Tải bản đầy đủ
2 Cơ chế thực hiện chính sách vô hiệu hóa tại Việt Nam

2 Cơ chế thực hiện chính sách vô hiệu hóa tại Việt Nam

Tải bản đầy đủ

33

quay trở lại và thị trường mở lại được sử dụng triệt để để vô hiệu hóa và đã hút
được một lượng lớn tiền đồng về. Theo số liệu thu thập được từ Ngân hàng Thế giới
– World Bank, dự trữ ngoại hối Việt Nam năm 2012 đã tăng vọt lên đến 25,57 tỷ
USD, tăng hơn 12 tỷ USD so với năm 2011. Tiếp tục đà gia tăng, dự trữ ngoại hối
của Việt Nam năm 2013 ở khoảng 32 tỷ USD và năm 2014 được dự đoán vào
khoảng 45 tỷ USD. Việc mua vào gần 19 tỷ USD để bổ sung dự trữ ngoại hối cộng
với mục tiêu kiềm chế lạm phát nên khối lượng phát hành tín phiếu đã tăng lên rất
nhiều.
Thống kê cho thấy, kể từ ngày 15/3/2012 đến thời điểm ngày 9/12/2013,
NHNN đã phát hành thành công tổng cộng 412.591 tỷ đồng tín phiếu các kỳ hạn từ
28 đến 182 ngày, trong đó năm 2012 phát hành tổng cộng 173.850 tỷ đồng và năm
2013 phát hành tổng cộng 238.741 tỷ đồng. Hiện tại, đã có 367.454 tỷ đồng tín
phiếu đáo hạn, trong đó khối lượng tín phiếu đáo hạn năm 2012 là 115.290 tỷ đồng
và trong năm 2013 là 252.164 tỷ đồng. Về cơ cấu, tín phiếu kỳ hạn 91 ngày và 28
ngày được phát hành và đáo hạn nhiều nhất
Hiện còn 45.137 tỷ đồng tín phiếu chưa đáo hạn, trong đó tín phiếu kỳ hạn
28 ngày và 56 ngày lần lượt là 13.131 tỷ đồng và 2.276 tỷ đồng; các kỳ hạn 91 ngày,
154 ngày và 182 ngày lần lượt là 12.144 tỷ đồng, 7.994 tỷ đồng và 9.592 tỷ đồng.
Với lượng tín phiếu còn lưu thông thị trường là 45.137 tỷ đồng nêu trên
NHNN sẽ phải tiếp tục sử dụng công cụ phát hành tín phiếu để một mặt thanh toán
khối lượng tín phiếu đáo hạn và mặt khác hút tiền về nhằm kiềm chế lạm phát do áp
lực gia tăng dự trữ ngoại hối nhằm ổn định tỷ giá trong những năm gần đây.
2.2.1.2 Các công cụ phi thị trƣờng
Ngoài tín phiếu NHNN, Chính phủ Việt Nam còn có thể sử dụng công cụ dự
trữ bắt buộc đối với các NHTM. Tuy nhiên, biện pháp vô hiệu hóa phi thị trường
này hầu như ít được sử dụng khi tỉ lệ dự trữ hầu như ít biến động.
Dự trữ bắt buộc được hiểu là số tiền mà các tổ chức tín dụng buộc phải duy
trì trên tài khoản tiền gửi thanh toán tại Ngân hàng Nhà nước. Đây là một công cụ
để nhà điều hành điều tiết cung tiền trong nền kinh tế, “thả ra” hoặc “hút bớt” tiền

34

tùy từng thời điểm và mục đích của chính sách, thường được xem là biện pháp
mạnh và cuối cùng.
Tuy nhiên, chính phủ hiện nay chưa thể sử dụng công cụ này vì tình trạng
của các NHTM Việt Nam giai đoạn sau khủng hoảng vẫn còn gặp nhiều khó khăn.
Hệ thống NHTM Việt Nam hiện nay luôn đối diện với các rủi ro lớn (rủi ro thanh
khoản, rủi ro nợ xấu và rủi ro chéo), bên cạnh đó còn có những rủi ro thị trường
tiềm ẩn như rủi ro về lãi suất hay rủi ro về biến động tỷ giá, nên hệ thống ngân hàng
thiếu ổn định, nhạy cảm, dễ bị tổn thương và khó có thể chịu được cú sốc từ gia
tăng dự trữ bắt buộc.
Tuy nhiên, hiện nay Chính phủ đã thực hiện gia tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối
với ngoại tệ để tránh việc thất thoát thêm ngoại tệ làm tình hình lạm phát ngày càng
trầm trọng hơn.
Như vậy, mặc dù có rất nhiều các công cụ để thực hiện vô hiệu hóa nhưng
trên thực tế do điều kiện ở Việt Nam còn nhiều khó khăn nên vẫn còn hạn chế trong
việc sử dụng các công cụ này. Chúng ta chỉ mới có thể áp dụng có giới hạn các
công cụ này nhằm khắc phục hậu quả kinh tế là chủ yếu.
2.2.2 Các nhân tố ảnh hƣởng đến can thiệp vô hiệu hóa tại Việt Nam
2.2.2.1 Lạm phát
% 25
19.89
18.13

20
15

12.63
9.82

10

6.7
3.08

5
-0.63
0

11.75

0.93

6.04

8.82
6.52

6.81

4.12

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013
-5

Hình 2.5: Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam (2000 – 2013)
Nguồn: Qũy tiền tệ quốc tế - IMF

35

Lạm phát ở Việt Nam biến động không ngừng, đặc biệt liên tục gia tăng từ
sau năm 2001. Các số liệu cho thấy hai năm 2002-2003, CPI tăng thấp nhưng từ
năm 2004-2010, lạm phát cao trở lại, gần như lặp đi lặp lại, cứ 2 năm tăng cao mới
có 1 năm tăng thấp. Từ năm 2007 đến nay, lạm phát có chiều hướng mất ổn định
hơn.
Năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 152 của tổ chức
thương mại thế giới WTO. Đây cũng là năm khởi đầu cho những động thái mới của
lạm phát, với đặc trưng là tốc độ cao và diễn biến phức tạp. Theo số liệu thống kê
của quỹ tiền tệ thế giới - IMF, CPI năm 2007 tăng lên 12.63% . Đây là mức lạm
phát cao nhất châu Á trong năm này. Hiện tượng giá tăng diễn ra ở hầu hết các
nhóm hàng hóa và dịch vụ. Lạm phát thực sự bùng nổ và thực sự gây nên những bất
ổn vĩ mô vào năm 2008. Lạm phát đã đạt đỉnh điểm vào năm này với con số
19,89%.
Từ năm 2008 đến nay, kinh tế Việt Nam không thoát khỏi ám ảnh về lạm
phát. Chúng ta vẫn giữ mục tiêu xuyên suốt trong chính sách kinh tế vĩ mô là kiềm
chế lạm phát nhưng việc chống lạm phát chưa bền vững, cứ vừa kiềm chế được lạm
phát thì ngay sau đó lại bị tái phát.
Năm 2009 lạm phát không còn là một vấn đề đáng lo ngại của Việt Nam.
Đây là một trong những điểm sáng hiếm hoi trên bức tranh kinh tế Việt Nam trong
bối cảnh kinh tế thế giới chưa thoát khỏi suy thoái và khủng hoảng.
Tuy nhiên, mức lạm phát 2 con số của Việt Nam trong năm 2010 đã chính
thức được khẳng định. Con số 11,75% tuy không quá bất ngờ nhưng vẫn vượt so
với chỉ tiêu mà Quốc hội đã đề ra. Và đến năm 2011 thì lạm phát đã lên đến 18,13%
ghi nhận sự đi lệch của dòng tiền, khi không tạo được đột phá về tăng trưởng nhưng
lại thúc ép lạm phát đạt các kỷ lục mới.
Tỉ lệ lạm phát của Việt Nam đã liên tục giảm vào năm 2012 và 2013. Lạm
phát giảm chỉ còn 6,81% năm 2012 và 6.04 trong năm 2013. Năm 2013 là năm đầu
tiên CPI phá vỡ chu kỳ “hai năm cao, một năm thấp” đã diễn ra trong 9 năm trước
đây. Tuy nhiên, mặc dù lạm phát năm 2013 đã được kiềm chế thành công nhưng

36

thành công của việc kiềm chế lạm phát chưa thật vững chắc và vẫn có dấu hiệu tăng
cao trở lại.
Hơn nữa, mặc dù việc thành công trong kiểm soát lạm phát được đánh giá là
một điểm sáng của kinh tế Việt Nam, tuy nhiên, bộ phận thống kê ASEAN vẫn lưu
ý rằng, tại Việt Nam, tốc độ tăng CPI vẫn cao hơn rất nhiều so với tăng trưởng GDP.
Tỷ lệ lạm phát tại Việt Nam trong những năm gần đây luôn được đánh giá là cao
nhất so với các nước trong khu vực.

Hình 2.6: Tỷ lệ lạm phát của các nƣớc trong khu vực Đông Nam Á
Nguồn: ASEANstats
Có thể thấy, diễn biến của lạm phát ở Việt Nam rất phức tạp và khó có thể
đoán trước được. Do đó, việc kiểm soát lạm phát thông qua các biện pháp can thiệp
vô hiệu hóa vẫn luôn là một vấn đề cần được quan tâm tại Việt Nam trong thời gian
tới
Với cơ chế kiểm soát lạm phát hiệu quả, lạm phát Trung Quốc từ mức rất cao
trở nên ổn định. Tuy nhiên, có thể nhận thấy một sự khác biệt rõ nét trong vấn đề
đấu tranh chống lạm phát giữa Việt Nam và Trung Quốc. Điều này một phần là do
chính sách sai lầm của Chính phủ trước đây. Việc Chính phủ thực hiện chính sách
tài khóa nới lỏng cùng với việc tung ra gần 160000 tỷ VND vào năm 2008 để mua
vào 10 tỷ USD đã làm cho tiền giấy tràn lan khắp thị trường Việt Nam. Có thể nói,
Chính phủ Việt Nam đã nắm bắt cơ hội không đúng lúc. Nếu đào sâu tìm hiểu,
chúng ta có thể thấy được tác dụng thần kỳ của chính sách vô hiệu hóa tại Trung
Quôc trong vấn đề giải quyết các tác động tiền tệ của dòng vốn nóng. Trung quốc

37

với lượng trái phiếu Chính phủ được xếp hạng uy tín tín dụng cao, đã là một công
cụ hữu hiệu chủ yếu thu gom khối lượng nội tệ dư thừa trong nền kinh tế trong giai
đoạn đầu khi quốc gia này tiếp cận các dòng vốn nóng đổ vào, giai đoạn sau chủ
yếu dùng đến tỷ lệ dự trữ. Còn Việt Nam, ngay giai đoạn đầu đã mất đi một công cụ
hữu hiệu giải quyết lạm phát. Nguyên nhân chính là do thâm hụt cán cân thanh toán
làm đánh giá uy tín của trái phiếu Chính phủ Việt Nam bị tụt hạng, lượng tiêu thụ
không cao. Đây cũng là một biểu hiện cho việc vô hiệu hóa chưa thể thực sự tiến
hành được ở Việt Nam.
2.2.2.2 Quy mô của các dòng vốn
Ban hành Luật đầu tư nước ngoài (29/12/1987) là bước mở màn cho những
quy định về đầu tư vào Việt Nam, nhằm mục đích tạo cơ sở để mở rộng kinh tế với
nước ngoài, phát triển kinh tế quốc dân, đẩy mạnh xuất khẩu trên cơ sở khai thác có
hiệu quả tài nguyên, lao động và các tiềm năng khác của đất nước. Tuy nhiên, Việt
Nam chỉ chủ yếu thực hiện các phương pháp để khuyến khích vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài.
 Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài – FDI
Tỷ USD
80.00
71.73

70.00
60.00
50.00
40.00
30.00
21.35

20.00
10.00
0.00

2.76

3.27

2.99 3.17

4.53

6.84

23.11
19.89
14.70

12.01
8.03

11.50

21.60
13.01

11.00 10.4611.50
10.00 11.00

2.40 2.23 2.89 2.72 2.71 3.30 4.10
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013
Vốn đăng ký

Vốn thực hiện

Hình 2.7: Vốn đầu tƣ FDI vào Việt Nam giai đoạn 2000 - 2013
Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư – Cục đầu tư nước ngoài
& Tổng cục thống kê

38

Từ năm 2000, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam bắt
đầu có dấu hiệu phục hồi sau ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và tiền tệ châu
á. Vốn đăng ký năm 2000 đạt 2,76 tỷ USD, tăng 21% so với năm 1999; năm 2001
tăng 18,5% so với năm 2000; năm 2002 vốn đăng ký giảm, chỉ bằng 91,4% so với
năm 2001, năm 2003 tăng 6% so với năm 2002. Vốn FDI có xu hướng tăng nhanh
từ năm 2004, với tốc độ tăng 43% vào năm 2004 và 51% vào năm 2005. Tổng vốn
đăng ký thời kỳ 2001-2005 đạt 20,8 tỷ USD.
Kể từ năm 2006 đến 2008, dòng vốn đầu tự trực tiếp nước ngoài vào Việt
Nam tăng đột biến, hàng năm luôn đạt kỷ lục so với các năm trước. Năm 2006 vốn
FDI đăng ký đạt 12 tỷ USD, năm 2007 đạt 21,35 tỷ USD, năm 2008 con số này lên
tới 71,73 tỷ USD, gấp hơn 3 lần so với năm 2007. Trong 2009 và 2010, mặc dù chịu
ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới, cũng như những
vấn đề hậu khủng hoảng, vốn FDI đăng ký vẫn đạt khoảng 23,11 tỷ vào năm 2009
và 19,89 tỷ vào năm 2010.
Vốn FDI thực hiện năm 2006 đạt 4,1 tỷ USD, năm 2007 đạt 8,03 tỷ USD,
năm 2008 đạt 11,5 tỷ USD, chiếm tới 30,9% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, cao hơn
rất nhiều so với các năm trước. Trong năm 2009 và 2010, mặc dù vốn đăng ký giảm
nhưng vốn FDI thực hiện vẫn đạt 10 tỷ USD vào năm 2009 và khoảng 11 tỷ vào
năm 2010, với tỷ trọng tương ứng trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội là 25,6% và
25,8%.
Có thể thấy, từ 2002 – 2008 dòng vốn FDI vào nước ta bắt đầu phục hồi và
tăng trưởng nhanh chóng. Nguyên nhân của sự tăng trưởng trên là do nền kinh tế
Châu Á đã phục hồi sau một thời gian khủng hoảng, sự mở cửa mạnh mẽ của Việt
Nam, thông qua hàng loạt chính sách ưu đãi về thuế, cộng thêm sự tăng trưởng cao
và ổn định của nền kinh tế và sức cầu lớn của thị trường nội địa đã kích thích nhà
đầu tư nước ngoài gia tăng dòng vốn đầu tư vào Việt Nam. Việt Nam đã chính thức
trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, trở thành thành viên
không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc, tổ chức thành công hội

39

nghị APEC, nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế và trở thành
điểm hấp dẫn đầu tư ở Châu Á trong con mắt của cộng đồng đầu tư quốc tế.
Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, từ năm 2009, vốn FDI vào Việt Nam có
dấu hiệu tăng chậm lại so với trước và tạo một xu hướng giảm vào năm 2010 và
2011. Sang năm 2012 - 2013, mặc dù khởi đầu với một sự gia tăng đáng kể trong
luồng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam, tuy nhiên, sự gia tăng không bền vững với sự
lên xuống thất thường. Nguyên nhân chính khiến tình hình vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài vào Việt Nam, trong những năm gần đây có vẻ sụt giảm là do lạm phát
ở Việt nam đã tăng mạnh và nằm ở mức cao nhất Châu Á trong năm 2011 như đã
phân tích ở trên. Lạm phát khiến cho các lợi thế cạnh tranh giá cả của Việt Nam bị
mất đi do yêu cầu tăng lương của nhân viên, chi phí vật liệu, lãi suất cao ngất
ngưởng và các ngân hàng đua nhau siết vốn. Bối cảnh đó khiến nhà đầu tư nước
ngoài trở nên“lãnh đạm” với thị trường Việt Nam và tìm cách chuyển dần sang các
nước lân cận. Mặc dù lạm phát đã hạ nhiệt đáng kể, năm 2012 chỉ còn
6,81%, nhưng những dư âm và hậu quả của mức lạm phát cao của năm 2011 vẫn
còn, ảnh hưởng nặng nề tới tâm lý của các nhà đầu tư. Họ vẫn lo ngại, lạm phát có
thể tái phát bất cứ lúc nào tại Việt Nam.
Tuy nhiên, hiện nay, xu hướng chung khi nghiên cứu đầu tư thì người ta vẫn
chọn Việt Nam là một trong những môi trường đầu tư an toàn và thân thiện. Do đó,
chúng ta vẫn luôn có lòng tin vào sự gia tăng mạnh mẽ trở lại của dòng vốn này
trong tương lai.
 Đầu tƣ gián tiếp nƣớc ngoài – FPI

40

Million USD
7000
6243
6000
5000
4000
3000

2383
1887

2000

1313

1064

865

1000
0

0

0

0

0

1389

128

0
-1000

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013
-578

Hình 2.8: Vốn đầu tƣ FPI vào Việt Nam giai đoạn 2000 - 2013
Nguồn: Qũy tiền tệ quốc tế - IMF
Giai đoạn 2000 – 2003, khủng hoảng tài chính Châu Á nổ ra,Việt Nam tuy ít
bị ảnh hưởng song đầu tự gián tiếp nước ngoài vào Việt nam cũng không vì thế mà
sáng sủa hơn, không có quỹ đầu tư mới nào vào Việt Nam ra đời, trái lại, các quỹ lại
đua nhau rút vốn, giảm quy mô.
Từ năm 2004 đến năm 2006, dòng vốn FPI vào Việt Nam hồi phục trở lại
cùng với xu hướng tăng cường cải thiện đầu tư, phát triển các định chế thị trường tài
chính cùng với việc thành lập sàn giao dịch chứng khoán ở TP.Hồ Chí Minh và
trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội, đặc biệt là chủ trương quyết tâm của
Chính phủ về việc đẩy mạnh cổ phần hóa và nới lỏng tỷ lệ nắm giữ cổ phần của nhà
đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp.
Giai đoạn 2006 – 2007, Việt Nam gia nhập WTO, đây là một dấu mốc quan
trọng cho đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Ở giai đoạn này, cùng với sự
đi lên của thị trường chứng khoán, luồng vốn liên tục tăng nhanh và liên tục thu
hoạch thành công. Vào giai đoạn này, lượng đầu tư chủ yếu vào thị trường trái
phiếu. Việc bùng nổ FPI góp phần thúc đẩy hệ thống ngân hàng Việt Nam phát triển
mạnh.

41

Tuy nhiên, trong 2 năm 2008 – 2009, giai đoạn này đã chứng kiến nhiều
bước thăng trầm của nguồn vốn FPI vào Việt Nam. Cùng với sự sụt giảm của thị
trường chứng khoán và khủng hoảng kinh tế toàn cầu, FPI từ tháng 5/2008 đến
khoảng tháng 3/2009 đã giảm rõ rệt, lần lượt các nhà đầu tư rút ra khỏi thị trường
Việt Nam, đỉnh điểm là vào cuối năm 2008, giao dịch gần như đóng băng. Tuy
nhiên, theo một số nhận định của các chuyên gia kinh tế, kể từ quý II/2009, các nhà
đầu tư nước ngoài đã quay trở lại thị trường Việt Nam, tuy nhiên còn khá dè dặt.
Từ năm 2010 đến nay, diễn biến dòng vốn đầu tư không mấy phức tạp, dòng
vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đang có xu hướng trở lại Việt Nam. Tuy nhiên, xét
tương quan với các dòng vốn vào các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á thì dòng
chảy vào Việt Nam khá thấp.
 Tóm lại
Có thể thấy, sự gia tăng các dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tương
ứng với sự gia tăng tích lũy dự trữ của Việt Nam. Việt Nam đã có sự bứt phá vượt
bậc trong việc thu húy dòng vốn đầu tư trực tiếp và cả các dòng vốn nóng, đỉnh
điểm là vào năm 2008, Việt nam được xếp vào khối quốc gia có nền kinh tế phát
triển nóng. Tuy nhiên, phát triển nóng bao nhiêu thì khi khủng hoảng xảy ra, lại
chịu ảnh hưởng trầm trọng bấy nhiêu, các dòng vốn cũng đồng loạt thoát ra khỏi
nền kinh tế mà cho tới nay vẫn chưa có nhiều dấu hiệu cho thấy sự quay trở lại.
Việc các dòng vốn đầu tư nước ngoài sụt giảm gây nhiều lo ngại, nhất là khi nhập
siêu của nền kinh tế Việt Nam vẫn còn khá cao, thâm hụt cán cân thương mại kéo
dài và có thể gây mất cân đối ngoại hối vì đây là nguồn vốn bổ sung quan trọng
giúp duy trì sự cân đối của cán cân thanh toán trong bối cảnh hiện nay. Tuy nhiên,
chính điều này lại nói lên rằng: sức ép gia tăng dự trữ ngoại hối nhằm ổn dịnh tỷ giá
hối đoái trong bối cảnh hội nhập kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là
không cao, cũng đồng nghĩa với việc tính cấp thiết của việc thực hiện các biện pháp
can thiệp nhằm duy trì lạm phát mục tiêu trước sức ép gia tăng lạm phát do dự trữ
ngoại hối là không lớn.

42

Tuy nhiên, Việt Nam vẫn sẽ có cơ hội phục hồi, khắc phục những khó khăn
về vốn khi trong những năm sắp tới đây, theo nhận định của nhiều nhà đầu tư, niềm
tin vào thị trường Việt Nam đang dần được củng cố. Đặc biệt, Việt Nam sẽ lại là
một kênh huy động dòng vốn nóng khổng lồ từ các nhà đầu tư. Do đó, Chính phủ
luôn cần phải chủ động trong việc chuẩn bị những biện pháp can thiệp vô hiệu hóa
thích hợp để đón lấy cơ hội lớn này. Một mặt giúp Việt Nam có sự đột phá trong
tích lũy dự trữ, mặt khác hạn chế các ảnh hưởng tiền tệ xấu lên thị trường.
2.2.3 Kết quả kiểm định việc thực hiện chính sách vô hiệu hóa tại Việt Nam
Từ những cái nhìn định tính ban đầu về việc kiểm soát vốn của Việt Nam,
tiếp theo, chúng ta sẽ tiến hành kiểm định định lượng cho việc thực hiện chính sách
này như thế nào. Chúng ta sẽ sử dụng những mô hình hồi quy đã được trình bày cụ
thể ở chương 1 để thực hiện công việc kiểm định này cùng với sự hỗ trợ của phần
mềm SPSS.
2.2.3.1 Kiểm định mức độ thực hiện vô hiệu hóa
Đầu tiên, chúng ta sẽ xét đến mô hình tổng quát nhất:
ΔDC/RM = α + β1 ΔFR/RM + β2 ΔGDP (1)
 Đánh giá độ phù hợp của mô hình hồi quy tuyến tính bội
Hệ số xác định R2 và R2 hiệu chỉnh (Adjusted R square) được dùng để đánh
giá độ phù hợp của mô hình. Vì R2 sẽ tăng khi đưa thêm biến độc lập vào mô hình
nên dùng R2 hiệu chỉnh sẽ an toàn hơn khi đánh giá độ phù hợp của mô hình vì nó
không thổi phồng mức độ phù hợp của mô hình. R2 hiệu chỉnh càng lớn thể hiện độ
phù hợp của mô hình càng cao.

43

Bảng 2.1 Đánh giá độ phù hợp của mô hình hồi quy 1
Model Summary
Model
R

Std. Error of

Square

the Estimate

R Square

0.349a

d1

Adjusted R

0.088

0.122

0.02516299

i
m
e
n
s
i
o
n
0
a. Predictors: (Constant), GDP, FR/RM

R2 hiệu chỉnh của mô hình là 0.088  8.8% nghĩa là 8.8% sự biến thiên của
biến phụ thuộc được giải thích bởi mối liên hệ tuyến tính của các biến độc lập. Ta
có thể thấy mức độ phù hợp của mô hình không cao mà chỉ nằm ở mức độ chấp
nhận được.
 Phƣơng trình hồi quy tuyến tính
Bảng 2.2 Các thông số thống kê của từng biến trong phƣơng trình 1
Coefficientsa
Model

Unstandardized

Standardized

Coefficients

Coefficients

B
1

Std. Error

(Constant)

0.020

0.019

FR/RM

-0.475

0.186

0.005

0.003

GDP

Beta

t

Sig.

1.095

0.278

-0.353

-2.557

0.014

0.226

1.638

0.107

a. Dependent Variable: DC/RM

Từ kết quả hồi quy, phương trình của mô hình có dạng như sau:
ΔDC/RM = 0.02 – 0.475 ΔFR/RM + 0.005 ΔGDP