Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG THIẾT BỊ DẠY HỌC

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG THIẾT BỊ DẠY HỌC

Tải bản đầy đủ

Header Page 15 of 161.

6

thực trạng và đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH ở
trường THPT tỉnh Quảng Ngãi.[10]
Tác giả Kiều Thị Thùy Trang với đề tài “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả
quản lý thiết bị dạy học ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn quận 11, thành phố
Hồ Chí Minh” đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý
thiết bị dạy học trên cơ sở phân tích, nghiên cứu những lý luận cơ bản và đánh giá việc
quản lý TBDH ở các trường THCS trong quận 11, TPHCM.[19]
Tác giả Lê Thanh Giang đã chọn đề tài tìm hiểu về thực trạng và đề xuất các
giải pháp quản lý việc sử dụng TBDH của GV trường THPT tỉnh Cà Mau làm đề tài
luận văn Thạc sĩ. Đề tài đã cung cấp cơ sở lý luận cụ thể về TBDH và công tác quản lý
sử dụng TBDH, các nội dung khảo sát thực trạng quản lý sử dụng TBDH; từ đó, đề
xuất các biện pháp phù hợp nhằm cải thiện công tác quản lý sử dụng TBDH.[6]
Tác giả Đặng Phúc Tịnh đã chọn nghiên cứu về thiết bị dạy học cho luận văn
Thạc sĩ của mình. Nội dung của luận văn dựa là kết quả nghiên cứu lý luận của tác giả
về quản lý TBDH và khảo sát thực trạng quản lý TBDH ở các trường THCS huyện
Phong Điền, Thành phố Cần Thơ. Từ đó, đề xuất một số biện pháp quản lý TBDH,
khai thác tối đa hiệu quả sử dụng TBDH nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và
học của các trường THSC tại địa phương. [18]
Tác giả Phan Thượng Tòng, Phó Hiệu Trường trường THPT Buôn Ma Thuột đã
chọn tìm hiểu vấn đề về một số nguyên tắc và giải pháp quản lý CSVC và TBDH làm
đề tài sáng kiến kinh nghiệm. Nội dung của đề tài là làm rõ thực trạng việc quản lý
CSVC, khai thác và sử dụng TBDH kém hiệu quả ở trường THPT Buôn Ma Thuột;
làm rõ nguyên nhân tồn tại, đề ra một số nguyên tắc và giải pháp trong công tác quản
lý nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng CSVC và TBDH trong trường THPT.
Những công trình nghiên cứu của các tác giả đã xây dựng được một hệ thống lý
luận chặt chẽ, đầy đủ về vị trí, vai trò, các yêu cầu khi sử dụng TBDH hiệu quả cũng
như các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng.

Footer Page 15 of 161.

Header Page 16 of 161.

7

Huyện Củ Chi là một trong những huyện nông thôn mới đầu tiên của Thành
phố Hồ Chí Minh đang trong giai đoạn nỗ lực không ngừng để duy trì thành quả đạt
được và phát triển hơn nữa nhằm nâng cao đời sống cho người dân.
Tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội được cải thiện tất yếu dẫn đến sự đầu tư cho
giáo dục nhằm phát triển hơn nữa giáo dục địa phương, mang đến cho thế hệ trẻ một
điều kiện học tập tốt hơn. Trong đó, việc đầu tư kinh phí cho cơ sở vật chất nói chung
và TBDH nói riêng được chú trọng. Tuy nhiên, vẫn còn rất hạn chế trong vấn đề tìm
hiểu và đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hoạt động quản lý TBDH mà
quan trọng hơn hết là hoạt động quản lý sử dụng TBDH – hoạt động có ảnh hưởng
trực tiếp đến việc phát huy được vai trò của TBDH để phục vụ cho hoạt động dạy và
học.
Dựa trên những lý luận đã được đúc kết từ những công trình nghiên cứu đã
được thực hiện, đề tài khóa luận tốt nghiệp này với mong muốn tìm hiểu cụ thể hơn về
khía cạnh quản lý sử dụng TBDH trong toàn bộ hoạt động quản lý TBDH ở các trường
THCS huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
1.2 Các khái niệm liên quan đến đề tài
1.2.1 Quản lý
Ngày nay, trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, khi con người thực hiện
các hoạt động đều cần đến quản lý. Quản lý không chỉ thu hẹp trong phạm vi cá nhân,
tổ chức mà hầu như không giới hạn phạm vi; có thể nói rằng nơi nào có hoạt động thì
nơi đó có quản lý. Chính vì vậy mà thuật ngữ “Quản lý” được đề cập rất nhiều trong
các lĩnh vực và trong đời sống hằng ngày. Như bất kì khái niệm nào, có rất nhiều định
nghĩa về thuật ngữ “quản lý”.
Giải thích thuật ngữ theo gốc Hán, “Quản” là từ chỉ hoạt động trong coi, điều
khiển để duy trì trạng thái ổn định và phát triển của đối tượng quản lý; “Lý” là sửa
sang, đổi mới, tạo điều kiện phát triển. Vậy có thể hiểu “Quản lý” theo cách giải thích
này là quá trình điều khiển để duy trì trạng thái ổn định của hoạt động và hướng hoạt
động đó đến sự phát triển.
Theo F.W Taylor (1856 – 1915) là một trong những người đầu tiên khai sinh ra
khoa học quản lý; với cách tiếp cận quản lý dưới góc độ kinh tế - kỹ thuật đã cho rằng:

Footer Page 16 of 161.

Header Page 17 of 161.

8

Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết được một
cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.
Theo James Stoner cho rằng quản lý là “quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh
đạo và kiểm tra công việc của các thành viên trong tổ chức và sử dụng mọi nguồn lực
sẵn có của tổ chức để đạt những mục tiêu của tổ chức”.
Tác giả Trần Kiểm định nghĩa: “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể
người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong suốt quá trình lao động”. [13]
Hiện nay, đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất khái niệm như sau: Quản lý
là quá trình tác động có chủ định, hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản
lý nhằm tạo ra các hoạt động hướng tới đạt mục đích chung của tổ chức dưới sự tác
động của môi trường.
Từ các định nghĩa trên về quản lý, ta có thể đưa ra kết luận chung về thuật ngữ
“Quản lý”, đó là “Quá trình tác động có ý thức, hướng đích của chủ thể quản lý lên
đối tượng và khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu với hiệu quả cao nhất”.
1.2.2

Quản lý giáo dục

Giáo dục cũng giống như bất cứ hoạt động có ý thức nào khác của con người,
muốn hoạt động có hiệu quả cao đòi hỏi có sự tác động của quản lý để hoạt động giáo
dục hướng đến mục đích giáo dục đã được đặt ra và đó cũng là cơ sở để hình thành
nên thuật ngữ “Quản lý giáo dục”.
Theo tác giả Trần Kiểm, thuật ngữ “Quản lý giáo dục” được chia thành hai cấp
độ chủ yếu: cấp vĩ mô và cấp vi mô.
Đối với cấp vĩ mô: Quản lý giáo dục được hiểu là hoạt động tự giác của chủ thể
quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát… một cách có hiệu
quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển
giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Đối với cấp vi mô: Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự
giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp qui luật) của chủ thể quản
lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực
lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả
mục tiêu giáo dục của nhà trường.

Footer Page 17 of 161.

Header Page 18 of 161.

9

Quản lý giáo dục (vi mô) cũng có thể được định nghĩa là những tác động của
chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học
sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển
toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường.
Từ các khái niệm trên, có thể định nghĩa khái niệm “Quản lý giáo dục” như sau:
“Quản lý giáo dục là một dạng của quản lý xã hội, trong đó diễn ra các tác động có ý
thức của chủ thể quản lý lên đối tượng giáo dục và khách thể quản lý giáo dục nhằm
đưa hoạt động giáo dục đạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra một cách hiệu quả nhất”.
1.2.3 Quản lý trường học
Trường học chiếm một phần vô cùng quan trọng trong hệ thống giáo dục. Hầu
hết các hoạt động giáo dục đều được diễn ra trong nhà trường từ bậc mầm non, phổ
thông cho đến đại học và sau đại học. Chính vì vậy, khi đề cập đến quản lý giáo dục
đều đi kèm với quan niệm về quản lý trường học. Quản lý trường học có thể xem là
quản lý giáo dục trong phạm vi nhà trường, quản lý giáo dục ở cấp độ vi mô.
Theo Phó giáo sư Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý trường học là thực hiện
đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà
trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào
tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”. [13, tr11]
Theo giáo sư Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục là tổ chức
hoạt động dạy học… Có tổ chức được hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất
của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa mới quản lý được giáo dục, tức
là cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp
ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nước”. [13, tr12]
Quản lý nhà trường được thực hiện dựa trên những nguyên tắc chung của quản
lý, đồng thời mang những nét đặc thù của giáo dục. Có thể nói quản lý nhà trường thực
chất là quản lý con người và các hoạt động mà họ thực hiện nhằm đạt được mục tiêu
giáo dục của nhà trường: bao gồm hoạt động dạy của giáo viên, hoạt động học của học
sinh và các hoạt động khác phục vụ cho việc dạy và học trong nhà trường.
Từ những quan điểm về khái niệm quản lý nhà trường nói trên, có thể định
nghĩa rằng: “Quản lý nhà trường là quản lý toàn diện các hoạt động và nhân lực của

Footer Page 18 of 161.

Header Page 19 of 161.

10

nhà trường, trong đó trọng tâm là hoạt động dạy và hoạt động học nhằm đạt được
chất lượng giáo dục cao nhất, thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường”.
1.2.4 Thiết bị dạy học
Cơ sở vật chất nói chung và thiết bị dạy học nói riêng là một trong những thành
tố cơ bản của quá trình dạy học. Nếu không có thành tố cơ bản này hoạt động dạy học
không thể diễn ra một cách thuận lợi và đạt được hiệu quả cao.
Cơ sở vật chất trường học là tất cả phương tiện vật chất được huy động vào việc
giảng dạy, học tập và các hoạt động mang tính chất giáo dục khác nhằm đạt được mục
đích giáo dục. Cơ sở vật chất trường học bao gồm:
- Trường sở;
- Thiết bị dạy học;
- Thư viện.
Trong đó, thiết bị dạy học chính là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến nội dung
và việc đổi mới phương pháp dạy học, là công cụ mà giáo viên trực tiếp sử dụng để
thực hiện hoạt động dạy của mình, thông qua đó, giúp học sinh lĩnh hội kiến thức, rèn
luyện kỹ năng, hoàn thiện nhân cách trong suốt quá trình học.
Thiết bị dạy học có nhiều tên gọi khác nhau như: phương tiện dạy học, thiết bị
giáo dục, đồ dùng dạy học… Mặc dù có sự khác nhau trong cách dùng từ để gọi tên
nhưng nhìn chung đều cùng đề cập đến một đối tượng có vị trí, vai trò nhất định và vô
cùng quan trọng trong hoạt động dạy học và giáo dục của nhà trường. Như vậy, với
nhiều tên gọi khác nhau thì “thiết bị dạy học” được định nghĩa như thế nào?
Thiết bị giáo dục bao gồm thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập ở tại lớp, thiết
bị phòng thí nghiệm, thiết bị thể dục thể thao, thiết bị nhạc – họa và các thiết bị khác
trong xưởng trường, vườn trường, phòng truyền thống. Nhằm đảm bảo cho việc nâng
cao chất lượng dạy và học, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện. [15, tr66]
Tác giả Bùi Minh Hiền đề cập đến khái niệm về thiết bị dạy học như sau:
“Trong công tác dạy học, thầy và trò ngoài chương trình sách giáo khoa, trường
lớp…thường phải sử dụng đến phương tiện được gọi là học cụ, đồ dùng dạy học, thiết
bị giáo dục, thiết bị dạy học. Thiết bị dạy học có thể coi như thuật ngữ đại diện cho các
cách gọi khác nhau nêu ra trên đây. Nó là một bộ phận cơ sở vật chất trường học trực

Footer Page 19 of 161.

Header Page 20 of 161.

11

tiếp có mặt trong các giờ học được thầy và trò cùng sử dụng. Thuật ngữ này có tên
tiếng Anh tương ứng: Equypment for Teaching”.[8, tr285]
Thiết bị dạy và học là toàn bộ sự vật, hiện tượng tham gia vào quá trình dạy
học, đóng vai trò là công cụ hay điều kiện để GV và HS sử dụng làm khâu trung gian
tác động vào đối tượng dạy học.
Từ các quan điểm trên, chúng ta có thể thống nhất về định nghĩa như sau:
“Thiết bị dạy học là một bộ phận của cơ sở vật chất trường học, bao gồm
những đối tượng vật chất được thiết kế sư phạm mà giáo viên sử dụng để điều khiển
hoạt động nhận thức của học sinh; đồng thời là nguồn thi thức, là phương tiện giúp
học sinh lĩnh hội tri thứ, hình thành kĩ năng đảm bảo cho việc thực hiện mục tiêu dạy
học.”
1.2.5 Quản lý sử dụng thiết bị dạy học
Khái niệm thiết bị dạy học đã thể hiện một phần vai trò của nó đối với quá trình
dạy học và giáo dục học sinh. Vì vậy, sử dụng TBDH đòi hỏi có sự quản lý để hoạt
động này diễn ra đúng mục đích, tạo điều kiện cho TBDH phát huy vai trò quan trọng
vốn có của nó nhằm đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy và học.
Từ các khái niệm đã tìm hiểu ở trên, có thể phát biểu khái niệm như sau: “Quản
lý sử dụng thiết bị dạy học là quá trình tác động có mục đích của cán bộ quản lý lên
quá trình sử dụng hệ thống TBDH nhằm sử dụng có hiệu quả TBDH, đáp ứng mục tiêu
dạy học và giáo dục, phát huy tốt vai trò của TBDH trong hoạt động dạy và học.”
1.3 Một số lý luận về thiết bị dạy học
1.3.1 Phân loại thiết bị dạy học
Thiết bị dạy học được phân loại nhằm mục đích thuận tiện cho công tác quản lý và
sử dụng. Việc phân loại thiết bị dạy học dựa trên nhiều căn cứ như: theo cách sử dụng,
vai trò…
Một số cách phân loại thiết bị dạy học:
a. Căn cứ vào thời gian xuất hiện:
- Thiết bị dạy và học truyền thống, là những phương tiện đã được dùng từ xưa
tới nay trong dạy học; ví dụ bảng viết, tranh vẽ, mô hình…

Footer Page 20 of 161.

Header Page 21 of 161.

12

- Thiết bị dạy và học hiện đại, là những thiết bị dạy và học mới được đưa vào
nhà trường; ví dụ các sản phẩm công nghệ điện tử viễn thông như camera số, máy
chiếu đa phương tiện…
b. Căn cứ theo cách sử dụng:
Theo tác giả Tô Xuân Giáp, căn cứ theo cách sử dụng mà TBDH được chia làm
2 nhóm: Phương tiện dùng trực tiếp để dạy học và phương tiện dùng để chuẩn bị và
điều khiển lớp học
• Phương tiện dùng trực tiếp để dạy học được chia thành hai nhóm nhỏ:
-

Các phương tiện truyền thống là các phương tiện đã được sử dụng từ lâu đời và

ngày nay từng lúc, từng nơi vẫn còn được sử dụng;
-

Các phương tiện nghe nhìn được hình thành do sự phát triển của các ngành

khoa học kỹ thuật đặc biệt là ngành điện tử. Do có hiệu quả cao trong truyền thông dạy
học nên phương tiện nghe nhìn được sử dụng ngày càng nhiều trong quá trình dạy học.
• Phương tiện dùng để chuẩn bị và điều khiển lớp học:
Nhóm này gồm có các phương tiện hỗ trợ, phương tiện ghi chép và các phương
tiện khác.
-

Phương tiện hỗ trợ: các loại bảng viết, các giá cố định và lưu động để đặt các

phương tiện trình diễn, thiết bị thay đổi cường độ ánh sáng trong lớp... nhằm giúp cho
giáo viên sử dụng các phương tiện dạy học được dễ dàng, có hiệu quả cao và không
làm gián đoạn quá trình giảng dạy của giáo viên.
-

Phương tiện ghi chép: các phương tiện giúp cho việc chuẩn bị bài giảng, lưu trữ

số liệu và kiểm tra kết quả học tập của học sinh được nhanh chóng và dễ dàng.
Ngày nay, máy vi tính đã được sử dụng nhiều trong các trường học và được coi
như một phương tiện có thể dùng để trực tiếp dạy học, vừa có thể được dùng cho việc
kiểm tra, lưu trữ tài liệu và chuẩn bị bài giảng.
Ngoài ra, TBDH còn được phân chia theo một số cách thường gặp như sau:
a) Theo đặc tính tác động đến các giác quan
-

Các phương tiện nghe;

-

Các phương tiện nhìn;

-

Các phương tiện nghe – nhìn.

Footer Page 21 of 161.

Header Page 22 of 161.

13

b) Theo thành phần người học
-

Các phương tiện dành cho cá nhân;

-

Các phương tiện dành cho nhóm học tập;

-

Các phương tiện dành cho tập thể lớp.

c) Về phía giáo viên thì phân loại theo dạng sản phẩm là phổ biến nhất:
-

Tranh, ảnh, bản đồ: loại hình được sử dụng nhiều nhất dùng để minh họa một

sự vật, một hiện tượng ở nhiều môn học;
-

Băng ghi âm, băng ghi hình: có tính năng tái hiện hiện thực thông qua âm

thanh, hình ảnh và có tác động mạnh đến xúc cảm và nhận thức của học sinh;
-

Tấm nhựa trong, phim miếng: giúp nghiên cứu sự vật, hiện tượng dưới dạng

tính trong một thời gian trình bày tùy ý;
-

Mẫu vật (vật thật): là phương tiện giúp nghiên cứu nguồn gốc tự nhiê, loại này

hết sức đa dạng và phong phú;
-

Mô hình: mô phỏng lại sự vật, một quy trình, cho phép nghiên cứu cấu tạo, hoạt

động của những đối tượng dựa trên phương pháp tương tự;
-

Phần mềm vi tính: là công nghệ thông tin đa phương tiện có tính năng lưu trữ,

hiển thị được kết hợp bởi các văn bản truyền thống, các hình ảnh, các âm thanh hoặc
các đoạn phim minh họa;
-

Máy móc, hóa chất và dụng cụ thí nghiệm: là phương tiện đặc trưng cho các

môn khoa học thực nghiệm như vật lý, hóa học, sinh học, kỹ thuật công nghiệp.
1.3.2 Vị trí và vai trò của thiết bị dạy học
Thiết bị dạy học là một trong những điều kiện vật chất của nhà trường, là một
thành tố không thể thiếu trong hoạt động dạy học và giáo dục. Vị trí cụ thể của TBDH
– phương tiện GD được thể hiện cụ thể trong sơ đồ 1.1 như sau:

Footer Page 22 of 161.

Header Page 23 of 161.

14

Mục đích, nhiệm vụ giáo dục

Nhà giáo dục
Phương pháp,

Môi

Môi

PHƯƠNG TIỆN,

trường

Kinh tế

hình thức tổ chức

KH –

- XH

GD

công

trường

Nội dung

Người được GD

nghệ

Kết quả giáo dục
Sơ đồ 1.1: Cấu trúc nhân tố của hoạt động GD
Thiết bị dạy học có vai trò rất quan trọng trong quá trình dạy học và giáo dục, là
một trong những điều kiện quyết định thành công của việc đổi mới phương pháp dạy
học, tạo tiền đề để thực hiện tốt nội dung và phương pháp dạy học, hỗ trợ tích cực
trong việc xác định nội dung và lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp.
Các TBDH được lựa chọn thích hợp và sử dụng có hiệu quả là công vụ hỗ trợ
đắc lực trong tiết dạy, tránh được tình trạng truyền thụ kiến thức một chiều, giúp tiết
dạy trở nên sinh động, dễ hiểu; giúp người giáo viên nâng cao năng lực sáng tạo của
mình trong công tác giảng dạy; tăng hiệu quả hoạt động nhận thức của học sinh, lý
thuyết được kết hợp với thực hành, minh họa giúp cho HS nhớ kiến thức lâu và sâu sắc
hơn, tạo cho HS những tình cảm tốt đẹp với môn học.
Không ít nội dung học tập phức tạp cần đến sự hỗ trợ tích cực của phương tiện
trực quan mới giải quyết được những vấn đề trừu tượng. Theo nguyên lý “Học đi đôi

Footer Page 23 of 161.

Header Page 24 of 161.

15

với hành”, người học rất cần được trực tiếp thực hành dựa trên những kiến thức lý
thuyết đã học bằng các dụng cụ, thiết bị cụ thể. [9]
Dạy học tích cực yêu cầu người học tham gia có ý thức vào các hoạt động tự
khám phá, học hỏi để chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng cần thiết. Như vậy, TBDH
là điều kiện và phương tiện tất yếu để có thể tiến hành phương pháp dạy học tích cực.
Thiết bị dạy học là cầu nối để giáo viên, học sinh cùng hành động tương hợp
với nhau chiếm lĩnh được nội dung dạy học, thực hiện mục tiêu dạy học, sử dụng
phương pháp dạy học. Có thể sơ đồ hóa mối quan hệ giữa TBDH và các yếu tố trên
như sau:
Mục tiêu
dạy học

Học sinh

Giáo viên

Phương pháp

Nội dung
dạy học

dạy học
Thiết bị
dạy học

Sơ đồ 1.2: : Mối quan hệ tương tác giữa TBDH và các yếu tố khác
Theo sơ đồ 1.2, có thể nêu ra một số vai trò chính của TBDH như sau:
-

TBDH là công cụ lao động của người giáo viên;

-

TBDH là phương tiện nhận thức của học sinh;

-

TBDH cụ thể hóa nội dung dạy học;

-

TBDH vật chất hóa phương pháp dạy học;

Footer Page 24 of 161.

Header Page 25 of 161.
-

16

TBDH tham gia vào thúc đẩy sự hiện thực hóa mục tiêu dạy học, góp phần làm
cho quá trình dạy học đạt hiệu quả cao.
Nỗ lực thực hiện đổi mới phương pháp, cải cách nội dung giáo dục được thực

hiện sẽ không đạt được kết quả cao nếu không đi cùng việc cải tiến, nâng cao số lượng
và chất lượng TBDH. Việc tạo điều kiện để thực hiện các tiết học sinh động, thu hút
bằng các phương tiện tạo hình ảnh, âm thanh, việc hiện thực hóa các kiến thức lý
thuyết bằng hoạt động thực hành, thí nghiệm là tất cả những gì TBDH cung cấp cho
hoạt động dạy học.
Việc sử dụng TBDH trong nhà trường có khả năng giúp ích nhiều cho việc giáo
dục tư tưởng – đạo đức, giáo dục lao động, giáo dục nhân cách của người lao động
mới cho học sinh. “Đối với học sinh, nhất là các cấp học nhỏ, yếu tố đạo đức chủ yếu
nhất và trước nhất cần rèn luyện là ý thức bổn phận, ý thức trách nhiệm mà trước hết là
trách nhiệm, bổn phận học tập tốt”. [5]. Giáo dục lao động cho các em cũng bắt đầu và
thực hiện trong lao động chủ yếu nhất của các em: học tập, vượt khó học tập, hăng say
và sáng tạo trong học tập. Đó cũng là những nét cần thiết bước đầu của người lao động
mới. Vai trò của TBDH được thể hiện khi đáp ứng được yêu cầu này, TBDH có thể
gây ra được hứng thú học tập cho học sinh, giúp các em nắm vững kiến thức, phát huy
tính sáng tạo, hình thành phẩm chất đạo đức nói trên.
Chính vì những lý do trên, chúng ta có thể thấy rằng TBDH có vai trò vô cùng
quan trọng và không thể thiếu trong hoạt động dạy học, giáo dục của nhà trường, thậm
chí là ở bất cứ nơi nào có diễn ra hoạt động dạy học nếu muốn đạt được chất lượng và
hiệu quả cao thì cần phải sử dụng TBDH.
1.3.3 Yêu cầu chung khi sử dụng thiết bị dạy học
Việc sử dụng thiết bị dạy học phải đảm bảo đạt được hiệu quả giáo dục của tiết
học có sử dụng nó. Có khả năng, việc sử dụng TBDH không đúng nguyên tắc dẫn đến
phản tác dụng, làm giảm chất lượng của quá trình dạy và học. Chính vì vậy, cần phải
tuân thủ những yêu cầu, nguyên tắc khi sử dụng TBDH để đạt được kết quả như mong
muốn.
Để nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH trong quá trình dạy và học cần đảm bảo
thực hiện những yêu cầu cơ bản sau đây:

Footer Page 25 of 161.