Tải bản đầy đủ
3 Thực trạng sử dụng TBDH và quản lý sử dụng TBDH ở các trường THCS huyện Củ Chi, TPHCM:

3 Thực trạng sử dụng TBDH và quản lý sử dụng TBDH ở các trường THCS huyện Củ Chi, TPHCM:

Tải bản đầy đủ

Header Page 40 of 161.

31

ĐTB HS =3.71>3.26). Trong số đó, vẫn có học sinh cho rằng không cần thiết sử dụng
TBDH trong quá trình dạy và học, tuy nhiên số lượng này rất ít (3/295 học sinh, chiếm
tỉ lệ 1%). Nguyên nhân là do lứa tuổi THCS không tránh khỏi trường hợp một số em
chưa có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của các yếu tố liên quan đến quan đến
hoạt động dạy và học, trong đó có TBDH. Như vậy, có thể nói rằng hầu hết CBQL –
GV – HS đều nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc sử dụng TBDH, phù hợp
với yêu cầu đổi mới phương pháp, hình thức giảng dạy của nền giáo dục hiện nay,
TBDH rất cần được sử dụng trong quá trình giảng dạy của giáo viên nhằm cải thiện
phương pháp, hạn chế thói quen “đọc chép”, giảng giải lý thuyết và không thể thiếu
trong hoạt động học tập của học sinh, giúp các em có hứng thú hơn đối với bài học,
thực hành, thí nghiệm trên cơ sở những kiến thức lý thuyết đã được học.
b. Nhận thức về quản lý sử dụng TBDH.
Hoạt động sử dụng TBDH là một trong số những hoạt động quan trọng diễn ra
trong quá trình giảng dạy nhằm cải thiện, nâng cao chất lượng dạy và học tập; vì vậy
để hoạt động này diễn ra có hiệu quả, đạt được mục đích cần có công tác quản lý sử
dụng TBDH. Chúng tôi tiến hành khảo sát đối tượng CBQL với nội dung khái niệm
QL sử dụng TBDH, kết quả có hơn 90% CBQL được khảo sát nhận thức đúng về khái
niệm.
Ngoài việc hiểu đúng khái niệm QL sử dụng TBDH, Cán bộ quản lý và kể cả
giáo viên cần nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác quản lý sử dụng
TBDH, cần có một đội ngũ giáo viên nghiêm túc, có trách nhiệm và sử dụng TBDH
một cách sáng tạo trong quá trình giảng dạy của mình nhằm mục đích mang lại những
bài học hay được minh họa sinh động, những kiến thức từ thực tế giúp học sinh vừa
được nghe vừa được thấy, được thực hiện. Bên cạnh đó, công tác quản lý TBDH của
CBQL giúp việc sử dụng TBDH diễn ra có kế hoạch, thực hiện đúng mục đích, đạt
hiệu quả cao, khuyến khích và hỗ trợ giáo viên sử dụng TBDH nhằm nâng cao chất
lượng giảng dạy.
Để tìm hiểu về nhận thức của CBQL và GV các trường THCS huyện Củ Chi về
công tác quản lý sử dụng TBDH, bảng khảo sát được thực hiện với câu hỏi: “Thầy/Cô
đánh giá như thế nào về sự cần thiết của công tác “QL sử dụng TBDH?”.

Footer Page 40 of 161.

Header Page 41 of 161.

32

Kết quả thu được:
Bảng 2.7: Thống kê đánh giá của CBQL – GV về tầm quan trọng của việc quản lý
sử dụng TBDH.
Mức độ
Đối tượng

Cán bộ
quản lý

Số liệu

Không
cần thiết
(1)

Bình thường
(2)

Cần thiết
(3)

Rất
cần thiết
(4)

SL

0

0

11

30

Tỉ lệ
(%)

0

0

26.8

73.2

ĐTB

Giáo viên

3.73

SL

0

16

64

17

Tỉ lệ
(%)

0

16.5

66.0

17.5

ĐTB

3.01

Biểu đồ 2.1: Đánh giá của CBQL về

Biểu đồ 2.2: Đánh giá của GV về

tầm quan trọng của QL sử dụng TBDH

tầm quan trọng của QL sử dụng TBDH

Footer Page 41 of 161.

Header Page 42 of 161.

33

Sau khi tiến hành khảo sát nhận thức về tầm quan trọng của việc quản lý sử
dụng TBDH, kết quả ở bảng 2.6 và biểu đồ 2.1, 2.2 cho thấy: CBQL và GV đánh giá ở
mức độ quan trọng từ cần thiết đến rất cần thiết (TB CBQL =3.73>3.26,
TB GV =3.01<3.25), CBQL và GV đều mong muốn thực hiện và phát triển công tác
quản lý sử dụng TBDH nhằm phục vụ tốt cho quá trình sử dụng TBDH đáp ứng nhu
cầu giảng dạy và học tập. Đây là kết quả khả quan, tạo nền tảng cho việc thực hiện
công tác quản lý sử dụng TBDH. Tuy nhiên bên cạnh đó, nhận thức của GV về tầm
quan trọng quản lý sử dụng TBDH chưa cao, được đánh giá ở mức độ “cần thiết”.
Trong tổng số GV được khảo sát, có 16.5% GV cho rằng việc quản lý sử dụng TBDH
là “bình thường”, nghĩa là công tác này không ảnh hưởng đến hoạt động sử dụng
TBDH và giảng dạy, có thể có hoặc không có công tác quản lý sử dụng TBDH. Việc
nhận thức chưa sâu sắc của GV về sự cần thiết của công tác quản lý sử dụng TBDH
tạo ra một số khó khăn trong quá trình quản lý. Bởi vì chỉ có nhận thức đúng đắn về
tầm quan trọng của công tác quản lý sử dụng TBDH thì tập thể GV mới nhận thấy
được sự cần thiết của công tác này, nhận thức được những lợi ích từ hoạt động quản lý
mang lại cho việc sử dụng TBDH của GV và kể cả của học sinh; từ đó có sự hợp tác,
tinh thần trách nhiệm, chủ động trong việc sử dụng TBDH tạo điều kiện cho việc quản
lý sử dụng TBDH diễn ra thuận lợi.
Tóm lại, công tác quản lý sử dụng TBDH ở các trường THCS huyện Củ Chi đã
có được thuận lợi từ nhận thức đúng đắn của hầu hết CBQL về tầm quan trọng của
hoạt động quản lý này. Tuy nhiên song song với vấn đề đó là khó khăn đặt ra trong
việc nâng cao nhận thức cho GV về hoạt động quản lý sử dụng TBDH, giúp GV chủ
động, có trách nhiệm và tích cực hơn khi sử dụng TBDH.
2.3.2 Tần suất sử dụng:
Nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc sử dụng TBDH cần phải đi đôi
với hành động. Việc sử dụng TBDH thường xuyên giúp nâng cao chất lượng, góp
phần đổi mới phương pháp dạy học. Nhằm tìm hiểu về thực trạng sử dụng TBDH ở
trường THCS, bảng khảo sát được thực hiện với 2 nhóm đối tượng: CBQL và GV;
ngoài ra, để đảm bảo tính khách quan trong việc đánh giá tần suất sử dụng TBDH của

Footer Page 42 of 161.

Header Page 43 of 161.

34

giáo viên tại trường, câu hỏi về tần suất sử dụng TBDH được thực hiện với đối tượng
là học sinh. Kết quả khảo sát như sau:
Bảng 2.8: Thống kê nhận xét về tần suất sử dụng TBDH
Đối tượng
Tần suất

CBQL
SL

%

Thường xuyên

12

29.3

Thỉnh thoảng

29

70.7

Hiếm khi

0

0

Không sử dụng

0

0

GV
ĐTB

3.29

SL

%

27

27.8

70

72.2

0

0

0

0

HS
ĐTB

3.28

SL

%

106

35.9

174

59.0

15

5.1

0

0

ĐTB

3.31

Số liệu khảo sát bảng 2.8 cho thấy, không có ý kiến nào cho rằng TBDH ở các
trường THCS không được sử dụng. Nhìn chung, dựa theo ĐTB kết quả khảo sát, tần
suất sử dụng TBDH được đánh giá ở mức độ khá thường xuyên (3.26<ĐTB CBQL
=3.29, ĐTB GV =3.28, ĐTB HS =3.31<4). Tuy nhiên, đánh giá về tần suất sử dụng TBDH
có điểm trung bình còn thấp và các nhận xét cho rằng TBDH sử dụng ở mức độ “thỉnh
thoảng” khá nhiều (CBQL: 70.7%, GV: 72.2%, HS: 59%); có 15/295 học sinh (chiếm
5.1%) nhận xét rằng TBDH hiếm khi được sử dụng. Có thể thấy, tần suất sử dụng
TBDH ở các trường THCS huyện Củ Chi chưa cao nhưng đã được cải thiện đáng kể
sau khi các trường trên địa bàn huyện được xây dựng mới, trang bị đầy đủ hơn về cơ
sở vật chất nói chung, TBDH nói riêng phục vụ hoạt động giảng dạy và học tập, tình
trạng TBDH được trang bị nhưng không được thường xuyên sử dụng trong những năm
trước đây đã dần được khắc phục.
Nhằm tìm hiểu cụ thể hơn về tần suất sử dụng TBDH của giáo viên trong các
tiết dạy khác nhau, chúng tôi tiến hành khảo sát với câu hỏi có nội dung “Thầy/Cô
thường sử dụng TBDH cho những tiết dạy nào?”.

Footer Page 43 of 161.

Header Page 44 of 161.

35

Kết quả khảo sát như sau:
Bảng 2.9: Thống kê tần suất sử dụng TBDH trong các tiết dạy
Đối tượng
Tiết dạy

GV

HS

SL

Tỉ lệ %

SL

Tỉ lệ %

Chuyên đề, thao giảng

93

95.9

276

93.6

Dự giờ

90

92.8

270

91.5

Thực hành, thí nghiệm

95

97.5

295

100

Tiết dạy bình thường

31

32

99

33.6

120

100

80

60

Giáo viên
Học sinh

40

20

0

Chuyên đề,
thao giảng

Dự giờ

Thực hành,
Tiết dạy
thí nghiệm bình thường

Biểu đồ 2.1: Đánh giá của GV và HS về tần suất sử dụng TBDH
trong các tiết dạy

Footer Page 44 of 161.

Header Page 45 of 161.

36

Kết quả khảo sát thể hiện ở bảng 2.9 và biểu đồ 2.3 cho thấy, có sự đồng bộ
trong ý kiến đánh giá của GV và HS về tần suất sử dụng TBDH trong các tiết dạy.
Trong đó, có sự chênh lệch rõ rệt về tần suất sử dụng TBDH trong những tiết chuyên
đề, thao giảng, dự giờ và các tiết thực hành thí nghiệm với các tiết dạy bình thường.
TBDH thường được sử dụng trong các tiết chuyên đề, thao giảng, dự giờ và các tiết
thực hành thí nghiệm với ý kiến đánh giá đều trên 90%, TBDH được sử dụng trong
các tiết dạy bình thường được đánh giá với tỉ lệ thấp ở cả 2 đối tượng (GV: 32%, HS:
33.6%). Kết quả này giải thích cho kết quả khảo sát ở bảng 2.8 với nhiều ý kiến cho
rằng TBDH thỉnh thoảng được sử dụng bởi vì TBDH chỉ được tập trung sử dụng vào
những tiết dạy có nhiều thời gian chuẩn bị và có sự kiểm tra, đánh giá của CBQL,
TBDH không thường được sử dụng cho những tiết lên lớp hằng ngày.
2.3.3 Hiệu quả sử dụng:
Sử dụng TBDH là điều kiện thiết yếu để tiến hành các tiết học thực hành, thí
nghiệm, là yếu tố quan trọng trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học, áp dụng
các phương pháp dạy học hiện đại. Kết quả khảo sát về tần suất sử dụng TBDH rất khả
quan là một dấu hiệu tốt cho bước đầu của việc cải thiện chất lượng giáo dục. Tuy
nhiên, mục đích cuối cùng của việc sử dụng TBDH là đạt được hiệu quả tích cực, phát
huy được vai trò của TBDH trong quá trình dạy và học. Vì vậy, để tìm hiểu hiệu quả
sử dụng TBDH một cách khách quan nhất, chúng tôi tiến hành khảo sát đánh giá về
hiệu quả sử dụng TBDH của HS với các nội dung:
a. Nhận xét của học sinh về tiết học có sử dụng TBDH;
b. Thái độ của lớp đối với tiết học có sử dụng TBDH;

Footer Page 45 of 161.

Header Page 46 of 161.

37

Sau khi tiến hành khảo sát các nội dung trên, chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 2.10: Nhận xét, thái độ của HS về tiết học sử dụng TBDH và đánh giá sự
chuẩn bị của GV cho tiết học có sử dụng TBDH
Nhận xét

Tỉ lệ %

SL

Nội dung: Nhận xét của học sinh về tiết học có sử dụng TBDH
Không chú ý

3

1

Bình thường

16

5.4

Hấp dẫn

172

58.3

Rất hấp dẫn

104

35.3

Nội dung: Thái độ của lớp đối với tiết học có sử dụng TBDH
Không thích

2

0.7

Bình thường

12

4.1

Thích

155

52.5

Rất thích

126

42.7

Các tiết học có sử dụng TBDH đã tạo được hiệu ứng khá tích cực đối với HS.
Đa số HS đánh giá những tiết học có sử dụng TBDH ở 2 mức độ: hấp dẫn (58.3%), rất
hấp dẫn (35.3%) và thích những tiết học này (52.5%).
Để làm rõ hơn về hiệu quả sử dụng TBDH trong những tiết học khác nhau,
chúng tôi tiến hành khảo sát nhóm đối tượng CBQL về nội dung này.
Bảng 2.11: Đánh giá hiệu quả sử dụng TBDH trong các tiết dạy
Tiết dạy

STT

ĐTB

ĐLC

1

Thao giảng, chuyên đề

3.63

0.488

2

Dự giờ

3.78

0.419

3

Thực hành, thí nghiệm

2.98

0.570

4

Tiết dạy bình thường

2.8

0.641

Kết quả trên thể hiện hiệu quả sử dụng TBDH trong các loại tiết dạy khác nhau
chưa đồng bộ. Những tiết dạy GV có nhiều thời gian chuẩn bị và được quan sát, kiểm
tra có hiệu quả cao hơn, được đánh giá ở mức độ tốt, những tiết học bình thường diễn

Footer Page 46 of 161.

Header Page 47 of 161.

38

ra tại lớp và những tiết thực hành thí nghiệm theo chương trình có hiệu quả sử dụng
TBDH chỉ được đánh giá ở mức độ khá. Có thể thấy rằng những tiết học có sử dụng
TBDH đòi hỏi có thời gian chuẩn bị chu đáo và sự kiểm tra, đánh giá thì hiệu quả sẽ
cao hơn. Đa số GV chưa tự giác trong việc nỗ lực nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH
trong các tiết học hằng ngày tại lớp, bên cạnh đó một số khó khăn như không có nhiều
thời gian chuẩn bị, không đủ thời gian tiến hành sử dụng trong quỹ thời gian của tiết
học, điều kiện TBDH còn hạn chế… cũng ảnh hưởng đến hiệu quả tiết học.
Độ lệch tiêu chuẩn không đáng kể cho thấy sự khác biệt trong lựa chọn giữa các
GV là không nhiều.
Ngoài ra, hoạt động tự làm TBDH của GV cũng được thực hiện khá hình thức,
đa số GV chỉ làm TBDH vào đầu năm học khi nhà trường phát động, tần suất tự làm
TBDH qua kết quả khảo sát CBQL và GV chỉ ở mức thỉnh thoảng (ĐTB CBQL =2.71,
ĐTB GV =2.98). Kết quả này cho thấy GV chưa chủ động trong việc tự làm TBDH, chỉ
hưởng ứng theo phong trào của nhà trường.
Việc sử dụng TBDH có tác động lớn đến học tập của HS, cải tạo không khí lớp
học sinh động và hấp dẫn hơn. Qua khảo sát HS về tác dụng của việc sử dụng TBDH
đối với hoạt động học tập của bản thân. Kết quả khảo sát như sau:
Bảng 2.12: Đánh giá của HS về tác dụng của tiết học có sử dụng TBDH
đối với việc học tập của bản thân.
Nội dung

STT

Tỉ lệ %

1

Giúp hiểu bài, nắm vững kiến thức.

66.4%

2

Tạo hứng thú đối với tiết học, môn học

68.5%

3

Rèn luyện, nâng cao kỹ năng thực hành, thí nghiệm.

62.7%

4

Giúp chú ý, tập trung hơn vào bài học, hiểu bài ngay tại lớp.

76.3%

5

Ý kiến khác

0

Kết quả khảo sát cho thấy, tác dụng được nhiều học sinh đồng ý tán thành nhất
là “Giúp chú ý, tập trung hơn vào bài học, hiểu bài ngay tại lớp” (76.3%) và tiếp theo
đó là giúp các em có hứng thú hơn đối với tiết học và kể cả môn học đó (68.5%).

Footer Page 47 of 161.

Header Page 48 of 161.

39

Ngoài ra, việc tìm hiểu tác dụng của việc sử dụng TBDH trong quá trình dạy và học
cũng được khảo sát với đối tượng GV. Ý kiến được nhiều GV đồng ý tán thành nhất là
“Giúp tiết học trở nên sinh động, hấp dẫn hơn” (94.8%).
Khảo sát GV về biểu hiện thái độ của HS khi tham gia các tiết học có sử dụng
TBDH. Kết quả thu được có những biểu hiện tích cực lẫn hạn chế trong thái độ của
HS. Biểu hiện tích cực của HS được GV đánh giá nhiều nhất là HS chăm chú lắng
nghe, theo dõi (75.3%); các biểu hiện khác như hăng hái thảo luận phát biểu, thường
xuyên đặt câu hỏi xây dựng bài, tiếp thu bài nhanh… chưa được HS thể hiện nhiều khi
tham gia những tiết học này. Song song đó là biểu hiện tiêu cực: Không tập trung,
nghịch phá TBDH, chỉ tập trung vào những nội dung có sử dụng TBDH, chưa chủ
động tích cực phối hợp cùng GV xây dựng bài. Trong số đó, sự hạn chế mà GV đánh
giá thường thấy ở HS là chưa tích cực, chủ động phối hợp cùng GV xây dựng bài
(74.3%).
Có thể thấy rằng, việc sử dụng TBDH đã tạo được hiệu ứng tích cực trong việc
cải thiện thái độ của học sinh đối với tiết học. Tuy nhiên hiệu quả sử dụng chưa cao,
chỉ ở mức độ giúp HS chăm chú lắng nghe, theo dõi, GV chưa tạo cho HS sự chủ
động, hăng hái phối hợp xây dựng bài, chưa phát huy tốt tác dụng giúp tiết học sinh
động, hấp dẫn hơn của TBDH như GV đã đánh giá ở trên.
Qua những kết quả khảo sát đó cho thấy, có thể khẳng định một lần nữa tầm
quan trọng của việc sử dụng TBDH đối với việc giảng dạy và học tập. Vì vậy, sử dụng
TBDH cần phải tuân theo những yêu cầu nhất định trong quá trình sử dụng để có thể
khai thác tối đa những lợi ích của TBDH, tránh gặp phải trường hợp phản tác dụng khi
sử dụng. Bảng 2.13 trình bày thứ hạng các yêu cầu khi sử dụng TBDH dựa trên sự
đánh giá của GV về mức độ quan trọng của các yêu cầu này; song song với vấn đề đó
là mức độ đáp ứng những yêu cầu này của bản thân GV khi họ sử dụng TBDH. Từ đó
so sánh sự tương quan giữa việc đánh giá mức độ quan trọng của các yêu cầu khi sử
dụng TBDH và việc GV có đáp ứng tốt những yêu cầu đó hay không.

Footer Page 48 of 161.

Header Page 49 of 161.

40

Bảng 2.13: Thứ hạng các yêu cầu khi sử dụng TBDH và mức độ
đáp ứng những yêu cầu này của GV
Nội dung

STT

1

2

Sử dụng đúng lúc, đúng
chỗ
Phù hợp với tâm sinh lí
của học sinh
Sử

3

Thứ hạng

dụng

trong

Mức độ

Mức độ

quan trọng

đáp ứng

ĐTB

ĐLC

ĐTB

ĐLC

3

3.62

0.529

3.58

0.556

1

3.79

0.407

3.85

0.363

4

3.62

0.509

2

3.70

0.460

3.08

0.607

6

3.02

0.645

3.01

0.621

5

3.54

0.501

3.63

0.565

một

khoảng thời gian nhất
định, hợp lý.

4

Có sự chuẩn bị chu đáo
trước khi sử dụng.

3
.33

0.641

Xây dựng kế hoạch sử
5

dụng cụ thể để quá trình
sử dụng có khoa học, đạt
hiệu quả.
Đảm bảo các yêu cầu

6

như tính sư phạm, tính
chính xác, tính thẩm mỹ
và tính kinh tế.

Kết quả cho thấy, đa số GV có nhận thức tốt về các yêu cầu cần phải thực hiện
khi sử dụng TBDH. Bảng khảo sát liệt kê 6 yêu cầu thì có 5 yêu cầu được đánh giá là
rất cần thiết (3.26<ĐTB<4), còn lại 1 yêu cầu được giáo viên đánh giá ở mức độ cần
thiết đó là “Xây dựng kế hoạch sử dụng cụ thể để quá trình sử dụng có khoa học, đạt
hiệu quả” và mức độ đáp ứng yêu cầu này chỉ đạt ở mức khá (ĐTB=3.01). Bên cạnh
đó, yêu cầu được giáo viên đánh giá cao, xếp thứ 2 trong thang thứ hạng là “Có sự
chuẩn bị chu đáo trước khi sử dụng” chỉ được thực hiện ở mức độ khá
(2.51<ĐTB=3.08<3.25); điều này cho thấy chưa có sự tương quan giữa nhận thức và

Footer Page 49 of 161.

Header Page 50 of 161.

41

hành động của giáo viên trong việc sử dụng TBDH. Thực tế cho thấy, lập kế hoạch và
chuẩn bị chu đáo trước khi sử dụng TBDH giúp GV chủ động trong việc sử dụng
TBDH, quản lý tốt được thời gian của tiết học đó, sử dụng TBDH có mục đích rõ ràng
mang lại hiệu quả dạy học cao, ngoài ra còn giúp cho CBQL có cơ sở và thời gian để
chuẩn bị, hỗ trợ tốt khi GV sử dụng TBDH. Qua kết quả khảo sát, việc nhận thức chưa
cao về việc lập kế hoạch sử dụng TBDH và sự chuẩn bị trước khi sử dụng TBDH chưa
được thực hiện tốt sẽ dẫn đến kết quả đối với hiệu quả sử dụng TBDH của GV, ảnh
hưởng đến chất lượng tiết học, không phát huy được vai trò quan trọng của TBDH.
Thiết bị dạy học được sử dụng trong các tiết học với hình thức khác nhau nhưng
đều hướng đến một mục đích chung là phục vụ hoạt động dạy và học. Chúng tôi đã
tiến hành khảo sát GV và HS về các hình thức sử dụng TBDH mà GV thường thực
hiện khi có sử dụng TBDH trong các tiết dạy. Các hình thức được liệt kê như sau:
1/ Giảng bài mới, minh họa nội dung bài học;
2/ Luyện tập, củng cố nội dung bài học;
3/ Hướng dẫn học sinh thực hành, thí nghiệm;
4/ Kiểm tra bài cũ;
5/ Ý kiến khác.
Sau khi tiến hành khảo sát, hình thức sử dụng TBDH được cho rằng thường
được thực hiện nhất là “Giảng bài mới, minh họa nội dung bài học” (GV: 91.8%, HS:
94.2%) và tiếp theo là “Hướng dẫn học sinh thực hành, thí nghiệm” (GV: 83.5%, HS:
97.9%), những hình thức còn lại chiếm không đến 40%. Từ đó cho thấy,các hình thức
sử dụng TBDH chưa được đa dạng hóa. Việc sử dụng TBDH với mục đích luyện tập,
củng cố bài học hoặc kiểm tra bài cũ có tác dụng giúp các em học sinh hứng thú hơn,
ngoài ra có thể kiểm tra sự hiểu bài, nhớ bài sâu sắc của HS thay vì chỉ sử dụng TBDH
để giới thiệu những nội dung mới.
Nhằm tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng TBDH, chúng tôi
tiến hành khảo sát các nội dung: tình hình cất giữ, bảo quản TBDH, những khó khăn
GV gặp phải khi sử dụng TBDH. Kết quả khảo sát được trình bày sau đây:

Footer Page 50 of 161.