Tải bản đầy đủ
Chương 2 Hệ thống truyền hình số mặt đấtDVB-T2

Chương 2 Hệ thống truyền hình số mặt đấtDVB-T2

Tải bản đầy đủ

Chương 2 Hệ thống truyền hình số mặt đất DVB-T2

-

DVB-T/DVB-T2 (Digital Video Broadcasting-Terrestrial ) Tiêu chuẩn Châu
Âu.

-

ATSC (Advanced Television System Committee) Tiêu chuẩn của Mỹ.

-

ISDB-T (Intergrated Services Digital Broadcasting-Terrestrial) Tiêu chuẩn
của Nhật.

Hiện nay, tại Việt Nam, các nhà cung cấp dịch vụ truyền hình số đang áp dụng
hai tiêu chuẩn truyền hình số mặt đất thuộc họ chuẩn DVB: DVB-T (VTC) và
DVB-T2 (AVG, VTV). Xu hướng lựa chọn công nghệ đều hướng tới DVB-T2 do
những ưu điểm về khả năng ghép nhiều kênh chương trình trên một kênh tần số
hơn; hiệu quả sử dụng tài nguyên tần số cao hơn; đáp ứng được với các dịch vụ
truyền hình chất lượng cao HDTV, 3DTV… và khả năng triển khai mạng đơn tần
diện rộng hiệu quả hơn. Ngoài ra, giá thành thiết bị theo chuẩn DVB-T2 giảm đáng
kể và hiện nay tương đương với máy phát DVB-T.
2.2

Sơ lược truyền hình số mặt đất

2.2.1 Sơ lược hệ thống truyền hình số mặt đất theo chuẩn DVB-T
DVB-T là tiêu chuẩn truyền hình số mặt đất chính thức được tổ chức ETSI công
nhận (European Telecommunications Standards Institute) vào tháng 2 năm 1997.
DVB-T sử dụng kỹ thuật COFDM (Coded Orthogonal Frequency Division
Multiplexing). COFDM là kỹ thuật có nhiều đặc điểm ưu việt, có khả năng chống
phản xạ đa đường, phù hợp với các vùng dân cư có địa hình phức tạp, cho phép
thiết lập mạng đơn tần (SFN – Single Frequency Network) và có khả năng thu di
động, phù hợp với các chương trình có độ nét cao HDTV.
DVB-T là thành viên của một họ các tiêu chuẩn DVB, trong đó bao gồm tiêu
chuẩn truyền hình số qua vệ tinh, mặt đất, cáp.

12

Chương 2 Hệ thống truyền hình số mặt đất DVB-T2

Luồng
MPEG

Phân
tán
năng
lượng

Mã hóa
ngoài
(RS)

Thích
ứng
khung

Ghép
xen
ngoài

IFFT

Mã hóa
trong
(CC)

Chèn
khoảng
bảo vệ

Lọc FIR

Ghép
xen
trong

Định vị
(Mapper)

IF=>RF

Khuếch
đại

Lọc
Bandpass

TX

Hình 2.1: Sơ đồ khối hệ thống DVB-T
 Đặc tính kỹ thuật của DVB-T
-

Bộ điều chế DVB-T.

-

Mã hóa COFDM trong DVB-T.

-

Mã sửa sai trước FEC: Mã RS và CC

-

Khoảng thời gian bảo vệ.

2.2.2 Sơ lược về hệ thống truyền hình số mặt đất theo chuẩn DVB-T2
Tiêu chuẩn truyền hình số mặt đất thế hệ thứ hai DVB-T2 một chuẩn mới trong
họ tiêu chuẩn DVB được phát triển với mục đích tăng khả năng sử dụng băng tần,
tăng dung lượng dữ liệu có thể truyền cũng như cải tiến chất lượng tín hiệu. Trong
các điều kiện thu tương đương so với DVB-T, DVB-T2 tăng dung lượng 30%, thậm
chí trong một số trường hợp có thể tăng tới 67% [18]. Ngoài ra, DVB-T2 còn có
khả năng chống lại phản xạ đa đường (Multipaths) và can nhiễu đột biến tốt hơn
nhiều so với DVB-T. Điều này càng thuận lợi cho việc triển khai các dịch vụ quảng
bá mới với đòi hỏi nhiều dung lượng hơn. Hiệu quả đạt được nhờ các cải tiến từ các
đặc trưng lớp vật lý, tới cấu hình mạng, cũng như tối ưu quá trình thực thi để đạt
được bộ thông số tối ưu cho các kênh truyền. Chi tiết cấu trúc khung (Frame
Structure), mã hoá kênh (Channel Coding) và quá trình điều chế được mô tả trong
tiêu chuẩn ETSI EN 302 755.

13

Chương 2 Hệ thống truyền hình số mặt đất DVB-T2

PLP 0

Tạo tế
bào

FEC

PLP 1

Mapper

Xen tế
bào

Xen thời
gian

Thích
ứng
luồng/
mode

Tạo
khung

Tạo tế
bào

FEC

Mapper

Xen tế
bào

Xen
tần

Xen thời
gian

Chèn
pilot

IFFT

Giảm công
suất PAPR

Chèn
khoảng
bảo vệ

Chèn ký
tự P1

D-A

Chèn
pilot

IFFT

Giảm công
suất PAPR

Chèn
khoảng
bảo vệ

Chèn ký
tự P1

D-A

TX1

Xử lý
MISO
TX2
(tùy chọn)

Hình 2.2: Sơ đồ khối hệ thống DVB-T2
 Các kỹ thuật mới sử dụng trong DVB-T2
-

Lớp vật lý: Mã hoá dịch vụ cụ thể dựa trên cơ chế Multiple Physical Layer
Pipes – Multi-PLP (Đa ống lớn vật lý) cho phép điều chỉnh độc lập từng dịch
vụ cung cấp trên kênh truyền để đáp ứng các điều kiện tiếp nhận đối với điện
thoại di động, anten thu trong nhà/trên mái nhà trong cùng một kênh truyền.
Đồng thời, cho phép các máy thu tiết kiệm năng lượng giải mã chỉ một dịch
vụ duy nhất, chứ không thiết phải giải mã toàn bộ các dịch vụ trong luồng
ghép kênh.

-

Mã hoá Alamouti là phương pháp phân tập phát nâng cao vùng phủ trong
mạng đơn tần quy mô nhỏ.

-

Chòm sao xoay giúp tăng độ ổn định của chòm sao xếp chặt.

-

Tăng cường đan xen về bit, tế bào, thời gian và tần số.

-

Cuối cùng, DVB-T2 định nghĩa một phương thức gọi là Future Extension
Frames (FEF) – Khung mở rộng trong tương lai. Phương thức này cho phép
áp dụng trên mạng DVB–T2 hiện tại.

14

Chương 2 Hệ thống truyền hình số mặt đất DVB-T2

2.3

Giới thiệu hệ thống truyền hình số DVB – T2
DVB-T2 là thuật ngữ viết tắt của Digital Video Broadcasting – Second

Generation Terrestrial, là phần mở rộng của chuẩn truyền hình số mặt đất DVB-T,
ban hành bởi tổ chức DVB, tiêu chuẩn hóa bởi ETSI.
Mặc dù DVB-T là một hệ thống linh hoạt cho phép các đài phát lựa chọn giữa
các video codec và thông số truyền dẫn khác nhau phù hợp với yêu cầu của họ
nhưng nhu cầu đối với một hệ thống mạnh mẽ với dung lượng cao hơn vẫn được đặt
ra [5]. Từ đó, tiêu chuẩn truyền hình số mặt đất thế hệ thứ hai DVB-T2 đã được
nhóm DVB Project công bố tháng 6/2008. Việc triển khai và phát triển các sản
phẩm mới cho tiêu chuẩn mới này cũng đã bắt đầu. DVB-T2 kế thừa những thành
công của DVB-T với nhiều cải tiến về việc gia tăng dung lượng truyền dẫn. Giống
như DVB-T, DVB-T2 cũng sử dụng điều chế OFDM với một số lượng lớn sóng
mang con để tạo ra một tín hiệu ổn định, cho phép hoạt động ở nhiều chế độ khác
nhau. DVB-T2 sử dụng phương thức mã hóa sửa sai giống DVB-S2 và DVB-C2 là
LDPC kết hợp với mã hóa BCH (Bose-Chaudhuri-Hocquengham). Số lượng sóng
mang, kích thước khoảng bảo vệ và tín hiệu pilot có thể điều chỉnh để tối ưu
overhead đối với từng loại kênh truyền.
Hiện nay, DVB-T2 là hệ thống kỹ thuật số mặt đất tiên tiến nhất thế giới, có các
thông số về độ bền, sự linh hoạt và hiệu quả cao hơn các hệ thống truyền hình số
mặt đất khác ít nhất 50%. Đồng thời, hệ thống hỗ trợ các chuẩn truyền hình SD,
HD, Ultra HD, truyền hình di động [4]… Tại Việt Nam, kể từ ngày 11 tháng 11 năm
2011, công ty cổ phần Nghe Nhìn Toàn cầu AVG đã bắt đầu triển khai mạng đơn tần
SFN phát sóng chuẩn DVB-T2 trên toàn quốc với ba kênh tần số là 57, 58, 59.
2.3.1 Những tiêu chí cơ bản của DVB-T2
DVB-T2 phải tuân thủ tiêu chí đầu tiên có tính nguyên tắc là tính tương quan
giữa các chuẩn trong họ DVB. Điều đó có nghĩa là sự chuyển đổi giữa các tiêu
chuẩn DVB phải thuận tiện ở mức có thể cao nhất. Tổ chức DVB đã định nghĩa một

15

Chương 2 Hệ thống truyền hình số mặt đất DVB-T2

bộ các yêu cầu thương mại đóng vai trò nền tảng cho việc phát triển T2. Các yêu
cầu này bao gồm [6]:
-

Việc truyền dẫn T2 phải có khả năng sử dụng các anten thu gia đình hiện
có và phải có khả năng tái sử dụng các hạ tầng máy phát đang tồn tại.
(Yêu cầu này đã loại bỏ sự quan tâm tới kỹ thuật MIMO bởi nó sẽ cần tới
các anten thu và phát mới).

-

T2 phải hướng dịch vụ tới các máy thu cố định và di động trước tiên.

-

T2 phải cung cấp khả năng tăng dung lượng tối thiểu 30% so với DVB-T
khi hoạt động trong cùng điều kiện và ràng buộc.

-

T2 phải nâng cao được hiệu suất của mạng đơn tần SFN so với DVB-T.

-

T2 phải có cơ chế nâng cao độ tin cậy đối với từng loại hình dịch vụ cụ
thể, cụ thể là phải có khả năng đưa ra các mức tin cậy khác nhau đối với
một vài loại dịch vụ so với loại khác. Chẳng hạn, trong một kênh đơn 8
MHz, nó phải có khả năng hướng một số dịch vụ cho điều kiện thu trên
mái nhà và hướng các dịch vụ khác cho thu di động.

-

T2 phải có độ linh hoạt về băng thông và tần số.

-

Nếu có thể, T2 nên có cơ chế để giảm tỉ số công suất đỉnh trên công suất
trung bình của tín hiệu phát để giảm giá thành truyền sóng.

2.3.2 Mô hình cấu trúc DVB-T2
Hệ thống DVB-T2 được chia thành 3 hệ thống con ở phía mạng phát (SS1, SS2,
SS3) và 2 hệ thống con ở phía thu (SS4, SS5) như trình bày trong Hình 2.3. Về mặt
giao diện, có hai giao diện tương ứng ở phía mạng (A và B) và một giao diện nội tại
máy thu (D). Giao diện RF (C) là chung cho cả network và phía thu. [6].

16

Chương 2 Hệ thống truyền hình số mặt đất DVB-T2

Giao diện A
“TS”
Tín hiệu
chương trình
đầu vào

SS1:
Mã hóa nén
và ghép
kênh thống
kê Video/
Audio

Giao diện A
“T2-MI”

SS2:
T2-Gateway
cơ bản

Giao diện C
“DVB-T2"

SS3:
Điều chế T2

SS3:
Điều chế T2

Mạng phân
phối
Kênh RF

Giao diện D
“TS”

SS4:
Giải điều
chế T2

SS5:
Giải mã
MPEG

SS4:
Giải điều
chế T2

SS5:
Giải mã
MPEG

SS4:
Giải điều
chế T2

SS5:
Giải mã
MPEG

Tín hiệu
chương trình
đầu ra đã
giải mã

Máy thu T2

Hình 2.3: Sơ đồ khối chức năng và giao diện DVB-T2
SS1: Mã hoá và ghép kênh. Hệ này có chức năng tạo ra các dòng truyền tải
MPEG-2 TS (MPEG-2 Transport Stream) và/hoặc luồng cơ sở (GS). Đối với các
dịch vụ video thì khối này bao gồm việc nén (encoding) video/audio cùng với các
thông tin phụ trợ PSI/SI hoặc báo hiệu lớp 2 (L2 Signalling). Thông thường việc mã
hóa video (có thể cả audio) được thực hiện theo cơ chế tốc độ bit biến đổi VBR
nhưng vẫn có một phần điều khiển chung để đảm bảo tốc độ bit tổng các luồng ghép
kênh với nhau là không đổi (chèn thêm gói NULL). Khối này có chức năng hoàn
toàn giống nhau đối với tất cả các chuẩn của DVB.
SS2: T2-Gateway cơ bản. Đầu vào của SS1 được định nghĩa trong [2], áp dụng
cho cả lớp vật lý DVB-T2 cơ bản và mở rộng mô tả trong phụ lục D của [1]. Khối
này thực hiện chức năng thích ứng Mode và thích ứng Stream cho DVB-T2, cùng
với đó là khả năng cấp phát dung lượng và lập lịch.
T2-Gateway cơ sở có đầu ra là dòng T2-MI là một chuỗi các gói T2-MI. Mỗi
gói T2-MI bao gồm hoặc một Baseband Frame, dữ liệu IQ Vector cho dòng phụ trợ
hoặc thông tin báo hiệu (LI hoặc SFN). Dòng T2-MI chứa mọi thông tin cần thiết
17

Chương 2 Hệ thống truyền hình số mặt đất DVB-T2

để mô tả nội dung và thời gian phát của các khung T2. Mỗi dòng T2-MI có thể được
cung cấp cho một hoặc một vài bộ điều chế trong mạng DVB-T2. Định dạng giao
diện T2-MI được định nghĩa trong [3].
SS3: Bộ điều chế DVB-T2 (DVB-T2 Modulator). Bộ điều chế DVB-T2 sử
dụng Baseband Frame và T2-Frame mang trong dòng T2-MI đầu vào để tạo ra
DVB-T2 Frame và phát ra chúng vào thời điểm thích hợp khi được đồng bộ SFN.
SS4: Giải điều chế DVB-T2 (DVB-T2 Demodulator). Bộ giải điều chế SS4
nhận tín hiệu RF từ một hoặc nhiều máy phát (SFN Network) và cho một dòng
truyền tải (MPEG-TS) tại đầu ra. SS4 giao tiếp với SS5 thông qua giao diện D, một
luồng TS chuẩn mang theo một hoặc nhiều dịch vụ cùng với các dữ liệu báo hiệu
chung.
SS5: Giải mã dòng truyền tải (Stream Decoder). Hệ SS5 nhận dòng truyền
tải (MPEG-TS) tại đầu vào và cho tín hiệu video/audio tại đầu ra. Khối này hầu như
giống nhau trong các chuẩn DVB, ngoại trừ một số thành phần báo hiệu L2 mới
được định nghĩa cho DVB-T2.
2.3.3 Đặc điểm lớp vật lý của DVB-T2
Mô hình lớp vật lý của DVB-T2 được trình bày trong Hình 1.4. Đầu vào hệ
thống có thể là một hay nhiều dòng truyền tải MPEG-TS và/hoặc một hay nhiều
dòng GS (Generic Stream). Các luồng đầu vào có thể được biến đổi bởi bộ tiền xử
lý trong T2 Gateway bởi tại điểm này trong sơ đồ, các luồng input phải tương ứng
một – một với các kênh dữ liệu (gọi là tuyến dẫn lớp vật lý PLP) trong bộ điều chế.
Đặc điểm lớp vật lý ở đây sẽ tương đương với sự kết hợp của T2-Gateway cơ bản
(SS2) và bộ điều chế (SS3) trong kiến trúc tham khảo Hình 2.3.
Luồng
đầu vào

Xử lý đầu
vào

Xen bit,
Mã hóa

Ánh xạ
Frame

Hệ thống T2

Hình 2.4: Sơ đồ khối DVB-T2 lớp vật lý
18

Điều chế

Chương 2 Hệ thống truyền hình số mặt đất DVB-T2

Đầu ra của lớp vật lý T2 là một tín hiệu cao tần RF trên một kênh RF đơn. Tín
hiệu đầu ra cũng có thể được chia thành hai đường để cung cấp cho anten thứ 2,
thường ở một trạm phát khác, khi ở chế độ truyền dẫn MISO, sử dụng một dạng
biến đổi của mã hóa Alamouti. Nếu chỉ có một PLP thì sẽ chỉ có một kênh data liên
tục được truyền đi. Tuy nhiên, nếu có nhiều PLP thì các kênh data có thể được phân
thời gian linh hoạt ở lớp vật lý, cho phép lựa chọn các thông số để ưu tiên tối ưu
phân tập thời gian hay tối ưu công suất máy thu. Hướng tiếp cận đa PLP và phân
khe thời gian trong T2 cho phép các PLP khác nhau có thể áp dụng các mức độ mã
hóa, điều chế và độ sâu xen các lát thời gian khác nhau, từ đó tạo ra các mức tin cậy
khác nhau cho từng service. Máy thu có thể tập trung tài nguyên giải mã của nó vào
một PLP chứa những dữ liệu cần thiết.
Việc xử lý dòng dữ liệu vào và FEC dù đã có cải tiến để nâng cao hiệu quả
nhưng vẫn được lựa chọn sao cho tương thích với cơ chế tương đương sử dụng
trong DVB-S2. Điều đó có nghĩa, DVB-T2 phải có cùng cấu trúc baseband-frame,
baseband-header, cơ chế loại bỏ gói rỗng (Null packet) và đồng bộ luồng như DVBS2. Việc cùng sử dụng LDPC/BCH FEC là một ví dụ. Tuy nhiên, do đặc tính tự
nhiên của điều chế mặt đất sử dụng trong DVB - T là dựa trên kỹ thuật khoảng bảo
vệ COFDM nên T2 cũng phải có các kỹ thuật ánh xạ chòm sao và xen bit mới.
Các thông số COFDM của DVB-T2 đã được mở rộng so với DVB-T, trong đó
bao gồm:
-

FFT: 1K, 2K, 4K, 8K, 16K, 32K.

-

Khoảng bảo vệ: 1/128, 1/32, 1/16, 19/256, 1/8, 19/128, 1/4.

-

Pilot phân tán : 8 biến thể khác nhau phù hợp với các khoảng bảo vệ khác
nhau.

-

Pilot liên tục: tương tự như DVB-T, tuy nhiên độ tối ưu được cải thiện để
giảm overhead.

-

Chế độ sóng mang mở rộng cho phép tối ưu băng thông với kích thước FFT
lớn hơn.

-

Xen mở rộng: bao gồm xen bit, xen tế bào, xen thời gian và xen tần số.
19

Chương 2 Hệ thống truyền hình số mặt đất DVB-T2

Việc có một khoảng lựa chọn rộng hơn các thông số COFDM cho phép giảm
đáng kể lỗi overhead, cùng với mã sửa sai mạnh hơn cho phép DVB-T2 đạt được
dung lượng cao hơn DVB-T gần 50% đối với mạng MFN và thậm chí còn lớn hơn
đối với mạng SFN [6].
DVB-T2 còn có một số tính chất mới góp phần cải thiện chất lượng hệ thống.
-

Cấu trúc khung (Frame Structure), trong đó có chứa symbol nhận diện đặc
biệt được sử dụng để quét kênh (channel scanning) và nhận biết tín hiệu
nhanh hơn, đồng thời nó cũng báo hiệu một số thông số cơ bản cấu trúc
khung.

-

Chòm sao xoay, tạo thành một dạng phân tập điều chế, hỗ trợ việc thu tín
hiệu có tốc độ mã cao.

-

Các giải pháp kỹ thuật đặc biệt nhằm giảm tỷ số giữa mức đỉnh và mức trung
bình của tín hiệu phát.

-

Tuỳ chọn đối với khả năng mở rộng khung dữ liệu trong tương lai (FEF future extension frame).

DVB-T2 được yêu cầu kế thừa những giải pháp đã tồn tại trong các tiêu chuẩn
DVB khác. Do đó nó phải chấp nhận 2 giải pháp kỹ thuật có tính then chốt của
DVB-S2, cụ thể:
-

Cấu trúc phân cấp trong DVB-S2, đóng gói dữ liệu trong khung BB (Base
Band Frame).

-

Sử dụng mã sửa sai LDPC (Low Density Parity Check).

Đầu ra của hệ thống thường là các tín hiệu đơn để truyền phát trên kênh vô
tuyến RF. Tuy nhiên, hệ thống có thể tạo tín hiệu ra thứ hai, được truyền tới hệ
thống anten thứ hai và gọi là chế độ truyền phát MISO.
2.3.4 Những giải pháp kỹ thuật cơ bản
 Ống lớp vật lý (Physical Layer Pipes - PLPs)
Đòi hỏi của thị trường đối với độ tin cậy theo đặc trưng dịch vụ và sự cần thiết
phải có các loại dòng dữ liệu khác nhau đã dẫn tới khái niệm "ống" lớp vật lý hoàn
20

Chương 2 Hệ thống truyền hình số mặt đất DVB-T2

toàn trong suốt (Hình 2.5) có khả năng truyền tải dữ liệu độc lập với cấu trúc của nó
và cho phép lựa chọn tự do các thông số PLP khác nhau. Cả dung lượng và độ tin
cậy đều có khả năng điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu cụ thể của từng nhà cung
cấp nội dung/dịch vụ, tuỳ thuộc vào loại đầu thu, môi trường.
DVB-T2 còn cho phép "gán" các giá trị: đồ thị chòm sao, tỷ lệ mã và độ sâu xen
thời gian cho từng PLP một cách độc lập. Hơn nữa định dạng của nội dung cũng
giống như cấu trúc khung cơ bản của DVB-S2.

Hình 2.5: Các PLP khác nhau hiện diện trên các lát thời gian khác nhau
Đặc biệt, một nhóm dịch vụ sẽ chia sẻ các thành phần chung như bảng PSI/SI
hoặc thông tin CA. Để tránh phải nhân bản các thông tin này cho từng PLP, DVBT2 đưa ra mô hình các PLP chung được chia sẻ bởi một nhóm PLP. Như vậy, máy
thu phải giải mã 2 PLP tại cùng 1 thời điểm khi thu một dịch vụ: PLP dữ liệu và
PLP chung đi kèm. Hai mode đầu vào điển hình được định nghĩa: đầu vào mode A
sử dụng duy nhất một PLP và đầu vào mode B sử dụng nhiều PLP.
 Đầu vào mode A
Đầu vào mode A là mode đơn giản nhất. Ở đây chỉ có duy nhất một PLP được
sử dụng, truyền tải duy nhất một dòng dữ liệu. Hệ quả độ tin cậy của các nội dung
thông tin là như nhau, tương tự như trong DVB-T.
 Đầu vào mode B
Đầu vào mode B là mode tiên tiến được sử dụng cho mô hình nhiều PLP (Hình
2.6). Ngoài độ tin cậy cao đối với các dịch vụ nhất định, mode B còn cho phép
khoảng xen thời gian dài hơn và tiết kiệm năng lượng hơn đối với đầu thu. Do đó

21

Chương 2 Hệ thống truyền hình số mặt đất DVB-T2

ngay cả khi thiết lập các thông số vật lý là giống hệt nhau thì việc sử dụng mode
này vẫn hữu ích, đặc biệt là khi hướng đến các thiết bị di động.

Hình 2.6: Khung T2 đối với kênh RF đơn, chế độ đa PLP (ở đây là 5 PLP).
 Băng tần phụ (1.7 MHz và 10 MHz)
Để đáp ứng các dịch vụ chuyên dụng, ví dụ truyền tín hiệu từ camera về một
studio lưu động, DVB-T2 còn bao gồm tuỳ chọn băng tần 10Mhz. Các máy thu dân
dụng không cần phải hỗ trợ băng tần này. DVB-T2 còn sử dụng cả băng tần 1.712
MHz cho các dịch vụ thu di động (trong băng III và băng L).
 Các mode sóng mang mở rộng (đối với 8K, 16K, 32K)
Do phần đỉnh xung vuông trong đồ thị phổ công suất suy giảm nhanh hơn đối
với kích thước FFT lớn, điểm ngoài cùng của phổ tín hiệu OFDM có thể trải rộng
hơn, điều này cũng đồng nghĩa với việc nhiều sóng mang phụ trên một symbol được
sử dụng để truyền tải dữ liệu. Độ lợi (gain) đạt được ở giữa 1.4% (8Kmode) và
2.1% (32Kmode). Hình 2.7 so sánh phổ của 2K so với 32K ở điều kiện bình thường
và trong mode sóng mang mở rộng. Sóng mang mở rộng là 1 đặc tính tuỳ chọn, bởi
lẽ với đặc tính này khó có có thể đạt được mặt nạ phổ (spectrum mask) cũng như tỷ
số bảo vệ.

22