Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG II: MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ NGÀNH SẢN XUẤT CHÈ VIỆT NAM

CHƯƠNG II: MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ NGÀNH SẢN XUẤT CHÈ VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ

Bảng : Biểu thuế suất thuế GTGT các loại chè
Những doanh nghiệp chè hoạt động trên địa bàn khó khăn sẽ được giảm 50%
thuế thu nhập. Và từ 2009, các doanh nghiệp chè đã được áp thuế suất xuất khẩu là
0% Ngoài ra nhà nước còn hỗ trợ các chi phí quảng bá, đào tạo nhân lực và đầu tư dây
chuyền thiết bị cho sản xuất nông nghiệp.
2.3 Bối cảnh xã hội
Theo báo cáo của tổ chức Global Research & Data Service, Việt Nam xếp thứ
18 trong số những thị trường tiêu thụ trè tiềm năng nhất thế giới. Hiện tại trung bình
người dân Việt Nam tiêu thụ 300 gr chè/người/năm trong khi ở Nhật Bản và Trung
Đông là 2 kg chè/người/năm, Anh và Nga đều hơn 2,5 kg chè/người/năm gấp gần 10
lần Việt Nam, xu hướng tiêu thụ chè của người dân Việt Nam đang và sẽ tiếp tục gia
tăng. Các đối tượng sử dụng chè trong nước được chia làm hai đối tượng. Những
người uống chè theo kiểu truyền thống có độ tuổi trên 35 thường ưa chuộng chè mạn
được chế biến theo cách thủ công. Nhóm khách hàng này hầu như không quan tâm
đến mẫu mã sản phẩm. Còn những người uống chè theo kiểu hiện đại độ tuổi từ 20
đến dưới 35 thường ưa chuộng những loại chè nhúng và hóa tan, nhất là của các nhãn

hiệu nổi tiếng. Nhóm đối tượng này coi trọng đến mẫu mã sản phẩm, đặc biệt là biểu
tượng đặc trưng. Nhóm này thường tiêu dùng theo xu thế hiện đại nên uy tín của nhãn
hiệu là rất quan trọng.
Hiên nay trong bối cảnh thị trường hiện đại hóa, ngành chè của nước ta cũng đã
tập trung vào việc sản xuất chè sạch và xanh để đáp ứng tốt hơn nhu cầu xuất khẩu
chè ra nước ngoài. Hầu hết các công ty sản xuất chè đều tham gia hợp phần phát triển
sạch hơn của Bộ công thương. Khi tham gia vào hợp phần các công ty sản xuất chè sẽ
xây dựng một phòng ban nhằm quan trắc mọi hoạt động của chu trình sản xuất chè.
Các khu xử lí xả thải, giảm thiểu tối đa các nhiên liệu gây hại như than, mụi than thải
ra ngoài được xây dựng nên. Ngoài ra các chỉ số về nước sạch tiêu thụ, nước thải, than
dầu đều được theo dõi sát sao và đưa ra giải pháp xử lí giúp giảm thiểu các lãng phí
trong các chu trình sản xuất chè. Nhờ những giải pháp khi xử lý trong quá trình sản
xuất sạch hơn giúp các công ty sản xuất chè tiết kiệm được chi phí trong các quy trình
sản xuất chè cũng như bảo vệ được môi trường.
2.4 Môi trường tự nhiên – Bối cảnh đạo đức
Ở Việt Nam có năm vùng trồng và sản xuất chè chính bao gồm: vùng chè Tây
Bắc, vùng Việt Bắc – Hoàng Liên Sơn, vùng Trung du – Bắc Bộ, miền Trung và cuối
cùng là Tây Nguyên. Các vùng trồng chè này đều có đặc điểm chung là vùng núi đồi,
cao nguyên, có khí hậu trong lành mát mẻ và đất đai khá màu mỡ. Tuy vậy, qua tìm
hiểu, cây chè có đặc điểm là rất ưa nắng và khí hậu ẩm ướt, nếu sống trong vùng khí
hậu nhiệt đới, hoặc cận nhiệt thì sẽ phát triển rất mau. Chính vì vậy, đặc điểm thiên
nhiên của những vùng trồng chè tại Việt Nam này mang đến cho ngành trồng chè
nhiều thuận lợi nhưng cũng có một số khó khăn, cụ thể như sau:
Đặc điểm địa lý / khí hậu
- Khí hậu mát mẻ quanh
năm
- Sương mù nhiều, độ ẩm
thấp
- Biên độ nhiệt ngày đêm
lớn
- Ánh sáng tán xạ
- Cao nguyên núi đồi

Thuận lợi
- Giúp cây chè phát triển
chậm, nên lưu giữ được
nhiều hương vị đậm đà.
- Không có nhiều thiên tai
- Khí hậu hanh khô vừa
phải sẽ là điều kiện tốt để
tránh các mầm sâu bệnh
- Giao thông đã được cải

Khó khăn
- Khi thời tiết trở nên quá
khắc nghiệt thì cây chè sẽ
kém phát triển.

- Khá xa hai trung tâm

- Ít dốc
- Đất màu mỡ (đất đỏ
vàng, đất đỏ nâu) và tầng
đất khá dày.

thiện đáng kể, nên việc
giao thương và vận chuyển
khá dễ dàng.
- Trồng chè sẽ giúp phủ
xanh đồi trọc

chính là Hà Nội và Tp Hồ
Chí Minh
- Đất đồi núi sẽ dễ bị xói
mòn, mất chất.

Bảng : Thuận lợi – Khó khăn môi trường tự nhiên ở các vùng trồng chè
Nhìn chung điều kiện tự nhiên của các khu vực trồng chè đều khá thuận lợi để
cây chè phát triển. Mặc dù thiên nhiên thuận lợi là vậy, nhưng thực tế các loại sâu
bệnh vẫn có khả năng phát triển. Điều này dẫn tới một thực tế đáng buồn là các hộ
trồng chè thường sử dụng các loại thuốc diệt sâu loại mạnh (không chỉ ngành trồng
chè mà rất nhiều ngành khác) vì nghĩ tới lợi nhuận trước mắt. Như năm 2015, vùng
chè nổi tiếng Thanh Sơn đã bị lên án do vấn đề sử dụng BVTV – một loại thuốc diệt
sâu hạng nặng của Trung Quốc và cùng với đó họ ngăn một luống chè riêng gọi là
“luống chè gia đình” không có thuốc để cho gia đình uống. Vấn đề đạo đức của mỗi
doanh nghiệp – hộ gia đình sản xuất chè luôn là một vấn đề rất nhạy cảm. Môi trường
tự nhiên cung cấp cho chúng ta điều kiện khá tốt, nhưng đổi lại nó đang phải hứng
chịu những hậu quả nặng nề.
2.5 Bối cảnh công nghệ:
Với mỗi loại chè khác nhau thì sẽ có những kỹ thuật khác nhau, từ đó cho ra
những loại chè có hương vị khác biệt. Tuy vậy, có thể nêu ra được một số bước cơ bản
sau đây trong dây chuyền sản xuất chè:
Hái chè
Làm héo nhẹ
Ốp chè (lên men)
Vò chè
Sao khô chè

Ở Việt Nam những năm về trước, ngành sản xuất chè thường do các hộ gia
đình tiến hành trồng trọt và làm thủ công, sản xuất rất nhỏ lẻ và không tập trung. Các

hộ gia đình làm thủ công nếu cẩn thận thì có thể sẽ ra những sản phẩm chè thơm ngon
hơn, tuy vậy thì năng suất chắc chắn sẽ không cao.
Tiến bộ hơn một chút, thì hộ gia đình chỉ trồng chè và thu hoạch, sau đó sẽ có
doanh nghiệp sản xuất đến thu mua. Phương pháp thứ hai sẽ hiệu quả hơn, vì doanh
nghiệp thường sẽ có công nghệ sản xuất tập trung và hiện đại hơn so với việc làm thủ
công. Nhưng ở một số địa phương, có một vấn đề nảy sinh đó là sự thiếu liên kết giữa
doanh nghiệp và người nông dân. Nông dân tự mở rộng diện tích trồng, tự chọn giống
còn doanh nghiệp thì không kí hợp đồng thu mua với nông dân mà sẽ mua chè vào
cuối vụ với giá rất rẻ mạt. Đây là một trong những lí do khiến chất lượng chè cũng
như giá thành chè giảm đáng kể.
Từ lâu, Nhà nước cũng đã có những quan tâm thích đáng tới việc trồng chè,
ngoài các chính sách ưu đãi, như việc thành lập công ty chè Tam Đường (năm 2010)
với 100% vốn Nhà nước. Đây là công ty có dây chuyền sản xuất rất hiện đại cũng như
có sự quản lý nghiêm ngặt và chất lượng lá chè. Sự phát triển của những công ty như
thế này là cần thiết cho một thị trường sản phẩm chất lượng và đa dạng, là cú hích cho
các doanh nghiệp cũng như các hộ sản xuất nhỏ lẻ phải có phương án sản xuất hiệu
quả hơn.
2.6 Bối cảnh quốc tế
Theo thống kê của Bộ NN&PTNT cho thấy, khối lượng xuất khẩu chè tháng
2/2017 ước đạt 7.000 tấn với giá trị đạt 10 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu chè 2
tháng đầu ăm 2017 ước đạt 16.000 tấn và 23 triệu USD, giảm 1,4% về khối lượng là
giảm 6,9% về giá trị so với cùng kì năm 2016. Giá chè xuất khẩu bình quân tháng 1
năm 2017 đạt 1.471 USD/tấn, giảm 5,4% so với cùng kì năm 2016. Trong tháng
1/2017 khối lượng chè xuất khẩu sang Pakistan – thị trường lớn nhất của Việt Nam
với 41,5% thị phần, giảm 20,7% về khối lương và giảm 27,9% về giá trị so với cùng
kỳ năm 2016. Các thijtruowngf có giá trị xuất khẩu chè trong tháng 12017 tăng mạnh
là Ba Lan (gấp 5,7 lần), Ả Rập Xê út (gấp 2,1 lần), Trung Quốc (17,3%) và Hoa Kỳ
(10,9%).
Việt Nam là một trong 11 nước trên thế giới thử nghiệm mô hình PPP trong
nông nghiệp, với sự tham gia của 20 tập đoàn hàng đầu và các công ty trên thế giới.

Cho đến nay, 6 nhóm PPP về chè, trái cây và rau quả, hàng hóa, cá, cà phê và tín dụng
đều hoạt động rất hiệu quả và được thế giới đánh giá cao. Ông Trần Vũ Hoài, Phó chủ
tịch đối ngoại Công ty Unilever Việt Nam, đại diện nhóm PPP về chè cho biết, thông
qua mô hình PPP, nông dân trồng chè và các chủ nhà máy chế biến chè đã được đào
tạo về canh tác nông nghiệp bền vững để đạt các chứng nhận quốc tế. Mỗi năm,
Unilever mua 30.000-35.000 tấn chè đạt chứng nhận quốc tế (Rainforest Alliance) để
xuất khẩu. "Mục đích của chúng tôi là giúp thương hiệu chè ‘made in Vietnam' có
tiếng vang giống như thương hiệu cà phê ‘made in Vietnam' khi xuất khẩu ra thế giới",
ông Hoài nói. Được biết, các doanh nghiệp tham gia nhóm PPP về chè đã đầu tư
440.000 euro để đào tạo và liên kết mô hình sản xuất với hơn 23.000 nông dân ở 6
tỉnh. Tuy nhiên nhìn chung thì lượng FDI đầu tư vào ngành chè vẫn là rất nhỏ không
đáng kể so với tổng lượng vốn FDI vào Việt Nam nhưng chúng ta cũng sẽ kì vọng vào
mô hình PPP sẽ thu hút được nhiều hơn lượng vốn FDI vào ngành sản xuất chè.

CHƯƠNG III: MÔI TRƯỜNG VI MÔ NGÀNH SẢN XUẤT CHÈ VIỆT NAM

Đối thủ trực
tiếp

Người mua

Doanh
nghiệp

Nhà cung
cấp

Biểu đồ : Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh

Sản phẩm và
dịch vụ thay
thế

Đối thủ mới

3.1 Sự cạnh tranh giữa các công ty trong ngành chè Việt Nam
Ở Việt Nam, các công ty hoạt động ngành chè cạnh tranh trên thị trường bao
gồm hai tác nhân chính:



Các công ty sản xuất chè thuộc Tổng công ty chè Việt Nam Vinatea.
Các công ty sản xuất chè ngoài Tổng công ty chè Việt Nam Vinatea.
Trong số đó thì Tổng công ty chè Việt Nam VINATEA là doanh nghiệp sản

xuất kinh doanh chè lớn nhất với 7 đơn vị trực thuộc tại 7 tỉnh khác nhau, 3 công ty
con và 5 công ty liên kết; gấp nhiều lần so với doanh nghiệp lớn thứ hai xếp sau nó.
Sự chênh lệch quá lớn về quy mô đã gián tiếp làm mất đi môi trường cạnh tranh hoàn
hảo trong kinh doanh. Đấy là chưa kể đến sự chênh lệch về công nghệ sản xuất, cơ
chế quản lý đã giúp cho các “ông lớn” đè bẹp các đơn vị sản xuất nhỏ lẻ một cách dễ
dàng.
Hiện nay, ngành sản xuất chè phát triển hầu hết trên các vùng miền cả nước,
mỗi vùng chè đều có những sản phẩm đặc thù chất lượng cao, sản lượng lớn đáp ứng
thị hiếu người tiêu dùng. Điều này dẫn đến việc các doanh nghiệp không những phải
cạnh tranh với các doanh nghiệp cùng khu vực mà còn phải cạnh tranh với các doanh
nghiệp khác nằm ở ngoài khu vực chè của mình.
Bên cạnh những khó khăn trong vấn đề cơ cấu ngành và sự cạnh tranh phát
triển của các công ty hoạt động trong ngành thì ngành sản xuất chè ở Việt Nam cũng
có những thuận lợi to lớn đó là thị trường tiêu thụ chè ở Việt Nam rất tiềm năng. Theo
thống kê của Hiệp hội chè Việt Nam, bình quân mỗi năm một người Việt chỉ sử dụng
khoảng 300gr chè, chỉ bằng 1/10 so với các nước như Nhật Bản, Nga, Anh hay các
nước Trung Đông với mức tiêu thụ thấp nhất là 2,5kg/người/năm; trong khi đó giá chè
xuất khẩu hiện nay trung bình chỉ ở mức 1,5 USD/kg ( năm 2016 là 1,67 USD/kg
nhưng đến tháng 2 năm 2017 chỉ còn 1.47 USD/kg - theo Báo cáo thống kê của Bộ
NN&PTNT). Như vậy, với dân số gần 90 triệu người, chỉ cần mỗi người dân tiêu thụ
1kg/người/năm thì một năm đã thị trường trong nước đã tiêu thụ được gần 90.000 tấn
chè, đem lại một nguồn thu lớn. Nếu khai thác một cách hiệu quả thì gánh nặng xuất
khẩu cũng sẽ được giảm bớt, thậm chí còn có thể mở rộng thị phần, tạo dựng lợi thế
cạnh tranh.