Tải bản đầy đủ
U trung biểu mô màng phổi ác tính nguyên phát

U trung biểu mô màng phổi ác tính nguyên phát

Tải bản đầy đủ

5

Vì bệnh liên quan đến tiếp xúc nghề nghiệp, do đó UTBMMPAT thường phổ biến ở nam so với
nữ (tỷ số nam: nữ là 5:1) [8] và thường xảy ra ở người lớn tuổi vì bệnh có thời gian tiềm ẩn kéo dài
từ 20-50 năm.
3.2. Cơ chế sinh bệnh học của u trung biểu mô màng phổi ác tính

UTBMMPAT hiện nay đã được xác định là có mối liên quan đến phơi nhiễm với asbetos.
Khoảng 80% số bệnh nhân có tiền sử tiếp xúc với asbetos. Asbetos là một họ gồm 6 kết cấu khoáng
chất và được chia thành 2 nhóm là (1) nhóm khoáng silic có dạng que gồm amosite (asbestos nâu),
crocidolite (asbestos xanh), anthophyllite, actinolite và tremolite; và (2) nhóm serpentin chỉ có
chrysotile (asbestos trắng). Các nhà khoa học đã xác định được chính crocidolite là loại asbetos gây
ra UTBMMPAT. Erionite, một khoáng chất giống với asbetos cũng có thể gây ra UTBMMPAT.
Sau khi hít phải asbetos trong một thời gian dài, các asbetos đi sâu vào phổi và xâm nhập vào
khoang màng phổi, tại đây các phân tử asbetos được cho là sẽ tương tác với các tế bào trung biểu mô
và các tế bào viêm gây ra các chu trình tổn thương mô kéo dài bao gồm gây tổn thương, sửa chữa và
viêm nhiễm cục bộ, để cuối cùng dẫn đến tình trạng UTBMMPAT với cơ chế chưa được biết đến.
Các nhà khoa học cũng chưa thể giải thích được tại sao UTBMMPAT lại thường khởi phát tại lá
màng phổi thành mà không phải lá màng phổi tạng. Một vấn đề gây tranh cãi khác là tại sao asbetos
lại có thể gây UTBMMPAT trong một thời gian ủ bệnh dài trong khi tế bào trung biểu mô lại dễ
chết ngay khi tiếp xúc với asbetos.
Có một số cơ chế được đưa ra để giải thích cho việc asbetos gây UTBMMPAT. Có bốn mô hình
được giả định đưa ra về khả năng gây tổn thương tế bào hoặc tổn thương di truyền của asbetos:
(i)

Các chất oxy hóa hoạt tính được tạo ra bởi asbetos có bề mặt tiếp xúc gây tổn thương ADN
và các vết đứt gãy trên tế bào. Các đại thực bào đến thực bào các phân tử asbetos nhưng

(ii)

không thể tiêu hóa cũng góp phần tạo nên các chất oxy hóa hoạt tính;
Asbestos cũng có nhiều khả năng xâm lấn vào các tế bào trung biểu mô. Các phân tử asbetos
sẽ can thiệp vật lý vào quá trình phân bào của tế bào bằng cách phá hủy việc hình thành các
sợi tơ phân bào. Sự can thiệp này dẫn đến bất thường về cấu trúc nhiễm sắc thể và làm bội

(iii)

hóa các tế bào trung biểu mô.
Các phân tử asbetos có thể có khả năng hấp thu nhiều loại protein và hóa chất trải lên bề mặt
của chúng và điều này cũng dẫn đến việc tích lũy nhiều phân tử độc hại trong đó có các chất
sinh ung. Các phân tử asbetos cũng có thể gắn kết với các protein tế bào quan trọng và sự
thiếu hụt các protein này có thể có hại cho sự hình thành các tế bào trung biểu mô bình
thường.

6

(iv)

Các tế bào trung biểu mô và đại thực bào tiếp xúc với asbetos có khả năng tiết ra một loạt
các cytokines và các yếu tố tăng trưởng gây ra hiện tượng viêm và kích thích sự phát triển
các khối u. Các chất này bao gồm yếu tố hoại tử u-α, interleukin-1β, yếu tố tăng trưởng biến
đổi –β và yếu tố tăng trưởng có nguồn gốc tiểu cầu. Yếu tố hoại tử u-α đã được chứng minh
có khả năng kích hoạt yếu tố nhân-κB vận hành khả năng sống sót của tế bào trung biểu mô
và ức chế khả năng gây độc của asbetos. Các protein 1 thuộc nhóm di động cao cũng được
phóng thích bởi các tế bào trung biểu mô tiếp xúc với asbetos kích hoạt chương trình chết
cho các tế bào hoại tử từ đó khởi phát đáp ứng viêm nhiễm. Như vậy có thể thấy có một hệ
thống liên lạc qua lại giữa các tế bào trung biểu mô, các tế bào viêm, các sợi fibro và các tế
bào nền khác dẫn đến hàng loạt các tế bào trung biểu mô bị tổn thương ADN và bội hóa,
hình thành nên các tế bào ung thư và một môi trường vi chất hỗ trợ và nuôi dưỡng cho các tế
bào ung thư này.

Hình 1. Mô hình giả định cơ chế gây UTBMMPAT do tiếp xúc với asbetos.
Chú thích: HMGB1, protein 1 nhóm di động cao; ROS, chất oxy hóa hoạt tính; TGF-β, yếu tố tăng
trưởng biến đổi -β; VEGF, yếu tố tăng trưởng nội mạch
Vì không phải bệnh nhân mắc UTBMMPAT nào cũng tiếp xúc với asbestos và không phải tất cả
bệnh nhân tiếp xúc với abestos đều mắc UTBMMPAT, nên các nhà khoa học cho rằng còn có yếu tố
khác hoặc đồng yếu tố khác dẫn đến UTBMMPAT. Một đồng yếu tố với abestos hiện nay gây nhiều
tranh cãi được cho là có liên quan đến sự hình thành UTBMMPAT là tiếp xúc với virus 40 gây khối
u ở động vật linh trưởng (SV40), một trong trên 40 loại virus gây nhiễm bệnh trên tế bào thận của

7

khỉ Macacus được sử dụng để bào chế vaccine bại liệt sống. Trình tự gen của SV40 được phát hiện
trong nhiều loại u ác tính chẳng hạn ung thư não, sarcoma xương, hội chứng lympho không
Hodgkin, và trên 50% các trường hợp UTBMMPAT loại tế bào biểu mô. Ngoài ra, các nhà khoa học
cũng nhận thấy rằng một số đột biến mất locus trên nhiễm sắc thể thường hiện diện trong hầu hết
các trường hợp mắc UTBMMPAT. Các đột biến được xác định bao gồm đột biến khiếm khuyết các
locus 1p, 3p, 9p, 6q và 9p21 được cho là đóng vai trò không nhỏ trong cơ chế sinh bệnh học của
UTBMMPAT.
3.3. Giải phẫu bệnh lý

UTBMMPAT là loại u tiểu thùy có màu xám nhạt. Bệnh thường khởi đầu là các mảng và nốt rải
rác ở lá màng phổi thành sau đó sẽ liên kết với nhau tại thành khối ung thư dạng tấm. Khối u sau đó
xâm lấn dần vào cơ hoành và bao bọc lấy phổi và các rãnh liên thùy. Khối u còn có thể phát triển
dọc theo các ống mở lồng ngực và ống dẫn lưu màng phổi khi bệnh nhân thực hiện các phẫu thuật
hoặc chọc hút dịch màng phổi. Khi bệnh tiến triển khối u xâm lấn vào các tổ chức nhu mô phổi,
thành ngực và trung thất. Ngoài ra khối u còn có thể xâm lấn đến thực quản, xương sườn, cột sống,
đám rối cánh tay và tĩnh mạch chủ trên.
Về mặt tế bào học, UTBMMPAT được phân thành 3 loại là UTBMMPAT loại biểu mô,
UTBMMPAT loại sarcoma và UTBMMPAT loại hỗn hợp. UTBMMPAT loại biểu mô là loại phổ
biến nhất (< 50% trường hợp) nhưng tiên lượng bệnh lại tốt nhất so với hai loại còn lại.

Hình 2. Hình ảnh u màng phổi Hình 3. Hình ảnh u màng phổi ác Hình 4. Hình ảnh u màng
ác tính ở lá màng phổi thành
tính loại biểu mô có dạng nhú
phổi ác tính loại sarcoma
3.4. Triệu chứng lâm sàng của u trung biểu mô màng phổi ác tính
Trong UTBMMPAT các triệu chứng sớm thường rất mơ hồ và không đặc hiệu cho bệnh do đó
cả bệnh nhân và bác sĩ thường không để ý dẫn đến việc chẩn đoán thường muộn. Hầu hết bệnh nhân
khi được chẩn đoán mắc bệnh thì triệu chứng đã khởi phát từ 3-6 tháng trước đó và bệnh đã ở giai
đoạn tiến triển.

8

Biểu hiện sớm và thường gặp nhất chính là khó thở. Bệnh nhân khó thở là do tràn dịch màng
phổi nhiều gây chèn ép phổi làm hạn chế thể tích thông khí. Triệu chứng phổ biến thứ hai chính là
đau ngực (90% bệnh nhân). Nguyên nhân đau ngực là do hậu quả của tình trạng xâm lấn của khối u
cũng như sự chèn ép của khối u lên các cấu trúc lân cận. Đau ngực dữ dội nếu khối u màng phổi
xâm lấn vào thành ngực vào thành ngực và xương sườn.
Ngoài hai triệu chứng phổ biến trên bệnh nhân còn có thể có các triệu chứng khác như mệt mỏi
(36%), lo âu (29%), ho (22%), đổ mồ hôi đêm (22%) và táo bón (22%) [7]. Trong một số trường
hợp đặc biệt, bệnh nhân còn có các triệu chứng như nói khàn, ho ra máu, sưng mặt, sưng cánh tay,
yếu cơ và mất cảm giác.
3.5. Chẩn đoán u trung biểu mô màng phổi ác tính
3.5.1. Xét nghiệm hình ảnh học

Khám thực thể và chụp X-quang phổi có thể thấy tràn dịch màng phổi lượng lớn ở khoảng 8095% bệnh nhân trong khi 10-29% bệnh nhân sẽ có rất ít hoặc không thấy dịch. Tràn dịch màng phổi
có thể chỉ được phát hiện trên phim nghiêng với hình ảnh góc sườn hoành ở phía sau bị tù. Khi bệnh
đã ở giai đoạn tiến triển sẽ khó phát hiện dịch màng phổi hơn. Ban đầu dịch vẫn còn chảy tự do khi
chụp X-quang phổi tư thế nằm, do đó hình ảnh dịch tương tự giống như tràn dịch trong suy tim,
viêm phổi giai đoạn sớm hoặc các bệnh lý lành tính khác. Sau đó khi bệnh tiến triển dịch có dạng
vách ngăn, rời rạc. Đau ngực cục bộ và tăng kích thước thành ngực chứng tỏ khối u đã xâm lấm
thành ngực và không còn có thể cắt bỏ.
Chụp CT-scan với thuốc cản quang có thể cho thấy nhiều dấu hiệu hơn so với chụp X-quang
phổi thẳng. Chụp CT-scan có thể thấy tràn dịch màng phổi, kích thước của hạch lympho ở rốn phổi
và trung thất và sự hiện diện của các khối mờ màng phổi đặc biệt là các khối mờ bao bọc lấy mô
phổi và lan vào các rãnh liên thùy hoặc dọc theo màng phổi liên trung thất và cơ hoành. CT-scn còn
thể giúp phát hiện hình ảnh xâm lấn thành ngực. Chụp CT-scan có thể phát hiện hình ảnh dày màng
phổi trong 90% trường hợp, dày các rãnh liên thùy trong 85% các trường hợp và tràn dịch màng
phổi trong khoảng 80,3% trường hợp. Một ưu điểm khác của chụp CT-scan chính là giúp thủ thuật
sinh thiết thành ngực lấy mẫu mô được thực hiện với độ chính xác cao hơn. Tuy nhiên chụp CT-scan
không thể giúp phân biệt được UTBMMPAT với các loại u lành tính trung biểu mô khác.
Mặc dù chụp CT-scan có thể giúp phát hiện sự lan tràn của khối u vào thành ngực và cơ hoành,
nhưng chụp cộng hưởng từ (MRI) lại cho những hình ảnh này rõ ràng hơn đặc biệt khi bệnh nhân
còn có thể điều trị bằng phương pháp phẫu thuật. Chụp MRI cung cấp nhiều hình ảnh dưới nhiều

9

góc độ khác nhau do đó giúp phân biệt dễ dàng khối u với các tổ chức bình thường lân cận. Chụp
MRI còn giúp đánh giá chính xác hơn sự to ra của các hạch trung thất cũng như bề mặt cơ hoành.
Trong những năm gần đây, kỹ thuật chụp cắt lớp positron (PET) cũng được sử dụng trong chẩn
đoán và đánh giá giai đoạn tiến triển của UTBMMPAT. Chụp PET có thể phát hiện khá chính xác
các tổn thương thành ngực ở cả hai bên phổi và các di căn ngoài lồng ngực chẳng hạn các khối u di
căn trên xương đòn.

Hình 5. Các hình ảnh đặc trưng của UTBMMPAT chụp bằng các phương pháp hình ảnh học
khác nhau. (A) Chụp CT cho thấy (mũi tên nhỏ) đường viền của hạch lympho ở nhánh khí phế quản
phải phì đại ở bệnh nhân có UTBMMPAT bên phải (mũi tên phải). (B) Chụp MRI trên cùng đối
tượng cho thấy (mũi tên) sự gia tăng kích thước (màu trắng) của hạch lympho này. (C) Chụp MRI
trên cùng bệnh nhân cho thấy khối u tại màng phổi phải đã lan tràn đến cơ hoành nhưng đường cơ
hoành vẫn còn nhìn rõ cho thấy sự xâm lấn của khối u chưa diễn ra hoàn toàn. (D) Chụp MRI cho
thấy (mũi tên) khối u màng phổi dày và một số túi dịch trên bệnh nhân có UTBMMPAT bên phải.

10

Hình 6. Chụp PET scan. Hình ảnh cho thấy khối u khởi đầu ở màng phổi thành sau đó xấm lấn
dần đến các rãnh liên thùy và sau đó là bao bọc lấy toàn bộ nhu mô phổi.
3.5.2. Nội soi màng phổi

Lợi ích của kỹ thuật này là giúp quan sát được bên trong khoang lồng ngực thông qua hệ thống
ống soi quang học. Nội soi màng phổi ống cứng có thể phát hiện được 90% các trường hợp có tràn
dịch màng phổi. Phẫu thuật nội soi dưới sự hướng dẫn của video (VATS) là phương pháp chẩn đoán
nội soi hiệu quả nhất vì nó có khả năng chẩn đoán cao đồng thời giúp đánh giá được cả giai đoạn
tiến triển của khối u. VATS cũng giúp ích rất nhiều trong thủ thuật sinh thiết màng phổi, đặc biệt
trong những trường hợp cần lấy bệnh phẩm mô ở những vùng nghi ngờ bệnh lý. Tuy nhiên hạn chế
của phương pháp VATS chính là tỷ lệ tổ chức ung thư xâm lấn đến đường đưa kim vào và tại vị trí
sinh thiết có thể lên đến 20% các trường hợp. Để hạn chế tình trạng này các nhà khoa học đề xuất
nên tiến hành xạ trị trước hoặc sau khi tiến hành thủ thuật sinh thiết kết hợp VATS.
3.5.3. Xét nghiệm tế bào học

Tìm tế bào ung thư trong dịch màng phổi là một xét nghiệm khá thường quy do khá đơn giản và
rẻ tiền, tuy nhiên giá trị chẩn đoán không cao do tỷ lệ tìm thấy tế bào ung thư trong dịch màng phổi
chỉ vào khoảng 20-33% số trường hợp, kể cả khi bệnh nhân đã có các triệu chứng của
UTBMMPAT. Chính vì lý do này bên cạnh xét nghiệm tế bào học, nhiều nhà khoa học khuyến cáo
nên thực hiện sinh thiết mô màng phổi để tăng cường độ nhạy trong việc chẩn đoán UTBMMPAT.
3.5.4. Sinh thiết màng phổi

Trong trường hợp sinh thiết màng phổi mù, mẫu bệnh phẩm thu được thường rất nhỏ do đó chỉ
có 25-60% các mẫu bệnh phẩm phát hiện được UTBMMPAT. Do đó, kỹ thuật sinh thiết màng phổi
mở thường được sử dụng phổ biến hơn. Kỹ thuật sinh thiết màng phổi mở thường được kết hợp với
nội soi màng phổi có thể giúp lấy được mẫu mô có kích thước đủ lớn và đặc biệt có thể lấy được

11

mẫu bệnh phẩm ngay tại vùng bị tổn thương của màng phổi. Phương pháp sinh thiết màng phổi mở
được chứng minh có độ nhạy 88% và độ đặc hiệu là 96% trong chẩn đoán các bệnh lý ác tính.
3.5.5. Hóa mô miễn dịch học

UTBMMPAT có đặc tính mô học đa dạng, không nhất quán vì vậy khi soi kính hiển vi có thể
chẩn đoán lầm với các dạng tăng sinh tế bào biểu mô lành tính hoặc các dạng u không phải biểu mô
nằm ở màng phổi, màng tim hoặc màng bụng. Vì lý do này hiện nay các kỹ thuật chẩn đoán mới như
hóa mô, soi kính siêu hiển vi điện tử, và hóa mô miễn dịch (HMMD) được khuyến cáo sử dụng để
chẩn đoán xác định UTBMMPAT.
Chẩn đoán phân biệt giữa UTBMMPAT biểu mô/hỗn hợp và các loại ung thư di căn màng phổi
Một vấn đề quan trọng nhất trong chẩn đoán hóa mô miễn dịch là phải phân biệt được về mặt mô
học giữa UTBMMPAT loại biểu mô hoặc loại hỗn hợp và ung thư di căn màng phổi. Để có thể chẩn
đoán phân biệt giữa hai thể bệnh này, các nhà khoa học sử dụng một bộ kháng thể mở rộng bao gồm
4 chất đánh dấu dương tính với u trung biểu mô (calretinin, keratin 5, WT-1, và podoplanin) và 5
chất đánh dấu dương tính với ung thư (pCEA, CD15 (LeuM1), BerEP4, MOC-31, và TTF-1). Trong
thời gian gần đây đối với các chất đánh dấu với u trung biểu mô, một số chất mới đã được công bố
có độ đặc hiệu cao trong việc phát hiện u trung biểu mô. Hai trong số này chính là tenascin-X (là
một chất thuộc họ tenascin có khả năng gắn kết vào tế bào qua con đường kinase p38 MAP nội bào)
và Caveolins (là một chất thuộc họ protein gồm 3 chất có cả tác dụng ức chế và kích thích sự phát
triển ung thư). Đối với các chất đánh dấu ung thư phổi, một số chất mới cũng được công bố thời
gian gần đây. Napsin A là một chất như vậy với độ nhạy cao hơn so với cả TTF-1 (83% so với
73%). Tuy nhiên napsin A trái ngược với TTF-1 vẫn có thể nhuộm dương tính với các loại ung thư
tế bào vỏ thận. Chính vì napsin được khuyến cáo nên sử dụng phối hợp với TTF-1 để tăng độ nhạy
và độ đặc hiệu của nhuộm miễn dịch trong việc chẩn đoán ung thư di căn màng phổi. PAX8 cũng là
một chất đánh dấu được phát hiện trong thời gian gần đây có khả năng chẩn đoán các loại ung thư di
căn màng phổi. PAX8 có thể giúp phát hiện nhiều loại ung thư buồng trứng đặc biệt là các loại ung
thư tuyến vú.
Việc lựa chọn bộ kháng thể dùng trong chẩn đoán phân biệt giữa UTBMMPAT loại biểu mô/hỗn
hợp và các ung thư biểu mô di căn màng phổi là một bước quan trọng vì ảnh hưởng đến độ nhạy và
độ đặc hiệu của chẩn đoán. Các bộ kháng thể đắt tiền đã được kiểm chứng về độ nhạy và độ đặc
hiệu, tuy nhiên lại không phù hợp khi áp dụng tại nhiều quốc gia có điều kiện kinh tế không cho
phép. Trong khi đó các bộ kháng thể rẻ tiền có thể áp dụng rộng rãi nhưng giá trị chưa được kiểm

12

chứng trên lâm sàng. Hiện nay chưa có một thống nhất chung về số lượng chất đánh dấu được dùng
trong chẩn đoán phân biệt giữa hai thể bệnh trên. Tuy nhiên các nhà khoa học đưa ra nguyên tắc
chung là phải lựa chọn các loại chất đánh dấu dựa trên độ nhạy và độ đặc hiệu. Các nghiên cứu
trước đây cho thấy nên sử dụng ít nhất là 4 chất đánh dấu có độ nhạy cao được chọn và bộ kháng thể
hàng thứ nhất trong đó 2 chất dành để phát hiện UTBMMPAT biểu mô (TTF-1 luôn là ưu tiên hàng
đầu) và 2 chất dành để phát hiện các ung thư biểu mô khác. Các chất đánh dấu còn lại có thể thêm
vào trong các trường hợp hình thái mô học không rõ ràng.

Hình 7. Hình ảnh UTBMMPAT dạng biểu mô với nhuộm miễn dịch bằng các chất đánh dấu khác
nhau. (A) nhuộm bằng hematoxylin-eosin; (B) Nhuộm dương tính với keratin 5; (C) Nhuộm dương
tính với calretinin; (D) nhuộm dương tính với WT-1; (E) nhuộm dương tính với podoplanin; (F)
nhuộm âm tính với pCEA; (G) nhuộm âm tính với MOC31.

13

Hình 8. Hình ảnh ung thư phổi di căn đến màng phổi với nhuộm miễn dịch bằng các chất đánh dấu
khác nhau. (A) nhuộm bằng hematoxylin-eosin; (B) Nhuộm âm tính với keratin 5; (C) Nhuộm âm
tính với calretinin; (D) nhuộm âm tính với podoplanin; (E) nhuộm dương tính với pCEA; (F) nhuộm
dương tính TTF-1; (G) nhuộm dương tính với MOC31.

14

Chẩn đoán phân biệt giữa UTBMMPAT loại sarcoma và ung thư tế bào tủy sống
UTBMMPAT dạng sarcoma cũng có thể được chẩn đoán phân biệt với các dạng sarcoma và các
dạng ung thư sarcoma di căn màng phổi khác. Việc chẩn đoán phân biệt chủ yếu dựa vào nguyên tắc
các tế bào trung biểu mô có dạng xương sống sẽ nhuộm dương tính với keratin. Khi nhuộm với
keratin có khoảng 10,4% các ca UTBMMPAT loại sarcoma sẽ dương tính. Mức độ dương tính đối
với từng loại keratin như sau: keratin phổ rộng (AE1/AE3) dương tính khoảng 90,9%; keratin 8
(CAM 5.2) dương tính khoảng 95,7% và keratin 5 dương tính khoảng 38,5%. Có khoảng 67,9% các
trường hợp dương tính với calretinin và ít nhất 1 trong các loại keratin kể trên. Từ kết quả nghiên
cứu nêu trên, có thể thấy calretinin có thể sử dụng cùng với keratin để chẩn đoán phân biệt giữa
UTBMMPAT dạng sarcoma và các thể sarcoma khác. Ngoài ra các chất đánh dấu cơ chẳng hạn như
desmin, actin cơ trơn, và actin đặc hiệu cơ và các chất đánh dấu thần kinh (protein S100 và enolase
đặc hiệu thần kinh) hiếm khi được nhuộm dương tính trong trường hợp UTBMMPAT dạng
sarcoma. Chính vì vậy, tiêu chí loại trừ UTBMMPAT dạng sarcoma chính là nhuộm âm tính keratin
và calretinin đồng thời âm tính với các chất đánh dấu cơ kể trên.
3.5.6. Chẩn đoán sinh học phân tử

Gần đây các nhà khoa học phát hiện rằng sự phá hủy locus 9p21 trên các gen p14 ARF và gen
p16INK4a gây ra các biến đổi về mặt tế bào học trong UTBMMPAT. Sự phá hủy locus này góp phần
dẫn đến hiện tượng tăng sinh u và làm giảm khả năng sống sót của bệnh nhân sau phẫu thuật.
Phương pháp lai trong ống nghiệm huỳnh quang (FISH) hiện nay được sử dụng để phân tích tình
trạng phá hủy locus 9p21 như là phương pháp hỗ trợ xét nghiệm hóa mô miễn dịch trong việc chẩn
đoán các trường hợp UTBMMPAT có chẩn đoán không rõ ràng. Phân tích tình trạng locus 9p21
bằng phương pháp FISH có thể giúp phân biệt giữa UTBMMPAT và các tăng sinh trung biểu mô
hoạt hóa. Chiosea và cộng sự phát hiện thấy khiếm khuyết gen p16 trên 67% số trường hợp
UTBMMPAT trong khi không phát hiện trường hợp mắc tăng sinh trung biểu mô nào có khiếm
khuyết dạng này. Một nghiên cứu khác sử dụng phương pháp FISh cũng cho thấy khiếm khuyết
locus 9p21 trong 88% số trường hợp UTBMMPAT và không phát hiện khiếm khuyết này ở bất kỳ
ca bệnh mắc u tăng sinh trung biểu mô lành tính. Tuy nhiên cần lưu ý rằng khiếm khuyết locus 9p21
cũng có thể xảy ra ở một số dạng ung thư khác ở người do đó không thể dùng xét nghiệm phát hiện
khiếm khuyết 9p21 trong chẩn đoán phân biệt giữa UTBMMPAT và các loại u không phải trung
biểu mô khác liên quan đến màng thanh dịch.

15

Hình 9. A. Khiếm khuyết locus 9p21 trong UTBMMPAT và B. Không có khiếm khuyết 9p21 trong
bệnh lý tăng sinh trung biểu mô lành tính.
Ngoài khiếm khuyết locus 9p21, các nhà khoa học còn thấy việc mất các locus 4p, 4q, 9p và
thêm vào locus 5p cũng là những đột biến nhiễm sắc thể có thể giúp phân biệt giữa UTBMMPAT
dạng sacroma và các loại ung thư phổi sarcoma và các loại sarcoma màng phổi khác. Trong trường
hợp nhuộm miễn dịch với keratin dương tính thì phương pháp lai gen so sánh có thể giúp phát hiện
các khiếm khuyết kể trên ở bệnh nhân mắc UTBMMPAT so với các trường hợp mắc các thể ung thư
và sarcoma khác.
Trong những năm gần đây, các nhà khoa học đã phát hiện rằng những biến đổi trong việc biểu lộ
gen microARN (miRNA) góp phần vào cơ chế sinh bệnh của hầu hết các loại ung thư ở người. Các
miRNAs là những loại ARN không mã hóa có kích thước nhỏ đóng vai trò quan trọng trong vận
hành gen và sự biểu lộ miRNA làm biệt hóa các loại u với nguồn gốc phát triển khác nhau. Do đó
gần đây các nhà khoa học cũng phân tích đặc điểm của miRNA trong bệnh UTBMMPAT. Pass
chứng minh rằng một loạt các miRNA hoàn toàn khác biệt giữa các trường hợp UTBMMPAT và
các tế bào trung biểu mô bình thường. Guled cũng phát hiện sự biểu lộ bất thường của các miRNAs
trong các mẫu UTBMMPAT so với tế bào trung biểu mô bình thường và xác định được từng loại
miRNAs cho các loại UTBMMPAT khác nhau. Gee và cộng sự phát hiện một nhóm các miRNAs
đều bị suy giảm hoạt động trong các ca bệnh UTBMMPAT so với các trường hợp ung thư biểu mô
phổi. Tuy nhiên để có thể sử dụng các miRNA vào chẩn đoán UTBMMPAT cần có thêm nhiều
nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng với số mẫu lớn hơn so với các nghiên cứu kể trên.