Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG III: MÔI TRƯỜNG VI MÔ NGÀNH SẢN XUẤT CHÈ VIỆT NAM

CHƯƠNG III: MÔI TRƯỜNG VI MÔ NGÀNH SẢN XUẤT CHÈ VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ

3.1 Sự cạnh tranh giữa các công ty trong ngành chè Việt Nam
Ở Việt Nam, các công ty hoạt động ngành chè cạnh tranh trên thị trường bao
gồm hai tác nhân chính:



Các công ty sản xuất chè thuộc Tổng công ty chè Việt Nam Vinatea.
Các công ty sản xuất chè ngoài Tổng công ty chè Việt Nam Vinatea.
Trong số đó thì Tổng công ty chè Việt Nam VINATEA là doanh nghiệp sản

xuất kinh doanh chè lớn nhất với 7 đơn vị trực thuộc tại 7 tỉnh khác nhau, 3 công ty
con và 5 công ty liên kết; gấp nhiều lần so với doanh nghiệp lớn thứ hai xếp sau nó.
Sự chênh lệch quá lớn về quy mô đã gián tiếp làm mất đi môi trường cạnh tranh hoàn
hảo trong kinh doanh. Đấy là chưa kể đến sự chênh lệch về công nghệ sản xuất, cơ
chế quản lý đã giúp cho các “ông lớn” đè bẹp các đơn vị sản xuất nhỏ lẻ một cách dễ
dàng.
Hiện nay, ngành sản xuất chè phát triển hầu hết trên các vùng miền cả nước,
mỗi vùng chè đều có những sản phẩm đặc thù chất lượng cao, sản lượng lớn đáp ứng
thị hiếu người tiêu dùng. Điều này dẫn đến việc các doanh nghiệp không những phải
cạnh tranh với các doanh nghiệp cùng khu vực mà còn phải cạnh tranh với các doanh
nghiệp khác nằm ở ngoài khu vực chè của mình.
Bên cạnh những khó khăn trong vấn đề cơ cấu ngành và sự cạnh tranh phát
triển của các công ty hoạt động trong ngành thì ngành sản xuất chè ở Việt Nam cũng
có những thuận lợi to lớn đó là thị trường tiêu thụ chè ở Việt Nam rất tiềm năng. Theo
thống kê của Hiệp hội chè Việt Nam, bình quân mỗi năm một người Việt chỉ sử dụng
khoảng 300gr chè, chỉ bằng 1/10 so với các nước như Nhật Bản, Nga, Anh hay các
nước Trung Đông với mức tiêu thụ thấp nhất là 2,5kg/người/năm; trong khi đó giá chè
xuất khẩu hiện nay trung bình chỉ ở mức 1,5 USD/kg ( năm 2016 là 1,67 USD/kg
nhưng đến tháng 2 năm 2017 chỉ còn 1.47 USD/kg - theo Báo cáo thống kê của Bộ
NN&PTNT). Như vậy, với dân số gần 90 triệu người, chỉ cần mỗi người dân tiêu thụ
1kg/người/năm thì một năm đã thị trường trong nước đã tiêu thụ được gần 90.000 tấn
chè, đem lại một nguồn thu lớn. Nếu khai thác một cách hiệu quả thì gánh nặng xuất
khẩu cũng sẽ được giảm bớt, thậm chí còn có thể mở rộng thị phần, tạo dựng lợi thế
cạnh tranh.

Qua những phân tích trên, ta thấy rằng ngành sản xuất chè ở nước ta hiện nay
đang rất yếu kém trong việc cạnh tranh giữa các công ty hoạt động trong ngành với cơ
cấu quản lý cồng kềnh, công nghệ sản xuất lạc hậu không có những động lực khuyến
khích sự cạnh tranh của các công ty thuộc tổng công ty với các các công ty khác. Đây
là một trong nhứng nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự yếu kém trong cạnh tranh giữa
ngành sản xuất chè Việt Nam với các nước trong khu vực.
Tuy nhiên bên cạnh đó, cơ cấu ngành sản xuất chè cũng mang lại một số thuận
lợi đó là việc tập trung của ngành ở Tổng công ty chè sẽ tạo điều kiện cho ngành có
điều kiện để tập trung nguồn lực nhằm đầu tư, nâng cao kỹ thuật công nghệ, cùng với
một thị trường trong nước đầy tiềm năng, chúng ta tin rằng trong tương lai, bằng sự nỗ
lực cùng với sự giúp đỡ của Nhà nước, sức cạnh tranh cao, ngành sản xuất chè sẽ còn
đạt được nhiều thành tựu to lớn hơn nữa.
3.2 Sự cạnh tranh của các đối thủ tiềm ẩn (đối thủ cạnh tranh mới)
Ngành sản xuất chè là một ngành cần sự đầu tư rất lớn. Phần đầu tiên cần được
đầu tư là diện tích đất để trồng chè. Ngoài ra còn có nhân công, dây chuyền công
nghệ,.... Do đó các ngành cạnh tranh tiềm ẩn có trở ngại nhập ngành rất lớn để gia
nhập ngành sản xuất chè. Nhất là khi các doanh nghiệp lâu năm trong ngành đã tạo
được lợi thế cạnh tranh lớn với uy tín, kinh nghiệm. Các doanh nghiệp này còn có thể
tạo ra rào cản về công nghệ khi đang sử dụng những dây chuyền hiện đại của Nhật
Bản, Đài Loan...... hay thậm chí là liên kết với nhau để tạo ra rào cản về giá. Như vậy
không phải là quá khó để các doanh nghiệp đã tồn tại lâu năm- các “ông lớn” trong
ngành sản xuất chè có thể bóp chết được những đối thủ mới trong nước- những kẻ
được cho là yếu thế hơn hẳn.
Nhưng, cũng giống như ngành sản xuất cà phê, cao su,.... ngành sản xuất chè
cũng thực sự là một môi trường hấp dẫn đáng để các doanh nghiệp nước ngoài nhảy
vào, cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước. Họ sẽ đầu tư vào xây dựng nhà máy
ở Việt Nam với công nghệ hiện đại hơn ta gấp nhiều lần, tận dụng nguồn nhận lực tại
chỗ với giá thấp,.... nhằm chiếm lĩnh thị trường chè Việt Nam đang là một thị trường
đầy tiềm năng.

Đây thực sự là một đối thủ đáng gờm đối với các doanh nghiệp sản xuất chè
trong nước. Để có thể cạnh tranh với một đối thủ mạnh như vậy, các doanh nghiệp sản
xuất chè của Việt Nam không thể chỉ dừng lại ở mức tạo ra rào cản bằng cách hạ giá
thành được mà phải nhanh chóng chiếm giữ những ưu thế về công nghệ tiên tiến, tăng
cường chất lượng sản phẩm,..... thậm chí có thể là tạo ra mẫu mã đẹp, sản phẩm tiện
dụng để thu hút khách hàng; đồng thời khẳng định được vị thế uy tín của mình.
Mặc dù hiện nay ngành sản xuất chè sử dụng công nghệ tiên tiến , chất lượng
sản phẩm cũng đã được nâng cao rất nhiều nhưng vẫn chưa đủ để có thể hạ bệ mọi đối
thủ cạnh tranh. Như đã phân tích ở phần trước thì hiện nay chúng ta vần chưa khai
thác triệt để thị trường tiêu thụ nội địa.Việc để cho doanh nghiệp nước ngoài cướp đi
một nguồn lợi nhuận lớn ngay trước mặt mình là điều không nên xảy ra. Vì, sau khi
chiếm được thị trường tiêu thụ trong nước, các doanh nghiệp nước ngoài sẽ lớn mạnh
hơn, khi đó việc hạ gục các doanh nghiệp này sẽ càng khó khăn hơn. Cứ như vậy, các
doanh nghiệp nước ngoài sẽ chiếm lĩnh được ngành sản xuất chè của quốc gia đứng
thứ 5 thế giới về sản lượng chè xuất khẩu.
Về sự ưa chuộng sản phẩm, đây là sự ưa thích của người mua đối với sản
phẩm. Một thực tế là, một lượng lớn người dân Việt Nam có tư tưởng ưa dùng “đồ
ngoại” hơn. Điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng bán hàng của các doanh
nghiệp trong nước. Chính vì vậy mà họ cần phải tận dụng một cách hiệu quả lợi thế
của mình đó là uy tín và có nhiều khách hàng quen thuộc, trung thành. Đồng thời cũng
phải tăng cường quảng cáo, giới thiệu sản phẩm tới những người tiêu dùng khác, tạo
dựng mối quan hệ tốt với khách hàng, chiếm được thiện cảm của khách hàng cũng tức
là đã tự nạp thêm cho mình một số lượng lớn “khách hàng ruột” . Tăng thêm khoảng
cách với các đối thủ tiềm ẩn là các doanh nghiệp nước ngoài mới gia nhập thị trường
chè Vệt Nam nói trên.
Một ưu thế nữa mà các doanh nghiệp sản xuất chè của Việt Nam cũng cần phải
tận dụng, đó là có quy mô sản xuất lớn. Quy mô sản xuất lớn vừa tiết kiệm được chi
phí lại có hiệu quả sản xuất cao hơn. Được sự ủng hộ, đầu tư của Chính phủ về trồng
rừng nguyên liệu nhưng các doanh nghiệp trong nước cũng cần phải có những phương
án hợp lý như: quy hoạch vùng nguyên liệu một cách khoa học, đổi mới phương pháp

sản xuất tốt hơn từ sự đúc rút các kinh nghiệm trong sản xuất,.... Có như vậy thì việc
sản xuất với quy mô lớn mới có thể đem lại hiệu quả cao hơn, chi phí thấp hơn được.
Trên thực tế thì vấn đề này cũng khó mà thực hiện được khi mà bộ máy quản lý còn
cồng kếnh, yếu kém về năng lực, sử dụng lao động thủ công khá nhiều.
3.3 Sự cạnh tranh của đối thủ thay thế
Trên thị trường hiện nay, các sản phẩm chè rất phong phú, đa dạng. Nó có thể
được sản xuất ra với nhiều hình thức khác nhau như: chất lỏng ( cái loại nước trà đóng
chai sẵn), bột hay là sấy khô ( đóng túi hoặc hộp),... Nước chè không chỉ ngon mà còn
rất tốt cho sức khỏe vì nó có nguồn gốc từ thiên nhiên, vậy nên rất được ưa chuộng.
Tuy nhiên, trên thị trường cũng tồn tại vô số các loại nước khác, không những đảm
bảo được vị ngon mà cũng “bổ”, như nước ép trái cây là một ví dụ. Hơn nữa, cũng
tùy theo sở thích cá nhân của mỗi người mà có thể thích uống một loại nước nào đó
hơn là chè. Chính vì thế mà “những kẻ bại trận” ở 2 phần nói trên kia hoàn toàn có
thể thành công khi mà đi vào thị trường ngách, sáng tạo ra những sản phẩm khác đi
một chút hoặc cũng có thể là khác hoàn toàn, tạo ra những giá trị mới mà đối thủ cạnh
tranh không làm được.
Tuy nhiên thì các doanh nghiệp sản xuất chè cũng có những lợi thế riêng cho
mình khi sản phẩm chè rất chất lượng, rất được yêu thích với các sản phẩm nổi tiếng
như : chè Tân Cương, chè San Tuyết, chè Mạn,...... Ngoài các sản phẩm chè truyền
thống nêu trên ra, thì các loại chè với các công dụng làm đẹp như giảm cân, đẹp da
hay có chức năng giúp dễ ngủ,...... các loại chè kết hợp với những mùi hương khác ví
dụ như chè hương nhài, chè hương sen,...... cũng rất được ưa chuộng, tạo cho họ chỗ
đứng vững chắc trước những tấn công từ đối thủ cạnh tranh là các sản phẩm thay thế.
3.4 Sức ép của yếu tố đầu vào (Nhà cung cấp)
Với vai trò là người cung cấp các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, quyền
lực của nhà cung ứng được thể hiện thông qua sức ép về giá nguyên vật liệu điều này
được biểu hiện thông qua số lượng nhà cung cấp, tính độc quyền của nhà cung ứng và
mối liên hệ giữa các nhà cung ứng và nhà sản xuất. Nếu có rất ít nhà cung cấp và
nguyên liệu là không thể thay thế thì điều này sẽ rất bất lợi đối với các doanh nghiệp
vì họ sẽ mất đi khả năng đàm phán và các nhà cung ứng sẽ lợi dụng việc đó để đẩy

giá nguyên liệu lên cao. ở chiều ngược lại việc càng có nhiều nhà cung cấp doanh
nghiệp càng có nhiều sự lựa chọn hơn. Việc mua được nguyên vật liệu với giá cả chấp
nhận được từ nhà cung ứng sẽ giúp doanh nghiệp có thể giảm chi phí liên quan đến
việc mua hàng và tăng lợi nhuận mà không phải tăng sản lượng bán hoặc giảm chất
lượng của sản phẩm điều này sẽ rất có lợi đối với các doanh nghiệp.
Hiện nay nguồn cung cấp chè nguyên liệu chủ yếu của các doanh nghiệp đến
từ các nông trường chè trên cả nước.Quy mô của các nông trường ở mức tương đối.
Theo thống kê mới nhất của Hiệp hội Chè Việt Nam (Vitas), cả nước ta hiện đang có
khoảng 140.000ha đất trồng chè. Diện tích chè đang cho thu hoạch là 130.000ha, năng
suất bình quân đạt 8 tấn búp tươi/ha. Tổng sản lượng hàng năm đạt xấp xỉ 180.000190.000 tấn/năm. Một số khư vực trọng điểm có thể kể đến như lâm đồng với khoảng
23.000 ha, sản lượng chè búp tươi hơn 223.000 tấn. thái nguyên diện tích chè khoảng
19.100ha trong đó 17.300ha trong giai đoạn kinh doanh. Ngoài ra còn một số khu vực
khác như Lai Châu (590ha), Sơn la ( 1900) cũng có số lượng đáng kể. Về mặt giá cả
theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, thị trường chè nguyên
liệu những tháng đầu năm sôi động hơn so với thường lệ, giá chè nguyên liệu cũng
tăng do lượng cầu lớn trong dịp Tết Nguyên đán.
Cụ thể, tại Thái Nguyên, giá chè cành chất lượng cao tăng thêm 5.000 đồng/kg
lên 190.000 đồng/kg, chè xanh búp khô và chè xanh búp khô đã sơ chế loại 1 tăng
5.000 đồng/kg lên lần lượt 140.000 đồng/kg và 105.000 đồng/kg.
Tại Bảo Lộc, Lâm Đồng, giá chè nguyên liệu (búp tươi) sản xuất chè xanh loại
1 tăng 1.000 đồng/kg lên 8.000 đồng/kg, giá chè nguyên liệu sản xuất chè đen tăng
500 đồng/kg lên 4.000 đồng/kg.
Với các số liệu thống kê như trên các doanh nghiệp có thể yên tâm khi nguyồn
có nguồn cung cấp nguyên liệu dồi dào sẽ mua được nguyên liệu ở mức có thể chấp
nhận được.
3.5 Sức ép từ phía người tiêu dùng
Là người tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp, khách hàng là một
yếu tố quyết định đầu ra của sản phẩm. Không có khách hàng các doanh nghiệp sẽ gặp

khó khăn trong tiêu thụ các sản phẩm và dịch vụ của mình. Như vậy khách hàng và
nhu cầu của họ nhìn chung có những ảnh hưởng hết sức quan trọng đến các hoạt động
về hoạch định chiến lược và sách lược kinh doanh của mọi công ty. Tìm hiểu kỹ lưỡng
và đáp ứng đầy đủ nhu cầu cùng sở thích thị hiếu của khách hàng mục tiêu sống còn
cho mỗi doanh nghiệp.
Hiểu rõ được tầm quan trọng của vấn đề các doanh nghiệp sản xuất chè Việt
Nam trong những năm trong những năm trở lại đây đã không ngừng cải tiến dây
chuyền sản xuất để cho ra sản phẩm chè có chất lượng tốt nhất. Kiểu dáng, mẫu mã
sản phẩm cũng được chú trọng hơn đồng thời thúc đẩy quá trình sáng tạo ra sản phẩm
mới để không những tạo được niền tin đối với khách hàng quên thuộc mà còn thu hút
thêm các khách hàng mới. sự nỗ lực của các doanh nghiệp chè đã

tạo ra một số

chuyển biến nhất định.
Theo Hiệp hội Chè Việt Nam (Vitas), thời gian gần đây, tình hình tiêu thụ chè
trong nước có xu hướng tăng. Hiện nhu cầu dùng chè của người dân trong nước
chiếm khoảng 30% tổng sản lượng chè của cả nước, với mức tăng trung bình từ 3 đến
5% đây là một dấu hiệu rất phấn khởi đối với các doanh nghiệp sản xuất chè Việt
Nam khi mà thị trường tiêu thụ loại mặt hàng này trong những năm qua không mấy
khởi sắc. cũng theo bộ công thương năm 2016 việt nam xuất khẩu 130.000 tấn chè.
Thị trường tiêu thụ chè chủ yêu của nước ta là Afganistan, Indonesia, Nga, Pakistan,
Đài Loan, Mỹ, Trung Quốc, Anh và Các tiểu Vương Quốc Ả Rập...
Hiện nay, xu hướng uống trà đang phát triển mạnh ở Bắc Mỹ. Thị trường chè
Mỹ cũng đang ngày càng ưa chuộng các loại trà đặc sản như chè đen hay chè xanh có
hương hay chè thảo mộc. Hiệp hội dự đoán, sản lượng chè xuất khẩu trong năm 2017
sẽ tăng khoảng 10% so với năm 2016.
Mặc dù đạt được những thành tựu trên nhưng ngành chè của việt nam vẫn còn
rất nhiều hạn chế. Cụ thể, chất lượng chè của việt nam chưa được đánh giá cao do
thiếu các chứng chỉ quốc tế. hơn nữa Việt Nam đang đánh giá chất lượng chè bằng
mắt thường và điều này là không chính xác. Chất lượng chè phải được đánh giá bằng
máy móc với các con số khoa học cụ thể do đó sẽ không thể đáp ứng được với những

yêu cầu của khách hàng khó tính . Việc số lượng nhà máy chế biến chè tăng nhanh dẫn
đến tình trạng thiếu nguyên liệu chế biến, họ sẵn sàng mua nguyên liệu với bất kỳ chất
lượng nào khiến người dân không muốn cố gắng sản xuất sản phẩm chất lượng tốt hơn
nên chất lượng sản phẩm ngày một giảm, đồng nghĩa với đó là sự quay lưng lại của
người tiêu dùng đối với chính sản phẩm nội địa . trên trường quốc tế chè Việt vẫn bị
coi như một sản phẩm đấu trộn, chủ yếu xuất dưới dạng thô, không có thương hiệu, do
đó người tiêu dùng thế giới ít biết tới chè Việt… Trong khi đó, yêu cầu của các nước
nhập khẩu về tiêu chuẩn chất lượng sẽ ngày càng tăng cao.

CHƯƠNG IV: MA TRẬN SWOT – KIẾN NGHỊ
4.1 Ma trận SWOT tổng hợp của ngành sản xuất chè Việt Nam

Ma trận SWOT

Mặt mạnh (S)
− Tổ chức quản lý thống
nhất
− Ngành sản xuất chè của
Việt Nam đã đạt được
một vị trí nhất định
− Chất lượng chè ngày
càng được nâng cao,
sản lượng cũng ngày
càng lớn.

Cơ hội (O)
− Hội nhập kinh tế, nền
kinh tế Việt Nam đăng
tăng trưởng mạnh thu
hút nhiều nhà đầu tư
trên thế giới với nhiều
chính sách hấp dẫn của
nhà nước
− Nhu cầu về chè tăng
− Thị trường tiêu thụ chè
trong nước đầy tiềm
năng

Nguy cơ (T)
− Áp lực cạnh tranh lớn
khi các đối thủ cạnh
tranh rất mạnh ( Giá rẻ
hơn, công nghệ hiện đại
hơn, chất lượng cao
hơn, quảng cáo mạnh
hơn)
− Phụ thuộc rất nhiều vào
nhà cung cấp.
− Các tiêu chuẩn về chất
lượng sản phẩm và
những quy định nhập
khẩu khác của các nước
nhập khẩu
Phối hợp S/O
Phối hợp S/T
− Nhu cầu về chè ngày − Tổ chức quản lý thống
càng tăng
nhất
− Nguyên liệu phong − Sự cạnh tranh mạnh mẽ
phú, đa dạng
giữa các doanh nghiệp
(bao gồm cả cùng trong
ngành và ngoài ngành
sản xuất chè)

Nguyên liệu đa dạng,
phong phú
− Ứng dụng các thành
tựu của khoa học kỹ
thuật vào sản xuất.
− Có điều kiện tự nhiên
thuận lợi
Mặt yếu (W)
Phối hợp W/O
− Chủ yếu là các cơ sở Hội nhập kinh tế
sản xuất có quy mô nhỏ
− Có sự chênh lệch rất
lớn về sản lượng lẫn
chất lượng giữa các
doanh nghiệp
− Thiếu sự lãnh đạo và
kết hợp giữa người dân
và doanh nghiệp gây ra
nhiều khó khăn cho
công tác quản lý về
chất lựng, số lượng, giá
cả, là nguyên nhân làm
cho nguồn cung chè
luôn bị biến động
− Chưa có đầu tư cho
thương hiệu chè


Phối hợp W/T
− Đòi hỏi của khách hàng
ngày càng cao
− Phụ thuộc rất nhiều vào
nhà cung cấp
− Xây dựng thương hiệu
chè nổi tiếng

Bảng : Ma trận SWOT ngành sản xuất chè Việt Nam
4.2 Giải pháp và kiến nghị phát triển ngành sản xuất chè
4.2.1 Cơ sở đề ra giải pháp
 Tồn tại của ngành sản xuất chè:
1. Vẫn còn xuất hiện tình trạng sử dụng các loại giống chè chất lượng thấp, không

rõ nguồn gốc, diến ra ở nhiều vùng trên khắp cả nước;
2. Việc đổi mới cơ cấu trồng chè còn chậm;
3. Sản phẩm chè còn khá đơn điệu;
4. Tỷ lệ nguyên liệu chủ động tự sản xuất còn thấp dẫn đến hiện tượng phải thu
mua nguyên liệu trôi nổi trên thị trường trong khi việc kiểm soát chất lượng
của những nguyên liệu mua ngoài là rất khó khăn.
 Định hướng của ngành đến năm 2020
1. Diện tích trồng chè: 140.000 ha, năng suất bình quân đạt tối thiểu 9 tấn/ha với

sản lượng chè khô rơi vào khoảng 1.300.000 tấn;