Tải bản đầy đủ
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LÃI SUẤT, ĐIỀU CHỈNH LÃI SUẤT

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LÃI SUẤT, ĐIỀU CHỈNH LÃI SUẤT

Tải bản đầy đủ

Ví dụ: Loại tín phiếu có thời hạn 3 năm lãi suất 6% thì trong suốt thời hạn 3
năm, người mua tín phiếu đựợc hưởng lãi suất 6%/năm.Lãi suất cũng có thể biến
đổi.Ví dụ cũng loại tín phiếu 3 năm năm đầu công bố hay ghi trên mặt phiếu còn
năm thứ 2 năm thứ 3 sẽ điều chỉnh theo tình hình cụ thể của những năm đó (có
thể lên hoặc xuống theo thị trường).
Trong thực tế lãi suất được quan niệm thống nhất là :”Lãi suất tín dụng là tỷ
lệ phần trăm so sánh giữa số lợi tức thu được với số tiền bỏ ra cho vay trong một
thời kỳ nhất định”.

số lợi tức thu được trong kỳ
Lãi suất tín dụng

--------------------------------- × 100 (%)

=

số tiền vay phát ra trong kỳ

Trong đó lợi tức tín dụng là số tiền người đi vay phải trả cho người cho vay
ngoài phần vốn gốc sau một thời gian sử dụng tiền vay,hay nói cách khác đó
chính là phần giá trị tăng thêm so với phần vốn gốc mà người cho vay thu được
sau một thời gian nhất định. Lãi suất tín dụng là một chỉ tiêu đặc biệt đánh giá
mức độ lợi tức cao hay thấp khác nhau.
1.2.Ý nghĩa của lãi suất tín dụng trong nền kinh tế thị trường
1.2.1. Lãi suất với quá trình huy động vốn
Lý thuyết và thực tiễn đều cho thấy để phát triển kinh tế cần phải có vốn và thời
gian. Các nước tư bản phát triển phải mất hàng trăm năm phát triển công nghiệp và
quá trình lâu dài tích tụ vốn từ sản xuất, tiêu dùng. Đối với Việt Nam trên con đường
phát triển kinh tế thì vấn đề tích luỹ và sử dụng vốn có tầm quan trọng đặc biệt cả về
phương pháp nhận thức và chỉ đạo thực tiễn. Vì vậy chính sách lãi suất có vai trò hết
sức quan trọng trong việc huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội và các tổ chức kinh tế
đảm bảo đúng định hướng vốn trong nước là quyết định, vốn nước ngoài là quan trọng
trọng chiến lược CNH - HĐH đất nước.
Việc áp dụng một chính sách lãi suất hợp lý bảo đảm nguyên tắc quy định: lãi
suất phải bảo tồn được giá trị vốn vay, bảo đảm tích luỹ cho cả người cho vay và
người đi vay. Cụ thể:
3

+ Tỷ lệ lạm phát < Lãi suất tiền gửi < Lãi suất tiền vay < Tỷ suất lợi nhuận bình quân
+ Lãi suất ngắn hạn < Lãi suất dài hạn (đối với cả tiền gửi và tiền vay).

1.2.2. Lãi suất với quá trình đầu tư
Quá trình đầu tư của các doanh nghiệp vào tài sản cố định được thực hiện khi
mà họ dự tính lợi nhuận thu được từ tài sản cố định này nhiều hơn số lãi phải trả cho
các khoản đi vay để đầu tư và ngược lại. Trong môi trường kinh tế hoàn chỉnh, ngay cả
khi một doanh nghiệp thừa vốn thì chỉ tiêu đầu tư có kế hoạch vẫn bị ảnh hưởng bởi lãi
suất bởi vì ngoài đầu tư vào mở rộng sản xuất, doanh nghiệp có thể mua chứng khoán
hay gửi vào ngân hàng nếu lãi suất cao.
Đặc biệt trong thời kỳ nền kinh tế đình trệ, hàng hoá ứ đọng và xuống giá, có
dấu hiệu thừa vốn và áp lực lạm phát thấp cần phải hạ lãi suất vì nguyên tắc là: lãi suất
phải nhỏ hơn lợi nhuận bình quân của đầu tư, sự chênh lệch này sẽ tạo động lực cho
các doanh nghiệp mở rộng quy mô đầu tư.

1.2.3.Lãi suất - vai trò của nó đối với hoạt động ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại với hai hoạt động chính trong hoạt động kinh doanh cảu
mình là huy động vốn và sử dụng vốn đã phản ánh qui mô hoạt động của các ngân
hàng thương mại. Với phương châm đi vay để cho vay, ngân hàng huy động vốn tạm
thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho vay. Để huy động vốn và cho vay có hiệu quả,
ngân hàng thương mại phải xác định mức lãi suất tiền và lãi suất tiền vay một cách
hợp lý. Có như vậy mới thu hút được nguồn vốn to lớn trong nước đáp ứng nhu cầu
vốn cho sản xuất kinh doanh và đời sống. Lãi suất ngân hàng là nhân tố quan trọng
quyết định kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại và khách hàng.
Lãi suất ngân hàng là một phạm trù kinh tế có tính hai mặt. Nếu xác định lãi
suất hợp lý sẽ là đòn bẩy quan trọng thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hoá phát triển
và ngược lại. Bởi vậy lãi suất ngân hàng vừa là công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước,
vừa là công cụ điều hành vi mô của các ngân hàng thương mại.
Trong hoạt động kinh doanh tiền tệ - tín dụng, ngân hàng vừa là chủ nợ, vừa là
khách nợ. Khi cho vay vốn ngân hàng thương mại đóng vai trò chủ nợ đối với khách
hàng vay vốn, còn khi nhận tiền gửi thì ngân hàng lại là khách nợ. Nếu lãi suất huy
động tiền gửi quá thấp không hấp dẫn thi không khuyến khích các doanh nghiệp và
4

dân cư gửi tiền, dẫn đến tình trạng thiếu vốn cho vay. Ngược lại, nếu lãi suất cho vay
cao, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh không còn lãi hoặc lãi quá thấp thì họ sẽ
thu hẹp sản xuất để gủi tiết kiểm hưởng lãi suất cao. Lúc đó trong ngân hàng sẽ gặp
tình trạng dư tiết kiệm, không cho vay được và trở thành con nợ thực sự của các chủ
sở hữu, vì vậy có nguy cơ phá sản.
Vì nhưng yếu tố quan trọng đó mà ngân hàng trung ương phải xác định hay
kiểm soát lãi suất của các ngân hàng thương mại. Nhằm bảo vệ chính ngân hàng
thương mại và lợi ích của người gửi tiền. Lãi suất ngân hàng hợp lý thực sự là đòn bẩy
mạnh mẽ cho nền kinh tế phát triển.

1.3. Lãi suất và đầu tư
Lượng cầu về hãng đầu tư phụ thuộc vào lãi suất, để một dự án đầu tư có lãi, lợi
nhuận thu được phải cao hơn chi phí. Vì lãi suất phản ánh chi phí vốn để tài trợ cho
đầu tư, việc tăng lãi suất làm giảm số lượng dự án đầu tư có lãi, bởi vậy nhu cầu về
hãng đầu tư giảm do đó đầu tư tỷ lệ nghịch với lãi suất.
Lãi suất thực tế phản ánh chi phí thực sự của tiền vay do vậy chúng ta nhận
định đầu tư phụ thuộc vào lãi suất thực tế chứ không phải lãi suất là lãi suất danh
nghĩa. Mối quan hệ giữa lãi suất thực tế (r) và đầu tư có thể biểu thị bằng phương trình
sau: I = I(r).
Phương trình này hàm ý đầu tư phụ thuộc vào lãi suất.

Đồ thị biểu thị hàm đầu tư, nó dốc xuống vì khi lãi suất tăng lượng cầu về đầu
tư giảm.
Mặt khác kinh tế học Macxit trong phân tích về tư bản cho vay và chỉ rõ rằng:
lãi suất < tỷ suất lợi nhuận bình quân trong xã hội
5

Nếu mối quan hệ này bị vi phạm lợi ích của người đi vay sản xuất không được
giải quyết thoả đáng sẽ làm giảm ý muốn đầu tư sản xuất, không mở rộng được quy
mô, tốc độ phát triển của nền kinh tế. Đồng thời người ta thích gửi tiền hơn và hình
thành một lớp người thực lợi, sống vào lãi suất tiết kiệm.

6

Chương 2:
CHÍNH SÁCH ĐIỀU CHỈNH LÃI SUẤT ẢNH HƯỞNG ĐẾN
ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Diễn biến của chính sách lãi suất ở Việt Nam thời gian gần đây
2.1.1. Năm 2014
Ở Việt Nam, kinh tế vĩ mô diễn biến theo đúng xu hướng kỳ vọng của các
giải pháp điều hành Chính phủ đề ra từ đầu năm. Lạm phát được kiểm soát ở
mức 6,04% thấp hơn so với năm 2012 (6,81%). Tăng trưởng kinh tế quý sau cao
hơn quý trước, tuy nhiên trong bối cảnh khó khăn chung của kinh tế thế giới,
GDP năm 2013 chỉ tăng 5,42%, cao hơn mức 5,25% của năm 2012 nhưng thấp
hơn so với mục tiêu 5,5% đặt ra. Tổng cầu và sức mua của nền kinh tế còn yếu,
hoạt động sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn, lạm phát tuy đã được kiểm
soát nhưng tiềm ẩn nguy cơ gia tăng trở lại.
Trước tình hình đó, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số
01/NQ-CP ngày 2/1/2014, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành Chỉ thị số
01/CT-NHNN ngày 13/2/2012 đặt mục tiêu, nhiệm vụ "điều hành chính sách
tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa nhằm kiểm
soát lạm phát theo mục tiêu đề ra, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh
tế ở mức hợp lý, bảo đảm thanh khoản của các tổ chức tín dụng (TCTD) và nền
kinh tế". Như vậy, lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô vẫn là những mục tiêu
được quan tâm hàng đầu bên cạnh việc hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý,
thậm chí mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô còn được quan tâm và đặt lên vị trí có
phần ưu tiên hơn so với năm 2013. Đây là một định hướng đúng đắn khi vấn đề
kinh tế căn bản của Việt Nam trong những năm gần đây xoay quanh hai vấn đề
chính là duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô và kiến tạo đà tăng trưởng kinh tế trong
trung hạn.
Sự hy sinh tăng trưởng trong ngắn hạn là cần thiết để tái cơ cấu nền kinh
tế thành công và tạo được đà tăng trưởng kinh tế trong trung và dài hạn. Cùng
với tinh thần đó, trong điều kiện áp lực lạm phát đã có sự suy giảm, chính sách
tiền tệ đã chuyển từ việc điều hành một cách "thận trọng, linh hoạt" sang "chủ
7

động, linh hoạt". Định hướng điều hành chính sách tiền tệ năm 2014 được điều
chỉnh có dấu hiệu nới lỏng hơn so với năm trước thông qua các chỉ tiêu về tăng
trưởng tín dụng và tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán lớn hơn hẳn so với
năm 2013 khoảng 2%. Có thể thấy, định hướng chính sách tiền tệ đã được xác
định một cách có cơ sở khoa học, phù hợp với tình hình thực tiễn và yêu cầu của
nền kinh tế. Chính vì vậy, chính sách tiền tệ đã đạt được những thành tựu đáng
ghi nhận. Đó là, năm 2014 lạm phát giảm so với năm 2013 và là mức thấp nhất
trong hơn một thập kỷ. Tốc độ tăng giá tiêu dùng (tính theo năm) đã trượt về
ngưỡng 2%, tính đến cuối năm 2014 CPI tăng khoảng 1,84%, (xem hình 1). Kết
quả này một phần là nhờ vào các yếu tố gây sức ép lên lạm phát từ phía tổng
cung, tổng cầu đã giảm so với các giai đoạn trước nhưng cũng không thể phủ
nhận vai trò của NHNN trong việc chủ động kiểm soát khối lượng tiền tệ trong
nền kinh tế.
Những diễn biến thuận lợi trong cán cân thanh toán và tác động tích cực
của các chính sách chống đô la hóa, cung ngoại tệ trong nền kinh tế đã vượt xa
cầu ngoại tệ. Để duy trì mục tiêu giữ ổn định tỷ giá, ổn định thị trường tiền tệ,
NHNN đã đưa một lượng lớn tiền ra để mua ngoại tệ tăng dự trữ ngoại hối, đưa
dự trữ ngoại hối lên mức kỷ lục vào khoảng 35 tỷ USD từ cuối quý II/2014. Do
vậy, song song với động thái gia tăng dự trữ ngoại hối, nâng cao khả năng bình
ổn thị trường ngoại tệ và tránh tạo ra áp lực gia tăng lạm phát, NHNN cũng đã
kịp thời rút bớt tiền về thông qua hoạt động phát hành tín phiếu NHNN trong
suốt giai đoạn này. Tính từ đầu năm đến nay, giá trị tín phiếu phát hành chiếm tỷ
trọng 89% và giá trị cho vay qua mua giấy tờ có giá chiếm 11% tổng khối lượng
mà NHNN can thiệp vào thị trường tiền tệ. Tỷ lệ này trong cùng kỳ năm 2013
tương ứng ở mức 60% và 40% và trong cùng kỳ năm 2012 ở mức 21% và 79%.
Thông qua hệ thống lãi suất điều hành và hoạt động mua bán kỳ hạn giấy
tờ có giá, NHNN điều tiết lãi suất và hỗ trợ thanh khoản trên thị trường liên
ngân hàng và qua đó tác động tới lãi suất dòng vốn ra nền kinh tế bên cạnh việc
tạo ổn định trên thị trường nội tệ. Trong điều kiện thanh khoản tương đối dồi
dào, diễn biến thị trường liên ngân hàng trong hầu hết cả năm 2014 diễn ra khá
ổn định với mức lãi suất thấp và ít biến động hơn so với năm 2013. Trong những
8