Tải bản đầy đủ
2 Các giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn trong thực hiện can thiệp vô hiệu hóa tại Việt Nam

2 Các giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn trong thực hiện can thiệp vô hiệu hóa tại Việt Nam

Tải bản đầy đủ

61

Tuy nhiên, trên thực tế, hàng hóa của thị trường mở hiện còn khá nghèo nàn,
chủ yếu là tín phiếu ngân hàng. Các phương tiện giao dịch như các loại trái phiếu
thời hạn ngắn, chứng khoán do bản thân các ngân hàng phát hành... vẫn chưa giao
dịch trên thị trường này. Thêm vào đó, khối lượng tín phiếu ngân hàng còn quá nhỏ
so với quy mô vốn của ngân hàng. Như vậy, nghiệp vụ thị trường mở chưa thực sự
có tác động lớn đến cung cầu vốn trên thị trường. Việc tăng khối lượng hàng hóa
giao dịch cũng là hấp lực để thu hút nhiều tổ chức tín dụng tham gia thị trường mở.
Thêm vào đó, hiện nay chỉ có giấy tờ có giá ngắn hạn mới được sử dụng để
giao dịch trên thị trường mở. Thực tế đó ở Việt Nam và một số nước khác là do thị
trường tài chính chưa phát triển nên nghiệp vụ thị trường mở chưa có khả năng sử
dụng các giấy tờ có giá dài hạn làm công cụ của mình. Ta biết rằng hành vi mua vào
và bán ra giấy tờ có giá là hoạt động thường xuyên trên thị trường mở. Lúc này
mua vào thì lúc khác bán ra, thậm chí NHNN có thể thực hiện hành vi mua lại ngay
lập tức sau khi hành vi bán được thực hiện nếu phát hiện ra mình đã mua quá nhiều
và vì vậy đã đưa tiền vào lưu thông quá mức cần thiết. Và ngược lại thay hành vi
bán bằng hành vi mua khi cảm thấy sự “ ngột ngạt, tắc nghẽn” của hoạt động kinh
tế vì không đủ tiền cần thiết trong lưu thông mà nguyên nhân do NHNN bán ra một
số lượng giấy tờ có giá quá lớn. Chính vì hành vi mua bán trao đổi thường xuyên
các giấy tờ có giá tạo ra khả năng kết nối nhiều nguồn vốn ngắn hạn thành vốn
trung và dài hạn để thoả mãn nhu cầu của chủ thể kinh tế trên thị trường vốn. Một
nền kinh tế có thị trường chứng khoán, có thị trường tài chính phát triển thì tính chất
dài hạn của nguồn vốn chỉ tồn tại ở phía người phát hành mà bản chất nguồn vốn
dài hạn này là một chuỗi các nguồn ngắn hạn tạo thành. Chúng ta sẽ không phải e
ngại khi mua chứng khoán trung và dài hạn thì vốn sẽ bị đọng lại một chỗ. Bởi lẽ,
trong nghiệp vụ thị trường mở, không chỉ có phương thức mua bán hẳn mà còn có
phương thức giao dịch có kỳ hạn. Chính phương thức giao dịch này giúp cho
NHNN có thể chủ động về thời hạn và không bị phụ thuộc vào thời hạn của chứng
khoán.

62

Phân tích trên cho thấy các loại chứng khoán trung và dài hạn có đủ cơ sở để
tham gia vào nghiệp vụ thị trường mở. Do đó, để hoạt động trên thị trường mở thực
sự sôi động thì một trong những điều kiện cần thiết là phải bổ sung thêm các loại
hàng hóa cho thị trường. Vì vậy, trong thời gian tới, NHNN cần xem xét bổ sung
thêm các loại giấy tờ có giá được phép giao dịch trên thị trường mở.
Gia tăng số lượng chứng khoán có kỳ hạn ngắn 3 tháng, 6 tháng và 9 tháng
để làm tăng khối lượng hàng hóa trên thị trường và tính khả dụng trong các giao
dịch. Trong thời gian qua, khối lượng hàng hóa loại này chiếm tỷ trọng ít cho nên
khi đã mua trên thị trường sơ cấp, các tổ chức tài hính không muốn bán lại trên thị
trường thứ cấp mà coi đó là vốn đầu tư hơn là sử dụng để điều tiết khả năng tiền
mặt. Ngoài ra, ngoài các giấy tờ có giá ngắn hạn, cần đưa thêm các loại chứng
khoán dài hạn với thời kỳ mãn hạn còn lại dưới một năm vào thị trường.
Mặt khác, cũng cần phải mở rộng nghiệp vụ mua bán có kỳ hạn trên thị
trường mở để làm tăng khối lượng chứng khoán giao dịch trên thị trường. Giao dịch
kỳ hạn sẽ giúp giải tỏa được tình trạng khan hiếm hàng hóa. Mặt khác, nghiệp cụ
giao dịch kỳ hạn cũng làm tăng khả năng can thiệp của NHNN vào thị trường để
điều tiết lượng tiền trong lưu thông. NHNN có thể chủ động quyết định mua bán với
số lượng là bao nhiêu, thời hạn nào, theo phương thức nào tùy thuộc theo yêu cầu
của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Tuy nhiên vẫn phải kết hợp phương thức
giao dịch có kỳ hạn với phương thức mua bán hẳn. Vì mặc dù giao dịch có kỳ hạn
giúp NHNN chủ động về mặt tời gian nhưng mua bán hẳn lại có tác dụng hỗ trợ ở
những thời điểm “tức thời” không thể chậm trễ, không thể chờ đến thời hạn.
3.2.1.2 Các công cụ phi thị trƣờng
Công cụ phi thị trường của biện pháp can thiệp vô hiệu hóa chính là dự trữ
bắt buộc đối với các NHTM. Dự trữ bắt buộc là một phần số dư tiền gửi các loại mà
các NHTM phải dự trữ dưới dạng tiền mặt hoặc tiền gửi tại NHNN. Đây là công cụ
mang tính chất đầy quyền lực vì nó mang nặng tính chất hành chính và nó tác động
như nhau đối với ngân hàng, giúp phản ánh được tính chất quyền lực của NHNN,
đảm bảo cho ngân hàng nhà nước thực thi được các chính sách tiền tệ một cách

63

công bằng, nhanh và mạnh. Tuy nhiên, dự trữ bắt buộc làm tăng chi phí đầu vào cho
ngân hàng do đó không thể tăng dự trữ bắt buộc lên quá cao vì nó sẽ làm tăng gánh
nặng chi phí cho ngân hàng và đẩy lãi suất cho vay lên cao hơn nhiều. Đây là nhược
điểm lớn nhất của công cụ dự trữ bắt buộc.
Trước đây, dự trữ bắt buộc nhằm đảm bảo khả năng thanh toán cho tổ chức
tín dụng trước nhu cầu rút tiền mặt của khách hàng và do đó hạn chế rủi ro thanh
toán cho cả hệ thống. Tuy nhiên, theo thời gian, ý nghĩa này giảm dần vì cho dù tổ
chức tín dụng có duy trì một mức dự trữ bắt buộc lớn bao nhiêu thì khi rủi ro thanh
khoản xảy ra, mức dự trữ này cũng không thể giúp tổ chức tín dụng chống đỡ được
nguy cơ phá sản. Mặt khác, các tổ chức tín dụng cũng không thể duy trì một mức dự
trữ bắt buộc quá lớn nhằm kiềm chế lạm phát và thực thi chính sách tiền tệ vì đặc
điểm của dự trữ bắt buộc là không sinh lời, dự trữ bắt buộc càng cao thì lợi nhuận
của các tổ chức tín dụng càng giảm, điều này đi ngược lại mục tiêu hoạt động vì lợi
nhuận của tổ chức tín dụng. Chính vì vậy, hiện nay, việc sử dụng công cụ dự trữ bắt
buộc để kiểm soát cung tiền qua đó kiểm soát lạm phát ít được sử dụng trên thế giới.
đặc biệc là những nước phát triển và có nền kinh tế ổn định. Các nước này áp dụng
phổ biến công cụ nghiệp vụ thị trường mở (OMO) vì những ưu điểm to lớn mà công
cụ này mang lại.
Trong khi đó, Việt Nam vẫn sử dụng thường xuyên công cụ dự trữ bắt buộc
bởi nhiều nguyên nhân khác nhau. Công cụ dự trữ bắt buộc mang tính hành chính
áp đặt trực tiếp, đầy quyền lực và cực kỳ quan trọng để cắt cơn sốt lạm phát, khôi
phục hoạt động kinh tế trong trường hợp nền kinh tế phát triển chưa ổn định và các
công cụ thị trường mở chưa đủ mạnh để có thể đảm nhận trách nhiệm điều hòa mức
cung tiền tệ cho nền kinh tế. Mặt khác, đồng tiền Việt Nam chưa có chỗ đứng tốt
trên thị trường quốc tế nên hiện tượng Đô la hóa tại Việt Nam vẫn đang là vấn đề
cấp bách. Do đó, trong tương lai, chắc chắn Việt nam sẽ phải tiếp tục sử dụng công
cụ này. Vấn đề đặt ra là, Việt Nam cần phải sử dụng công cụ này như thế nào trong
bối cảnh hiện tại.

64

Có thể thấy, khi lạm phát cao, NHNN sẽ phải hút tiền về, biện pháp có thể sử
dụng tới là tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc nội tệ đối với các tổ chức tín dụng. Nhưng thời
gian qua, do hệ thống ngân hàng thiếu thanh khoản nên nếu NHNN tăng tỷ lệ dự trữ
bắt buộc thì sẽ gây khó khăn cho nền kinh tế. Do đó, có thể nói rằng, công cụ này đã
mất đi tác dụng và bị tê liệt trong thời gian qua. Còn trong bối cảnh hiện tại, sức
khỏe của hệ thống ngân hàng vẫn chưa có nhiều dấu hiệu phục hồi, thanh khoản của
toàn hệ thống ngân hàng còn hết sức mỏng và bấp bên. Do đó, việc gia tăng dự trữ
bắt buộc đối với nội tệ để kiềm chế lạm phát có thể sẽ còn bị tê liệt trong một
khoảng thời gian nữa. Việc đưa ra bất kỳ quyết định điều chỉnh nào về tỷ lệ dự trữ
bắt buộc đối với nội tệ trong điều hiện hiện nay đều rất dễ mang đến những hậu quả
khó lường.
Tuy nhiên, việc gia tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với các tổ
chức tín dụng nhằm làm giảm hiện tượng Đô la hóa lại là một giải pháp nhận được
nhiều sự đồng thuận của các chuyên gia và các NHTM. Sau khoảng thời gian dài
với nhiều tin đồn và khuyến nghị, cuối cùng NHNN đã quyết định tăng dự trữ bắt
buộc bằng ngoại tệ vào ngày 09/04/2011. NHNN Việt Nam ban đã ban hành quyết
định số 750/QĐ-NHNN điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với các tổ
chức tín dụng. Việc tăng dự trữ bắt buộc và áp trần lãi suất bằng ngoại tệ dưới 3%
đã làm giảm sự hấp dấn của việc nắm giữ ngoại tệ, từ đó cũng làm giảm sự biến
động của tỷ giá. Người dân và doanh nghiệp sẽ bán ngoại tệ cho ngân hàng thương
mại và NHNN cũng có thể mua ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối. Mặt khác, tuy
việc tăng dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ không có tác động mạnh bằng việc tiến hành
biện pháp tương tự đối với nội tệ nhưng đây vẫn là công cụ lợi hại trong việc kiềm
chế lạm phát. Tăng dự trữ bắt buộc ngoại tệ sẽ làm giảm tăng trưởng tín dụng bằng
ngoại tệ, giảm tổng tăng trưởng tín dụng. Về bản chất, đây là chính sách thắt chặt
tiền tệ để chống lạm phát. Tuy vậy, bất kỳ một chính sách nào bên cạnh các tác
động tích cực thì chúng ta cũng buộc phải chấp nhận những tác động tiêu cực. Tăng
tỷ lệ dự trữ bắt buộc ngoại tệ và khống chế lãi suất liền gửi USD sẽ ảnh hưởng đến
hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Những ngân hàng có tỷ lệ tín dụng bằng

65

ngoại tệ chiếm tỷ lệ lớn sẽ bị ảnh hưởng mạnh bởi chi phí vốn tăng. Ngoài ra, tín
dụng cho vay ngoại tệ giảm cũng ảnh hưởng đến lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh
của họ.
Thật sự, trong bối cảnh khó khăn của Việt Nam hiện nay, khó có thể tìm
được một giải pháp toàn vẹn nào, có chăng là NHNN cần cẩn trọng trong lựa chọn
những giải pháp có tính khả thi nhất và áp dụng chúng một cách thật thận trọng.
3.2.2 Một số khyến nghị trong chính sách điều hành kinh tế của Việt Nam
3.2.2.1 Tái cơ cấu hệ thống NHTM nhằm gia tăng tính khả thi của công cụ dự
trữ bắt buộc
Như đã nói, dự trữ bắt buộc được xem là một biện pháp hữu hiệu nhằm gia
tăng kiểm soát dòng chu chuyển vốn ra vào nền kinh tế. Tuy nhiên với thực trạng
của hệ thống NHTM hiện nay ở Việt Nam, rất khó để NHNN có thể linh hoạt và
chủ động trong việc sử dụng công cụ này. Điều này cũng đồng nghĩa nếu NHNN
muốn gia tăng tính độc lập của chính sách tiền tệ thì cần có những động thái quyết
liệt hơn để cải tổ và tái cơ cấu hệ thống NHTM, kiên quyết xử lý những ngân hàng
nhỏ, thanh khoản và quản trị rủi ro kém. Tuy nhiên, điều này cũng cần được thực
hiện hết sức cẩn thận vì khi một ngân hàng phá sản hoặc gặp tin đồn về khó khăn,
hiệu ứng dây chuyền sẽ xảy ra và nền kinh tế có thể rơi vào tình trạng mất kiểm soát
trầm trọng hơn, thậm chí là dẫn đến khủng hoảng mới
Chính phủ nên bắt đầu cải cách hệ thống ngân hàng khi nền kinh tế đang
trong giai đoạn phát triển tốt hay ít ra là ổn định và ít biến cố; như vậy việc cải cách
sẽ hiệu quả hơn do hoạt động của các ngân hàng vẫn đang tiến hành tốt đẹp, và chi
phí từ việc cải tổ không gây áp lực quá lớn đẩy hệ thống ngân hàng vào trong tình
trạng lao đao. Tất nhiên là mỗi ngân hàng sẽ có cơ chế vận hành khác nhau nên việc
quy định riêng cho cơ cấu quản lý cho mỗi ngân hàng là điều không thể, Chính phủ
chỉ có thể quy định những nền tảng mấu chốt nhằm đưa hoạt động của các ngân
hàng đi vào khôn khổ, kỷ luật và minh bạch để tránh các vấn đề về rủi ro đạo đức;
đồng thời cũng tạo điều kiện cho các ngân hàng tự do cạnh tranh để tự nâng cao
trình độ hoạt động của mình.

66

Hiện nay trên thị trường, xu thế sáp nhập giữa các ngân hàng diễn ra khá
mạnh; các ngân hàng nhỏ sáp nhập lại với nhau tạo nên một trung gian tài chính
vững mạnh hơn và dễ dàng cho Nhà Nước hơn trong việc quản lý, thi hành các
chính sách. Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại đang nỗ
lực tái cơ cấu giai đoạn 2 để sáp nhập thêm một số tổ chức tín dụng yếu kém làm
lành mạnh hóa các tổ chức tín dụng này. Tuy nhiên, quá trình tái cơ cấu hệ thống
ngân hàng thương mại cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức và nhiều làn
sóng dư luận khác nhau. Liên quan đến hậu sáp nhập ngân hàng, nhiều chuyên gia
bày tỏ sự quan ngại về số phận của ngân hàng, liệu rằng có thật sự được lợi, hay sẽ
đi đâu về đâu?
Mặc dù quá trình tái cơ cấu đã có một số kết quả khả quan, nhưng các
NHTM đang thận trọng hơn khi báo cáo về hiệu quả vì muốn tái cơ cấu hiệu quả
vẫn còn rất nhiều việc phải làm. Đối với các NH sáp nhập, hợp nhất, vấn đề cốt lõi
đầu tiên sau sáp nhập là nhanh chóng ổn định NH mới và tiếp tục triển khai kế
hoạch cũng như định hướng phát triển cho những năm tiếp theo. Đồng thời, khi quy
mô lớn lên việc điều hành sẽ phức tạp hơn và yêu cầu về mặt quản trị, tiêu chuẩn
quy trình về vận hành, công nghệ phải tốt lên.
Ngoài ra, những vấn đề như sở hữu chéo; quản trị ngân hàng và quản trị rủi
ro yếu kém, tính công khai minh bạch của các TCTD trong việc công bố chính xác
con số nợ xấu …và tình hình kinh tế khó khăn, niềm tin thị trường giảm sút cũng sẽ
hưởng rất lớn đến quá trình tái cấu trúc của các NHTM.
Những nỗ lực của Chính phủ, Ngân hàng nhà nước thời gian qua đã tạo ra
những điều kiện nền tảng thuận lợi ban đầu cho tiến trình tái cơ cấu hệ thống
NHTM thời gian tới như: kinh tế vĩ mô ổn định, nền kinh tế đang xuất hiện những
dấu hiệu phục hồi và thanh khoản của hệ thống ngân hàng được củng cố.
Có thể hy vọng và tin tưởng rằng, việc áp dụng đồng bộ những giải pháp về
xử lý nợ xấu, tăng cường công tác thanh tra giám sát, nâng cao quản trị rủi ro của
các NHTM và giảm sở hữu chéo..., tiến trình tái cơ cấu hệ thống NHTM Việt Nam
sẽ đạt được triển vọng tích cực.

67

Tóm lại, có thể nói, tái cơ cấu hệ thống ngân hàng đã và đang là vấn đề cấp
thiết không chỉ đối với riêng ngành ngân hàng mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế.
Thực tế, đây là một bài toán khó và vì vậy đòi hỏi không chỉ các NHTM, NHNN
mà các cơ quan chức năng, bộ ngành đều phải cùng chung tay thực hiện. Mặt khác,
đây là một vấn đề lớn nên không thể nóng vội trong quyết định, cần phải tính toán
lỹ lưỡng trong từng bước hành động để xây dựng nên một hệ thống ngân hàng phát
triển lành mạnh, làm nền tảng cho việc tái cơ cấu toàn bộ nền kinh tế.
3.2.2.2 Cải thiện uy tín và nâng cao tính thanh khoản của trái phiếu Chính phủ
Có thể thấy, Việt Nam hiện đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc phát
hành trái phiếu Chính phủ nhằm thực hiện can thiệp vô hiệu hóa. Do đó, Chính phủ
hiện nay cần đặc biệt quan tâm đến việc cải thiện uy tín và nâng cao tính thanh
khoản của trái phiếu Chính phủ nhằm lấy lại lòng tin của các nhà đầu tư cả trong
nước lẫn nước ngoài vào trái phiếu Chính phủ: có như vậy thì việc thắt chặt tiền tệ
thông qua công cụ trái phiếu sẽ dễ dàng hơn. Nhưng để làm được điều này thì việc
cần làm trước mắt là cải thiện tình hình cán cân thanh toán đang bị thâm hụt của
Việt Nam và dần dần chuyển từ thâm hụt sang thặng dư một cách hợp lý và bền
vững. Tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán của Việt Nam đã diễn ra trong một
thời gian dài và không có dấu hiệu khởi sắc rõ rệt làm các nhà đầu tư e ngại và công
ty đánh giá tín nhiệm cũng hạ bậc tín nhiệm đối với trái hiếu Chính phủ Việt Nam,
dẫn đến việc khó tiêu thụ trái phiếu ngay cả thị trường trong nước và nước ngoài.
Nếu như chưa thể điều chỉnh thâm hụt từ việc cải thiện cán cân thương mại bằng
cách tác động lên tỷ giá hối đoái, ta có thể điều chỉnh thâm hụt bằng việc tăng
cường thu hút các dòng vốn đầu tư nước ngoài.
Thực sự, nếu muốn tiêu thụ được trái phiếu trong giai đoạn khó khăn này,
đặc biệt là với một đợt sóng phát hành trái phiếu quốc tế tràn lan của các nước Châu
Á có hệ số tín nhiệm tương đối cao hơn Việt Nam, Chính phủ Việt Nam bắt buộc
phải nâng cao lãi suất trái phiếu. Việc này sẽ gây ra một áp lực lớn cho Chính phủ
khi tới hạn chi trả, nhưng trong giai đoạn khó khăn hiện tại thì việc nâng cao lãi suất
là hết sức cần thiết. Tất cả các vấn đề này có thể được giải quyết nếu như chúng ta

68

có thể xây dựng một cơ chế trả nợ tốt bằng việc thặng dư trong cán cân thanh toán,
từ đó cũng cải thiện lòng tin và mức tín nhiệm của thế giới với thị trường Việt Nam.
Ngoài ra, có thể thấy, thực tế những năm vừa qua, cơ chế phát hành trái
phiếu ở Việt Nam vẫn chưa được hoàn thiện: Hình thức trái phiếu chưa phong phú,
lãi suất chưa hấp dẫn, phương thức trả lãi thiếu linh hoạt (chủ yếu là trả lãi cùng với
gốc khi đến hạn), chưa có các hình thức trái phiếu hiện đại, hấp dẫn người mua và
có khả năng mua bán dễ dàng trên thị trường. Chính sự đơn điệu của các loại hình
trái phiếu đã không khai thác hết tiềm năng về vốn trong xã hội, còn bỏ sót nhiều
nhà đầu tư tiềm năng. Bên cạnh đó, việc phát hành trái phiếu qua hệ thống kho bạc
nhà nước thường kéo dài trong nhiều tháng, không có lịch biểu phát hành cụ thể.
Các trái phiếu của mỗi đợt phát hành có mức lãi suất khác nhau, không có thời gian
đáo hạn thống nhất. Đa số trái phiếu đều phát hành dưới dạng có ghi tên, việc
chuyển nhượng phải làm thủ tục tại kho bạc nhà nước nơi phát hành. Vì vậy, trái
phiếu không đáp ứng đủ tiêu chuẩn kỹ thuật cần thiết để giao dịch tại thị trường
giao dịch tập trung. Thêm vào đó, một vấn đề nữa cần được quan tâm đó là đối
tượng đầu tư của trái phiếu Chính phủ hiện nay chưa đa dạng, chỉ tập trung vào một
số nhà đầu tư nhất định. Điều này dẫn đến thực trạng là công tác huy động vốn của
kho bạc nhà nước phụ thuộc quá nhiều vào một nhóm các nhà đầu tư cố định, gây ra
sự khó khăn, lãng phí và kém hiệu quả trong công tác huy động vốn. Nếu có chính
sách phân loại đối tượng đầu tư của Trái phiếu Chính phủ đúng đắn, tức là hiểu rõ
những đối tượng đầu tư là những thành phần nào? Động cơ nào thúc đẩy các đối
tượng đó đầu tư vào Trái phiếu Chính phủ? Các đặc điểm riêng biệt của từng loại
đối tượng đầu tư? Thông qua việc tìm hiểu về các nhà đầu tư của Trái phiếu Chính
phủ đó, cần xây dựng các chiến lược huy động cho từng nhà đầu tư, trong đó bao
gồm các biện pháp đa dạng hóa các công cụ phát hành, các phương thức phát hành
và thực hiện các biện pháp cụ thể hướng tới từng nhà đầu tư nhằm khuyến khích họ
tích cực tham gia đầu tư vào Trái phiếu Chính phủ.

69

3.2.2.3 Xây dựng một chính sách tài khóa ổn định
Chính sách tài khóa (fiscal policy) trong kinh tế học vĩ mô là chính sách
thông qua chế độ thuế và đầu tư công cộng để tác động tới nền kinh tế. Chính sách
tài khóa cùng với chính sách tiền tệ là các chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng,
nhằm ổn định và phát triển kinh tế
Từ lý thuyết và thực tiễn nhiều năm của Việt Nam, có thể rút ra một số kết
luận về mối quan hệ giữa chính sách tài khóa và lạm phát ở Việt Nam như sau:
 Chính sách tài khóa có mối quan hệ nhân quả với lạm phát. Nếu thâm hụt ngân
sách nhà nước quá mức có thể dẫn đến lạm phát cao. Đặc biệt, nếu bù đắp thâm
hụt ngân sách nhà nước bằng việc phát hành tiền sẽ tất yếu dẫn đến lạm phát.
 Tăng chi ngân sách nhà nước để kích thích tiêu dùng và tăng cầu tiêu dùng sẽ
kích thích đầu tư phát triển và tăng đầu tư phát triển sẽ đưa đến tăng trưởng cao.
Tuy nhiên, nếu tăng chi tiêu khi nền kinh tế đang vượt quá mức tiềm năng thì sẽ
kéo theo lạm phát, mà lạm phát cao lại làm giảm đầu tư phát triển và giảm đầu
tư phát triển kéo theo giảm tăng trưởng.
 Thâm hụt ngân sách nhà nước cao và liên tục sẽ đẩy nợ công nên cao và việc bù
đắp thâm hụt này qua vay nợ cũng có nguy cơ tác động đến tăng giá.
Trong bối cảnh lạm phát cao còn rình rập thì vấn đề đặt ra hiện nay là cần rà
soát cắt giảm chi tiêu ngân sách nhà nước chưa thật cần thiết và kém hiệu quả như
đề ra các tiêu chí, tiêu chuẩn để cắt bỏ, đình hoãn những công trình đầu tư chưa thật
bức bách, kém hiệu quả hoặc chưa khởi công nhằm thực thi môt chính sách tài khóa
chặt chẽ. Đây là một trong những nhiệm vụ cực kỳ khó khăn. Việc làm này đòi hỏi
phải có sự đồng tâm nhất trí và quyết tâm cao của tất cả các bộ, ngành và địa
phương trong việc thực hiện chính sách của Nhà nước.
Bên cạnh đó, Chính phủ nên lập trình hẳn một chính sách tài khóa ổn định
mang tầm dự báo, có thể thích nghi thay đổi tùy theo từng hoàn cảnh cụ thể. Việc
này rất quan trọng trong việc xây dựng một thể chế kinh tế vĩ mô ổn định lâu dài.
Từ đó ta càng thấy rõ tầm quan trọng của công tác dự báo kinh tế, nếu như ước
lượng được một phần rủi ro sẽ xảy ra và chuẩn bị dần dần những công cụ để khắc

70

phục nó thì chính sách tài khóa của Việt Nam sẽ không còn trong thế bị động, mang
tính “thời vụ”, cứ thay đổi liên tục theo chuyển biến thị trường; mà ta sẽ nằm trong
thế chủ động, khắc phục nó khi hậu quả gây ra chưa ảnh hưởng nghiêm trọng. Điều
này còn mang lại lợi ích trong việc củng cố niềm tin nhà đầu tư vào thị trường.
3.2.2.4 Kiểm soát tình trạng Đô la hóa nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc ổn
định tỷ giá bằng biện pháp can thiệp vô hiệu hóa
Đô la hóa là tình trạng khó tránh khỏi đối với các nước có xuất phát điểm
thấp, đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế và đẩy mạnh hội nhập quốc tế như
Việt Nam. Hiện tượng Đô la hóa của Việt Nam có lúc tăng cao, lúc hạ thấp, nhưng
về cơ bản chưa chấp dứt và luôn ở mức khá trầm trọng. Do đó, để khắc phục tình
trạng đô la hóa, đòi hỏi phải có nhiều giải pháp đồng bộ. Những kinh nghiệm thực
tiễn về quản lý đồng ngoại tệ của một số quốc gia trên thế giới đều có thể tham khảo
và áp dụng cho Việt nam. Tuy nhiên, trước khi áp dụng một phương pháp mới,
chúng ta không nên chắc chắn rằng có thể tránh được các trở ngại, đặc biệt trong
bối cảnh đồng USD – tiền tệ thế giới đã thấm sâu trong dân suốt một thời gian dài.
Vì vậy, xóa bỏ Đô la hóa trong nền kinh tế nước ta phải được thực hiện từng bước,
từng khâu thích ứng với từng giai đoạn đổi mới, phát triển của đất nước, phải bằng
nhiều giải pháp vừa kinh tế, vừa hành chính kết hợp với giáo dục pháp luật và điều
chỉnh tâm lý xã hội.
Xóa bỏ Đô la hóa không có nghĩa là xóa bỏ toàn bộ, phủ định tất cả các vấn
đề, mà chúng ra cần hiểu theo hướng: Trong giai đoạn hiện nay, cần cố gắng khai
thác mặt lợi, thu hút vốn Đô la trong dân vào hệ thống ngân hàng, từ đó đầu tư cho
các dự án phát triển kinh tế xã hội, thị trường ngoại tệ và hoạt động kinh doanh tiền
tệ vốn đang hội nhập với thị trường tiền tệ quốc tế. Nói như vậy, có nghĩa là chúng
ta chấp nhận sự tồn tại của Đô la hóa ở những mặt tích cực khách quan. Điều quan
trọng nhất là Nhà nước phải giữ vai trò chủ động để điều chỉnh hiện tượng Đô la
hóa, nhất quyết phải có các giải pháp hành chính – kinh tế - giáo dục đồng bộ để
triệt tiêu các mặt tiêu cực của Đô la hóa. Cụ thể:

71

 Chúng ta đã biết, nguyên nhân chính của hiện tượng Đô la hóa là do sự mất
lòng tin vào đồng nội tệ của người dân sau những cuộc khủng hoảng kinh tế và
xu hướng thích sử dụng đồng USD vì tính ổn định của nó. Chính vì vậy, giải
pháp cần thiết nhất lúc này là phải xây dựng nền kinh tế tăng trưởng ổn định và
kiềm chế lạm phát để tạo niềm tin của người dân vào đồng nội tệ.
 Kế đến, cần tạo môi trường đầu tư trong nước có khả năng hấp thụ được số vốn
ngoại tệ hiện có trong nước và thu hút được từ nước ngoài vì thực tế cho thấy
việc hấp thụ kém các nguồn vốn này là một nguyên nhân quan trọng làm tăng
tình trạng Đô la hóa.
 Bên cạnh đó, việc mua bán ngoại tệ cần được quản lý chặt chẽ. Quy định rõ
những cơ quan, đơn vị được phép sử dụng USD trong giao dịch, thanh toán
trong xuất nhập khẩu, làm nhiệm vụ đối ngoại. Nghiêm cấm sử dụng ngoại tệ
đầu cơ trục lợi, mua bán lòng vòng làm ảnh hưởng đến đồng nội tệ. Không
được duy trì quyền sở hữu ngoại tệ không có nguồn gốc hợp pháp. Cần có quy
chế rõ ràng rằng sở hữu ngoại tệ của dân cư là sở hữu ngoại tệ hợp pháp chuyển
từ nước ngoài vào, không cho phép sở hữu số ngoại tệ có được do sự trao đổi
lòng vòng ở chợ đen, rồi biến số đó thành sở hữu riêng. Cần nhất quán chủ
trương quản lý lưu hành ngoại tệ theo hướng “Trên đất nước Việt Nam chỉ chi
trả bằng đồng tiền Việt Nam”.
Với sự mở cửa của khu vực tài chính, trong những năm tới, việc kiềm chế và
đẩy lùi tình trạng Đô la hóa sẽ gặp rất nhiều khó khăn và để giảm tình trạng Đô la
hóa không phải có thể thực hiện trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, trong bối
cảnh tự do hóa tài chính như hiện nay, khoảng thời gian này cần được rút ngắn nếu
không nền kinh tế sẽ lâm vào tình trạng Đô la hóa hoàn toàn, không còn khả năng
bảo vệ trước những biến cố kinh tế, khủng hoảng kinh tế trong khu vực và trên thế
giới.
3.2.2.5 Cơ chế tỷ giá phù hợp với chính sách lạm phát mục tiêu
Như đã nói ở trên, trong bối cảnh hiện nay viêc theo đuổi chính sách lạm
phát mục tiêu là một nhiệm vụ cấp thiết. Cùng với định hướng chính sách lạm phát