Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGÀNH SẢN XUẤT CHÈ VIỆT NAM

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGÀNH SẢN XUẤT CHÈ VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ

- Năm 1890 một số đồn điền chè được thành lập đầu tiên: Tĩnh Cương (Phú Thọ) với
diện tích 60 ha, Đức Phổ (Quảng Nam) 250 ha, chè được trồng ở hai tỉnh Quảng Nam,
Quảng Ngãi với diện tích 1900 ha.
- Năm 1925 - 1940 người Pháp mở các đồn điền trồng chè ở cao nguyên Trung bộ với
diện tích khoảng 2.750 ha.
- Tính đến năm 1938, tổng diện tích trồng chè của Việt Nam là 13.405 ha với sản
lượng 6.100t chè khô. Cây chè được trồng nhiều ở Bắc bộ và Trung bộ trong đó trên
75% diện tích là của người Việt, khoảng 25% diện tích là của người Pháp.
- Theo số liệu thống kê năm 1939 sản lượng chè của Việt Nam là 10.900t, đứng hàng
thứ 6 sau Ấn Độ, Xrilanca, Trung Quốc, Nhật Bản và Inđônêxia.
Một đặc điểm nổi bật trong thời kỳ này là diện tích trồng chè rất phân tán, lẻ tẻ,
sản xuất mang tính chất tự túc, tự cấp. Kỹ thuật canh tác lâu sơ sài với phương thức
quảng canh, năng suất rất thấp chỉ đạt trên dưới 1,5t búp tươi/ha. Các cơ sở nghiên
cứu về cây chè được thành lập ở hai nơi Phú Hộ (Vĩnh Phú) và Bảo Lộc (Lâm Đồng).
* Thời kỳ thứ hai 1945 - 1955: Do ảnh hưởng của cuộc chiến tranh chống Pháp
các vườn chè bị bỏ hoang nhiều, số còn lại không được đầu tư chăm sóc cho nên diện
tích và sản lượng chè trong thời kỳ này giảm sút dần.
* Thời kỳ thứ ba từ năm 1954 tới nay: Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính
phủ với phương châm xây dựng nền nông nghiệp toàn diện và vững chắc, nghề trồng
chè đã được chú ý đúng mức. Chè chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế
của nhân dân ta. Trong các vùng trồng chè, chè là nguồn thu nhập chủ yếu, góp phần
quan trọng trong việc cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân. Hiện nay việc sản
xuất và cung cấp chè chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng ở trong
nước, cũng như nhu cầu xuất khẩu.

1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới
Trong năm 2010, lượng chè sản xuất trên toàn thế giới đã vượt qua con số 4
triệu tấn để đạt mức 4.126.527 tấn. Trong đó Việt Nam là một trong những nước có
sản lượng chè sản xuất đứng thứ 5. Qua thống kê sản phẩm chè của các nước trên thế
giới thì thị phần Châu Á chiếm 83% sản lượng chè thế giới, tiếp theo là Châu phi
chiếm 15% và Nam Mỹ chiếm 2,4%.
Về thị trường tiêu thụ trong giai đoạn gần đây, nhập khẩu chè đen thế giới ước
tính khoảng 1,15 triệu tấn, mức tăng trung bình khoảng 0,6%/năm. Các nước nhập
khẩu chính như Anh, Nga, Pakistan, Mỹ, Nhật Bản… sẽ chiếm khoảng 60% tổng
lượng nhập khẩu chè toàn thế giới. Những thị trường tiêu thụ lớn nhất đối với sản
phẩm chè xanh và chè đen là: Thị trường Nga (đã nhập khẩu trên 174.000 tấn),
Pakistan (nhập khẩu 126.170 tấn), Hy Lạp (81.700 tấn), Iran (62.000 tấn), và Morocco
(58.000 tấn.)
Ngoài ra còn có các chi nhánh bán lẻ ở thị trường Mỹ và Canada với tổng số
lượng chè nhập khẩu lên tới 144.000 tấn, Vương quốc Anh là 126.000 tấn, và EU với
tổng số lượng chè nhập khẩu là 128.000 tấn.
1.2.2 Tình hình sản xuất và xuất khẩu chè của Việt Nam trong những năm gần đây
Trong năm 2011 cả nước có diện tích trồng chè là 133.000 ha; sản lượng (thô)
đạt 888.600 tấn; sản lượng (đã chế biến) đạt 165.000 tấn; xuất khẩu là 132.600 tấn.
Việt Nam là nước xuất khẩu và sản xuất chè lớn thứ 5 thế giới, với kế hoạch sản xuất
đã đạt được 1,2 triệu tấn chè thô và xuất khẩu 200.000 tấn chè chế biến vào năm 2015.
Biểu đồ hình tròn cho biết quy mô sản xuất chè trên cả nước ta hiện nay, với
300 nhà máy chế biến lớn nhỏ trên cả nước, thì số lượng cơ sở sản xuất hộ gia đình
nhỏ lẻ vẫn chiếm tỉ khá lớn (khoảng 166 cơ sở), tiếp đó là cơ sở sản xuất vừa (103 cơ
sở) và quy mô lớn (chỉ khoảng 31 cơ sở).
Tuy vậy thì công suất chế biến của ba hình thức quy mô nhỏ, vừa, lớn theo thứ
tự lại chiếm 10%, 43% và 47% tổng công suất của cả nước. Điều đó cho thấy sự bất

cập vẫn còn tồn tại khá nhiều trong ngành sản xuất chè và sự đầu tư chưa đúng của
các nhà hoạch định.
Thị trường xuất khẩu chè của Việt Nam cũng được mở rộng tới gần 100 quốc
gia, trong đó Pakistan là thị trường Việt Nam xuất khẩu nhiều chè nhất với lượng
24.045 tấn, trị giá 45.304.840 USD, tăng 38% về lượng và tăng 39% về trị giá năm
2012, chiếm 20,1% tổng trị giá xuất khẩu chè của Việt Nam. Tiếp đến là Đài Loan,
lượng chè xuất khẩu sang thị trường này đạt 22.453 tấn, trị giá 29.589.578 USD, tăng
10,4% về lượng và tăng 13% về trị giá; đứng thứ ba là Nga rồi Trung Quốc,
Inđônêxia, Mỹ…
1.3 Khái niệm môi trường kinh doanh
Môi trường kinh doanh là tổng thể các yếu tố cả bên ngoài lẫn bên trong vận
động tương tác lẫn nhau, tác động trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Nói một cách dễ hiểu hơn, đó chính là một giới hạn không gian mà ở
đó doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Sự phát triển của doanh nghiệp sẽ chịu một tác
động lớn từ môi trường mà nó “sinh sống”, bất kể đó là tác động tiêu cực hay tích cực.
Vì vậy, để các nhà đầu tư có thể ra những quyết định điều hành doanh nghiệp một
cách đúng đắn thì nhất thiết phải xem xét và phân tích môi trường kinh doanh của
doanh nghiệp đó. Môi trường kinh doanh được chia làm hai loại là môi trường bên
ngoài (vĩ mô) và môi trường bên trong doanh nghiệp (môi trường vi mô). Cụ thể hơn,
chương II và III sẽ đi sâu phân tích hai loại môi trường này của ngành sản xuất chè
Việt Nam.

CHƯƠNG II: MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ NGÀNH SẢN XUẤT CHÈ VIỆT NAM
2.1 Bối cảnh kinh tế:
Để có thể có cái nhìn rõ nhất về nền kinh tế VIệt Nam đã thay đổi như thế nào
những năm gần đây thì chỉ tiêu thích hợp nhất sẽ là GDP bình quân đầu người được
lấy theo giá so sánh năm gốc 2010 (để loại bỏ sự lạm phát của đồng tiền).

Biểu đồ : GDP bình quân đầu người Việt Nam 2000 – 2015
Nguồn: World Bank Data
Những năm đầu thế kỉ XX, GDP bình quân ở mức thấp, chỉ đạt dưới $1000.
Nhưng một tín hiệu tốt là GDP bình quân liên tục tăng qua các năm, cho đến năm
2005 thì đã vượt qua mức $1000. Đặc biệt, từ năm 2008, Việt Nam đã chính thức trở
thành quốc gia có thu nhập trung bình với GDP bình quân đầu người đạt 1214 USD.
Điều đó vừa đáng mừng vừa đem tới cho Việt Nam những thách thức khó khăn hơn,
khi mà các nguồn viện trợ bắt đầu bị cắt giảm.
Quy mô nền kinh tế năm 2015 theo giá hiện hành đạt 4192,9 nghìn tỷ đồng;
GDP bình quân đầu người năm 2015 ước tính đạt 45,7 triệu đồng, tương đương 2109
USD, tăng 57 USD so với năm 2014.
Như vậy, dễ có thể nhận thấy, nền kinh tế thị trường dù còn rất non trẻ và phải
hứng chịu khá nhiều hệ quả của những cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, nhưng đang
có những bước phát triển đúng hướng. Trong nội tại nền kinh tế luôn tiềm ẩn rất nhiều
cơ hội phát triển, nhưng cũng có rất nhiều thử thách cạnh tranh. Đây là điều kiện để
cho không chỉ ngành sản xuất chè mà còn rất nhiều những ngành cạnh tranh với nhau
để tạo ra sự phát triển bền vững nhất.
2.2 Chính sách vĩ mô và pháp lý
Ngành chè luôn là một ngành nông nghiệp trồng trọt được nhà nước ta đặc biệt
quan tâm và tạo nhiều điều kiện phát triển. Cụ thể, theo Luật đất đai năm 2013, điều
67, thời gian thuê đất làm nông nghiệp là 50 năm, đây là một điều kiện lớn cho nông
dân phát triển trồng chè. Bên cạnh đó, thuế GTGT của nguyên liệu chè cũng được khá
nhiều ưu đãi khi có một số mặt hàng không phải chịu thuế GTGT khi tự sản xuất hoặc
nhập khẩu.

Bảng : Biểu thuế suất thuế GTGT các loại chè
Những doanh nghiệp chè hoạt động trên địa bàn khó khăn sẽ được giảm 50%
thuế thu nhập. Và từ 2009, các doanh nghiệp chè đã được áp thuế suất xuất khẩu là
0% Ngoài ra nhà nước còn hỗ trợ các chi phí quảng bá, đào tạo nhân lực và đầu tư dây
chuyền thiết bị cho sản xuất nông nghiệp.
2.3 Bối cảnh xã hội
Theo báo cáo của tổ chức Global Research & Data Service, Việt Nam xếp thứ
18 trong số những thị trường tiêu thụ trè tiềm năng nhất thế giới. Hiện tại trung bình
người dân Việt Nam tiêu thụ 300 gr chè/người/năm trong khi ở Nhật Bản và Trung
Đông là 2 kg chè/người/năm, Anh và Nga đều hơn 2,5 kg chè/người/năm gấp gần 10
lần Việt Nam, xu hướng tiêu thụ chè của người dân Việt Nam đang và sẽ tiếp tục gia
tăng. Các đối tượng sử dụng chè trong nước được chia làm hai đối tượng. Những
người uống chè theo kiểu truyền thống có độ tuổi trên 35 thường ưa chuộng chè mạn
được chế biến theo cách thủ công. Nhóm khách hàng này hầu như không quan tâm
đến mẫu mã sản phẩm. Còn những người uống chè theo kiểu hiện đại độ tuổi từ 20
đến dưới 35 thường ưa chuộng những loại chè nhúng và hóa tan, nhất là của các nhãn