Tải bản đầy đủ
5 Một số mô hình đo lƣờng dùng trong nghiên cứu biện pháp can thiệp vô hiệu hóa

5 Một số mô hình đo lƣờng dùng trong nghiên cứu biện pháp can thiệp vô hiệu hóa

Tải bản đầy đủ

15

DC thể hiện tài sản tín dụng nội địa ròng mà NHNN đang nắm giữ bao gồm các loại
giấy tờ có giá (trái phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu…) được tạo ra thông qua các kênh
nghiệp vụ thị trường mở. NHNN sẽ dùng tài sản này để điều tiết một phần cung tiền
trong nền kinh tế.
RM=DC+FR
Để ước lượng mức độ thực hiện vô hiệu hóa, tác giả đã sử dụng một mô hình
hồi quy đơn giản. Sự phản ứng vô hiệu hóa thay đổi thông qua biến phụ thuộc là sự
thay đổi của tài sản tín dụng nội địa ròng dựa trên lượng cung tiền (∆DC/RM), chịu
sự tác động của biến độc lập là sự thay đổi của tài sản dự trữ ngoại hối ròng dựa
trên lượng cung tiền (∆FR/RM)
Ngoài ra, kinh nghiệm của các nghiên cứu trước còn cho thấy ngoài chịu sự
tác động của biến ∆FR/RM thì phản ứng vô hiệu hóa còn chịu ảnh hưởng từ những
thay đổi trong GDP vì những thay đổi trong GDP sẽ tác động đến những khoản tiết
kiệm trong nước từ đó dẫn đến những thay đổi trong tài sản tín dụng nội địa ròng
(∆DC).
Mô hình hồi quy đơn biến:
ΔDC/RM = α + β1 ΔFR/RM + β2 ΔGDP (1)
Phƣơng trình cho thấy: Biến phụ thuộc ΔDC/RM sẽ thay đổi như thế nào khi biến
ΔFR/RM thay đổi thông qua hệ số β1. Biến ΔGDP (được định nghĩa là tỷ lệ tăng
trưởng GDP danh nghĩa) biểu thị lượng thay đổi của tài sản tín dụng nội địa ròng là
bao nhiêu khi GDP danh nghĩa tăng trưởng 1%.
Kết quả kiểm định:
Β1 = -1: có sự vô hiệu hóa hoàn toàn.
Β1 = 0: không có vô hiệu hóa.
-1<β1 <0: có vô hiệu hóa cục bộ.
Trong phương trình hồi quy trên, dường như có sự xuất hiện đồng thời của
xu hướng chính sách tiền tệ thuận chu kỳ và phản chu kỳ. Tính thuận chu kỳ hàm ý
rằng, sự tăng lên trong DC là do NHNN đang đáp ứng sự gia tăng cầu tiền cho tăng
trưởng GDP. Bên cạnh đó, lại xuất hiện dấu hiệu của chính sách tiền tệ phản chu kỳ,

16

khi nền kinh tế tăng trưởng, dòng vốn đổ vào mạnh (ΔFR dương) thì NHNN sẽ rút
bớt tiền ra để tránh gây nên sự tăng trưởng “nóng” thể hiện qua ΔDC âm (β1 <0).
 Khi β1 = -1, can thiệp vô hiệu hóa hoàn toàn ngụ ý rằng NHNN sẽ cho phép
tín dụng trong nước đáp ứng hoàn toàn lượng cầu tiền tăng do tăng trưởng
GDP (do hệ số của biến ΔGDP là 1), nhưng sẽ ngăn chặn bất kỳ sự mở rộng
tín dụng trong nước do tích trữ ngoại hối. Khi đó:ΔRM=ΔDC+ΔFR.
 Tương tự, khi β1 < -1, chứng tỏ một điều NHNN đang thực hiện chính sách
tiền tệ thắt chặt hơn. Hàm ý rằng, khi tích trữ dự trữ ngoại hối tăng một đơn
vị, NHNN sẽ tiến hành hút bớt tiền trong lưu thông mạnh tay hơn 1 đơn vị,
và phần nhiều hơn này có thể dùng để kiềm chế áp lực lạm phát cho nền kinh
tế.
 Ngược lại, khi hệ số β1 > 0, nhằm ám chỉ chính sách tiền tệ mở rộng mà
NHNN đang thực hiện, sự thay đổi tính dụng trong nước chỉ nhằm mục đích
hút các dòng ngoại tệ đổ vào đáp ứng tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên, kinh nghiệm từ những bài nghiên cứu trước còn cho thấy yếu tố
lạm phát (IF) và sự thay đổi tài khoản vãng lai (CA) cũng ảnh hưởng đến mức độ
can thiệp vô hiệu hóa.
1.5.2 Mô hình 2: Can thiệp vô hiệu hóa và lạm phát
Như đã tìm hiểu ở trên, lạm phát cũng chính là một nhân tố có ảnh hưởng
quan trọng đối với mức độ thực thi của biện pháp can thiệp vô hiệu hóa. Nhằm làm
rõ hơn về mối quan hệ này, trong nghiên cứu của mình, Joshua Aizenman và
Reuven Glick cũng đã tiến hành đo lường mức độ chống lại lạm phát thông qua
chính sách vô hiệu hóa này bằng cách đưa thêm biến ∆ln(IF) vào trong mô hình.
ΔDC/RM = α + β1 ΔFR/RM + β2 ∆GDP + β3 ∆IF (2)
1.5.3 Mô hình 3: Can thiệp vô hiệu hóa và thành phần dòng thu của cán cân
thanh toán
Joshua Aizenman và Reuven Glick cũng tiến hành nghiên cứu mở rộng nhằm
xem xét việc chính phủ thực hiện can thiệp vô hiệu hóa có phụ thuộc vào thành

17

phần dòng thu của cán cân thanh toán hay không bằng cách tách biến FR ban đầu
thành các thành phần FDI, non-FDI và thặng dư cán cân tài khoản vãng lai (CA).
∆DC/RM = α + β1 ∆FDI/RM + β2 ∆FPI/RM + β3 ∆CA/RM + β4 ∆GDP (3)
Đầu tiên, phải kể đến là các dòng vốn “lạnh” FDI, dòng vốn được cho là có
những ảnh hưởng chậm lên nền kinh tế. Sở dĩ như vậy là do FDI liên quan chủ yếu
đến quyền quản lý trong đầu tư mà mục tiêu hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận. Đồng
thời, thu hút FDI cũng đồng nghĩa với việc sẽ thu hút được công nghệ, kỹ thuật tiên
tiến và trình độ quản lý mà các nhà đầu tư này mang đến. Do đó, đây là dòng vốn
được đánh giá là ít “nhạy cảm” cho nền kinh tế một khi đã tiếp nhận.
Kế đến, phải xem xét đến các dòng vốn nhạy cảm hơn-FPI. FPI được sử
dụng trong mối tương quan ngược với FDI. Có nghĩa là FPI bị giới hạn trong hình
thức đầu tư vào cố phiếu và trái phiếu của công ty. Trong thời gian qua, FPI đã góp
một phần rất lớn vai trò của mình trong việc thúc đẩy thị trường chứng khoán Việt
Nam kể từ khi mới ra đời vào năm 2000. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích mà nó
mang lại, thì những thiệt hại do tính chất “đảo chiều” cũng không nhỏ. Đây cũng có
thể là một công cụ để các quỹ đầu cơ tấn công vào nền kinh tế một khi nền kinh tế
này xuất hiện những dấu hiệu yếu kém. Do vậy, việc đo lường xem chính phủ có
tiến hành vô hiệu hóa các dòng vốn này trong thời gian qua hay không là vấn đề
quan trọng.
Cuối cùng là xét đến thặng dư trong tài khoản vãng lai (CA). Trong giai đoạn
mở cửa tài khoản vốn và gia nhập WTO, CA của Việt Nam tuy vẫn còn thâm hụt
nhưng nhìn chung đã được cải thiện rất nhiều. Việc lượng ngoại tệ đổ vào quốc gia
thông qua cửa xuất nhập khẩu có tạo nên mối quan tâm lo lắng hay không, ta cũng
sẽ tiến hành ước lượng cho nhân tố này.
1.6 Kết quả nghiên cứu việc thực hiện can thiệp vô hiệu hóa tại một số nƣớc ở
Châu Á và Châu Mỹ Latinh
Joshua Aizenman và Reuven Glick (2009) đã tiến hành những nghiên cứu
nhằm tìm hiểu về vấn đề thay đổi mẫu hình bộ ba bất khả thi đối với các nước có thị
trường mới nổi, đồng thời cũng xem xét hiệu quả của chính sách vô hiệu hóa đối

18

với các nước này với mẫu quan sát bao gồm khu vực Châu Á và khu vực Châu Mỹ
Latinh.
1.6.1 Mức độ thực hiện can thiệp vô hiệu hóa
Kết quả nghiên cứu về mức độ thực hiện can thiệp vô hiệu hóa tại các nước
Châu Á và Châu Mỹ Latinh của Joshua Aizenman và Reuven Glick được thể hiện
trong hình sau:
Bảng A: Các nƣớc châu Á đƣợc chọn

Trung Quốc

Hàn Quốc

19

Thái Lan

Bảng B: Các nƣớc Châu Mỹ Latinh đƣợc chọn

Argentina

Brazil