Để hiểu rõ
hơn về cấu trúc này, nghiên cứu tiến hành đề cập đến quyền sở hữu, quyền lợi
ích, quyền biểu quyết và quyền kiểm soát.
(2) Quyền sở hữu (ownership rights) & quyền lợi ích (cashflow rights)
Quyền sở hữu (ownership rights) được hiểu là quyền được hưởng các lợi ích
kinh tế từ các hoạt động của công ty tương ứng với tỷ lệ sở hữu mà nhà đầu tư
đang nắm giữ. Trong đó, lợi ích kinh tế có thể tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau
(Nguyễn Trí Tri & Vũ Hữu Đức, 2014). Tuy nhiên, lợi ích phổ biến nhất mà cổ
đông (nhà đầu tư) có thể nhận được là cổ tức được chia từ lợi nhuận công ty. Do
đó, quyền sở hữu (ownership rights) đôi khi còn đươc biết đến là quyền được
hưởng lợi ích hay quyền lợi ích (cashflow rights). Tỷ lệ lợi ích cuối cùng (thông
qua tỷ lệ sở hữu) có thể có được từ sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các
công ty trung gian.