Tải bản đầy đủ
Lập luận kinh tế kỹ thuật, phân tích thị trường:

Lập luận kinh tế kỹ thuật, phân tích thị trường:

Tải bản đầy đủ

Đại học Công Nghệ
TP.HCM

GVHD: ThS. Nguyễn Xuân Nam

đường (do bơ có chứa acid béo PUFA), chức năng tuyến giáp kém, khó thực hiện
việc chuyển đổi khi cần thiết, giảm cholesterol trong máu. Bơ còn giúp tăng cường
hệ miễn dịch, giảm nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt do có vitamin K2.
Theo bảng điều tra tương lai của Châu Âu về ung thư và dinh dưỡng (EPIC)
cho rằng sử dụng bơ động vật giúp giảm nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt 35%, theo
nghiên cứu ở Hà Lan thì những ai có mức tiêu thụ vitamin K2 sẽ giảm nguy cơ
26% tử vong do mọi nguyên nhân bệnh so với người ít sử dụng. Nó còn có chức
năng ngăn ngừa Canxi lắng động xuống thành mạch, chống vôi hóa mạch máu,
giảm nguy cơ đột quỵ và nhồi máu cơ tim.
Mặt khác, nước ta hiện nay đang tiêu thụ mạnh các sản phẩm lên men từ sữa
như bơ và các sản phẩm khác, nhưng ngành chế biến sữa và các sản phẩm từ sữa ở
nước ta còn non trẻ, sản phẩm sữa và các sản phẩm chế biến từ sữa không nhiều
nên chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước. Các sản phẩm sữa và sản
phẩm từ sữa đa số vẫn là nhập từ nước ngoài dạng sữa bột, bơ để chế biến. Việc
này dẫn đến giá thành rất cao, người ta dần thay thế bằng các loại bơ khác như bơ
thực vật nhưng thật sự chúng không đem lại mùi vị thơm ngon và tự nhiên khi các
sản phẩm chế biến dùng bơ động vật. Vì vậy bơ động vật đã ít nay lại còn ít hơn.
Mọi người còn thường quan niệm sai lầm rằng dùng bơ thực vật sẽ tốt hơn bơ
động vật do bơ thực vật là nguồn cung cấp acid béo không no cần thiết cho con
người. Đúng là acid béo không no thực sự cần thiết, song người ta tảng lờ một chi
tiết quan trọng. Đó là, trải qua các quá trình công nghệ, để biến dầu thực vật thành
bơ thực vật, acid béo không no đã trở thành acid béo no. Tệ hơn, trong thành phần
bơ thực vật còn chứa các chất béo đồng phân nhân tạo vốn xa lạ với cơ thể con
người. Vậy nên, ăn bơ thực vật không chỉ không bổ béo gì mà còn hủy hoại cơ thể.
Với tất cả các lý do trên chúng tôi nhân thấy rằng việc “thiết kế xây dựng nhà
máy sản xuất bơ lên men” là rất cần thiết và có tiềm năng phát triển.
1.3.
Tình hình bò sữa ở Việt Nam hiện nay
1.3.1 Số lượng bò sữa
Đàn bò sữa của nước ta hiện nay đang tăng nhanh cả về số và chất lượng. Quy
mô chăn nuôi tăng, chất lượng giống được cải thiện, sữa tươi sản xuất ra đảm bảo
vệ sinh an toàn thực phẩm và đang chiếm được lòng tin của người tiêu dùng trong
cả nước.
Theo số liệu thống kê (cục chăn nuôi Bộ NN & PTNT, 2014) tính đến ngày
01/04/2014 đàn bò sữa cả nước Việt Nam đạt khoảng 200 ngàn con, tăng 14% so
với năm 2013.
Trong tổng đàn bò sữa cả nước hiện có trên 75% tập trung ở thành phố Hồ Chí
Minh và các tỉnh phụ cận như Đồng Nai, Bình Dương, Long An... Khoảng 20%
các tỉnh phía bắc, dưới 2% ở các tỉnh miền trung và trên 2% các tỉnh ở Tây
Nguyên. Hiện tại trong cơ cấu giống bò sữa cả nước bò HF thuần chiếm khoảng
10% và bò lai chiếm khoảng 90%. Chăn nuôi bò sữa chủ yếu là các hộ gia đình với
khoảng 95%, ngoài ra còn có một số ít cơ sở chăn nuôi Nhà nước và liên doanh.
Nhà máy sản xuất bơ lên men

Trang 4

Đại học Công Nghệ
TP.HCM

GVHD: ThS. Nguyễn Xuân Nam

Theo kết quả báo cáo sơ bộ tổng điều tra 01/04/2015 cuả tổng cục thống kê, tại
thời điểm này đàn bò sữa tiếp tục phát triển, đạt 253,7 nghìn con, tăng 26% so với
cùng kỳ năm trước.
Hà Nội có tổng đàn sữa bò tính đến thời điểm 30/08/2014 là 14053 con tăng
6.04% so với cùng kỳ năm 2013, đứng sau thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố Hồ
Chí Minh được xem là địa phương có mô hình nuôi bò sữa nông hộ và có đàn bò
sữa nhiều nhất cả nước, cung cấp sữa cho khoảng 10 đơn vị thu mua sữa, trong đó
có Vinamilk và FrieslandCampina. Toàn thành phố hiện có hơn 90.000 con bò sữa,
năng suất sữa bình quân đàn bò sữa TP. HCM đạt 5100kg/con/chu kỳ, cao hơn
bình quân cả nước (khoảng 4500kg/con/chu kỳ). Quy mô đàn cũng tăng lên 11,63
con/hộ so với thời điểm năm 2011. Thành phố Hồ Chí Minh cũng đang phát triển
chăn nuôi bò sữa theo mô hình nhóm hộ sản xuất, với các tổ hợp tác và hợp tác xã.
Trong tổng số gần 9000 hộ nuôi bò sữa toàn thành phố, hiện có 23 tổ hợp tác và 5
hợp tác xã chăn nuôi bò sữa
Chăn nuôi bò sữa ở Đồng Nai cũng rất phát triển. Nuôi tập trung ở nông dân
các xã: An Phước, Tam Phước, Lộc An thuộc huyện Long Thành; các phường
Trảng Dài, Tân Phong, Tân Mai, Thống Nhất thuộc thành phố Biên Hòa; xã Bắc
Sơn thuộc huyện Thống Nhất. Riêng huyện Long Thành đã có gần 2000 con bò
sữa. Các công ty chăn nuôi bò sữa lớn như xí nghiệp bò sữa An Phước, công ty
liên doanh bò sữa Đồng Nai, Khu liên hiệp công nông nghiệp Dofico (Agropark)
đang triển khai dự án đầu tư trại cung cấp giống bò sữa và nhà máy chế biến sữa.
Trong dự án này, doanh nghiệp sẽ liên kết với nông dân phát triển vùng nguyên
liệu bò sữa theo hình thức chăn nuôi nông hộ tại huyện Xuân Lộc. Chủ đầu tư dự
án đang phối hợp với huyện Xuân Lộc tổ chức lớp học chăn nuôi bò sữa, thu hút
đông đảo nông dân địa phương tham gia.
Các công ty lớn cũng đang đầu tư phát triển chăn nuôi bò sữa như Vinamilk,
TH true milk, Mộc Châu... Vinamilk đang dần trở thành 50 công ty sữa lớn nhất
thế giới vào năm 2017. Đến nay Vinamilk đã có 8 doanh trại quy mô lớn với toàn
bộ giống bò nhập khẩu từ Úc, New Zealand và Mỹ. Hiện nay ngoài 8 doanh trại
đang hoạt động Vinamilk còn liên kết với gần 8000 trang trại/hộ dân chăn nuôi bò
sữa gần 100 ngàn con trên cả nước, thu được sản lượng bình quân khoảng 650 tấn
sữa/ngày, góp phần xây dựng ngành chăn nuôi bò sữa Việt Nam phát triển theo
hướng ổn định và bền vững.
Hàng năm, Việt Nam vẫn đang nhập một lượng lớn sữa (chủ yếu là sữa bột) để
đáp ứng nhu cầu chế biến và tiêu thụ trong cả nước, lượng sữa sản xuất trong nước
chỉ đáp ứng được 25 – 30% lượng tiêu thụ trong cả nước còn gần 70% vẫn phải
nhập từ nước ngoài. Nhưng với tình hình ngày càng phát triển ngành chăn nuôi bò
sữa ở nước ta cũng như các chính sách ưu đãi của nhà nước khuyết khích các công
ty, nông trại, hộ gia đình chăn nuôi bò sữa như hỗ trợ vốn ban đầu, hỗ trợ tư liệu
sản xuất, khắc phục thiên tai dịch bệnh nên đã giảm thiểu thiệt hại chăn nuôi bò
sữa và giúp ngành chăn nuôi bò sữa ở nước ta ngày càng phát triển và có nhiều
Nhà máy sản xuất bơ lên men

Trang 5

Đại học Công Nghệ
TP.HCM

GVHD: ThS. Nguyễn Xuân Nam

tiềm năng. Nhiều năm gần đây, ngành sữa trong nước đã và đang tăng trưởng đáng
kể và vẫn còn nhiều tiềm năng để phát triển. Việt Nam có khoảng 70 doanh nghiệp
sản xuất và chế biến sản phẩm sữa. Và dự định trong tương lai sẽ thu được sản
lượng là 1 triệu tấn vào năm 2020.
1.3.2 Sản lượng sữa
Đại diện Hiệp hội sữa Việt Nam cho biết cả nước có thể sản xuất 1,9 tỉ lít sữa
tươi trong năm 2015.
Giá sữa bột nguyên kem trên thị trường châu Âu hiện nay đã có dấu hiệu tăng
lên từ đầu tháng 2/2015 với mức tăng so với đầu tháng 1 năm 2015 là 3,51% (từ
2.850 USD/tấn lên 2.950 USD/tấn), trong đó giá sữa tăng 7,41% ở thị trường châu
Đại Dương.
Theo số liệu của Bộ Công thương, 8 tháng đầu năm 2015, nhập khẩu sữa và
sản phẩm từ sữa đã giảm gần 18% so với cùng kỳ năm 2014, với trị giá khoảng
640 triệu USD. Hiện nay tùy theo chất lượng của sữa mà giá sữa tươi thu mua từ
các hộ chăn nuôi bò sữa dao động ở mức 8000 đến 14000/kg.
1.3.3 Cơ cấu giống và quy mô chăn nuôi bò sữa
Đàn bò sữa của nước ta chủ yếu là bò lai HF được lai tạo trong nước 85%, bò
thuần HF và bò ngoại chiếm 15% tổng đàn.
Cả nước đã có 19.639 hộ chăn nuôi bò sữa, trung bình 5,3 con/hộ, trong đó
phía Nam là 12.626 hộ, trung bình 6,3 con/hộ; phía Bắc 7.013 hộ trung bình 3,7
con/hộ. Có 384 hộ gia đình và công ty chăn nuôi quy mô đàn từ 20 con trở lên
(chiếm 1,95%). Quy mô bình quân đàn bò sữa trong nông hộ ở Thái Lan là 17
con/hộ. Tại Indonesia quy mô đàn bình quân 3 con/hộ.
Chăn nuôi bò sữa với quy mô đàn dưới 5 con đang giảm dần, quy mô từ 5-10
con trở lên đang tăng. Theo báo cáo của công ty Dutch Lady, hộ nuôi 8 con vắt sữa
(tương đương 18 con bò sữa/hộ) có lợi nhuận 3%, quy mô 130 con (vắt sữa 59
con), lợi nhuận 14%.
1.4.
Thị trường bơ sữa hiện nay và những ảnh hưởng của chúng
Theo nghiên cứu của BMI (công ty chuyên giám sát doanh nghiệp quốc tế)
nhận định ngành sản xuất bơ sữa ở Việt Nam rất có triển vọng do sản lượng sữa
trong nước không ngừng gia tăng, các công ty sữa liên tục đầu tư mạnh về nông
trại chăn nuôi bò sữa.
Do chăn nuôi bò sữa ngày càng tăng, năng suất sữa ngày càng cao nên giá
thành mua sữa tươi từ các hộ cũng được giảm hơn so với trước đây. Giá mua của
các doanh nghiệp hiện nay chỉ ở mức dao động từ 10 – 14 ngàn/lít có khi giảm
xuống chỉ còn 8 – 9 ngàn/lít. Còn bơ động vật ở nước ta đang rất ít, đa số là nhập
khẩu từ các nước như Mỹ, Newzealand…giá dao động khoảng 170 – 250 ngàn/kg.
Nhìn xa hơn về các nước láng giềng. nước Trung Quốc cũng giống nước ta.
Kết quả nghiên cứu về ngành công nghiệp bơ sữa chỉ ra rằng các công ty nước
Nhà máy sản xuất bơ lên men

Trang 6

Đại học Công Nghệ
TP.HCM

GVHD: ThS. Nguyễn Xuân Nam

ngoài có triển vọng lớn trong việc phát triển kinh doanh ngành bơ sữa tại Trung
Quốc bởi vì các công ty nước ngoài có đủ năng lực cần thiết trong các lĩnh vực
như phát triển sản phẩm, nhãn hiệu và quản lý kênh bán hàng. Như vậy, công ty
phải nỗ lực thật tốt, đầu tư trang thiết bị, nguồn nguyên liệu thật tốt về chất lượng
cũng như về giá thành cho nhà máy sản xuất, rồi sau đó cần có đầu tư về phát triển
sản phẩm, nhãn hiệu và quản lý kênh bán hàng thật tốt thì sẽ rất có triển vọng.
Theo nghiên cứu thì tỷ lệ người tiêu dùng Trung Quốc đang chấp nhận mua
hàng của những quốc gia láng giềng Châu Á và tìm kiếm những sản phẩm có giá
trị gia tăng cao như các sản phẩm sữa uống, bơ, sữa chua. Hiện nay, những sản
phẩm này chiếm 1/4 tiêu dùng sữa và các sản phẩm sữa của Trung Quốc. Tỷ lệ này
sẽ thay đổi khi thu nhập của người Trung Quốc tăng lên. Và trong 5 năm tới, thu
nhập từ việc bán sữa uống, bơ và sữa chua ở Trung Quốc sẽ tăng trưởng lần lượt
22%, 28% và 31% một năm. (Đối với những công ty sản xuất bơ sữa thì đây là tin
vui - những sản phẩm này có thời gian dự trữ bảo quản cao hơn 2 đến 3 lần so với
sữa tươi nên việc vận chuyển đến nguồn tiêu thụ xa là hoàn toàn có khả năng). Từ
đây ta có thể lấn thị trường tiêu thụ sang Trung Quốc và các nước Châu Á.
Chưa kể khi thu nhập của người tiêu dùng tăng lên thì các thành phố cỡ vừa sẽ
trở nên rất quan trọng đối với việc bán các sản phẩm được đóng gói. Với tình hình
hiện nay, các nước không ngừng phát triển, nên thị trường tiêu thụ, nhu cầu cũng
như sức mua của người dân sẽ tăng lên. Ở nước ta có 2 thị trường tiêu thụ lớn nhất
là Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh, nhắm thấy TP.Hồ Chí Minh sẽ có sức mua cao hơn
do đời sống ở đây có vẻ đa dạng hơn, do ở phía bắc đa số phát triển chính là các
món ăn truyền thống nước ta, mà các món ăn truyền thống lại ít hoặc không dùng
đến bơ nên việc đặt nhà máy ở phía bắc không mấy khả thi bằng miền nam, nhưng
ta vẫn có thể phân phối cho các tỉnh miền bắc nếu như có nguồn nhập do sản phẩm
bơ lên men từ sữa của chúng ta có thời gian bảo quản khá lâu nên việc vận chuyển
xa là hoàn toàn có thể.
Thứ ba là hiện nay đã có sự thay đổi lớn về hình thức bán hàng, sự luân chuyển
về kênh phân phối, các kênh phân phối lớn không ngừng mở rộng qui mô và số
lượng như các siêu thị và các đại lý lớn, ngoài ra còn có các kiểu bán hàng online
như facebook, zalo…các dịch vụ giao hàng tận nơi…sẽ làm cho sản phẩm đến gần
với khách hàng hơn với số lượng và tốc độ nhanh đáng kể. Từ đó kênh phân phối
của chúng ta sẽ không ngừng được mở rộng, thương hiệu và sản phẩm bay cao và
xa hơn.
Tuy nhiên, hình thức hiện đại này là con dao hai lưỡi đối với ngành công
nghiệp bơ sữa cũng như các ngành công nghiệp khác. Một mặt, hình thức này tạo
ra những cơ hội để nhà sản xuất phân phối sản phẩm qua một chuỗi cung cấp hiệu
quả hơn (giao hàng trực tiếp đến cửa hàng) và bán các sản phẩm đó cho khách
hàng trong môi trường thân thiện hơn (làm tăng tính dịch vụ chăm sóc khách
hang), từ đó hình thức này giúp gia tăng hàng bán và đẩy mạnh việc bán hàng
thông qua nhãn quang của người tiêu dùng. Mặt khác, hình thức bán hàng hiện đại
này có khả năng đàm phán hơn là những doanh nghiệp nhỏ ở quy mô gia đình.
Thậm chí, các nhà phân phối bán lẻ dưới hình thức hiện đại sẽ đưa ra các sản phẩm
bơ sữa mang nhãn hiệu của chính họ. Chúng ta sẽ có nhiều đối thủ cạnh tranh hơn,
dễ dàng phản ánh và yêu cầu của khách hàng về sản phẩm sẽ cao hơn.
Nhà máy sản xuất bơ lên men

Trang 7

Đại học Công Nghệ
TP.HCM

GVHD: ThS. Nguyễn Xuân Nam

Ngày nay bơ đã và đang là một sản phẩm được sử dụng rộng rãi ở các nước
phương Tây, các nước Đông Âu và châu Mỹ. Bơ đã và đang được sản xuất với quy
mô công nghiệp ở nhiều nước trên thế giới với sản lượng lớn và ngày càng mở
rộng.
Thống kê sản lượng bơ động vật được sản xuất ở một số nước
Quốc gia
Sản lượng (Ib)
Liên Xô cũ
2.500.000.000

2.





Pháp

1.191.000.000

Tây Đức

1.151.000.000

Mỹ

1.128.000.000

Newzealand

586.000.000

Úc

476.000.000

Canada

359.000.000

Đan Mạch

319.000.000

Sản lượng trong nước : tuy ở Việt Nam sản phẩm sử dụng bơ ngày càng trở
nên quen thuộc và bắt đầu trở nên quen thuộc nhưng lại là quốc gia chưa có ngành
công nghiệp sản xuất bơ. Lượng bơ sử dụng chủ yếu nhập từ nước ngoài. Nhưng
trong tương lai ngành công nghiệp sản xuất bơ và các sản phẩm sữa rất có tiềm
năng.
Để thành công, cần phải xây dựng năng lực mới trong các lĩnh vực như phát
triển sản phẩm, nhãn hiệu, kinh doanh, tiếp thị. Sẽ lấy nguồn nguyên liệu sữa bò là
sạch và ngon nhất, quá trình sản xuất phải được tốt nhất, nhân công được huấn
luyện kỹ càng…để tạo ra sản phẩm bơ lên men của chúng ta là ngon nhất có thể.
Trên thị trường trong và ngoài nước hiện nay các công ty không ngừng tìm tòi
mở rộng và phát triển, lĩnh vực bơ lên men của chúng ta cũng không ngoại lệ. Vì
thế phải tận dụng, nắm bắt cơ hội và thời gian để phát triển và vươn xa.
Lựa chọn địa điểm xây dựng
2.1.
Chọn địa điểm xây dựng nhà máy
Bơ lên men là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, trong khi đó nhu cầu sử
dụng hằng ngày của con người cũng tương đối lớn, không những gia tăng cả về số
lượng lẫn chất lượng mà còn đòi hỏi đầy đủ về an toàn vệ sinh thực phẩm. Việc
xây dựng nhà máy sản xuất bơ lên men sẽ đáp ứng phần nào như cầu của người
tiêu dùng trong nước và hướng đến xuất khẩu. Khi nhà máy đi vào hoạt động
không những góp phần giải quyết công ăn việc làm mà còn tăng thu nhập cho
người lao động, mang lại nguồn lợi nhuận to lớn cho nhà đầu tư.
Nhà máy xây dựng phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Vị trí đặt nhà máy gần nguồn nguyên liệu, thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Giao thông vận tải thuận lợi.
Việc cung cấp điện và nhiên liệu dễ dàng.

Nhà máy sản xuất bơ lên men

Trang 8

Đại học Công Nghệ
TP.HCM



GVHD: ThS. Nguyễn Xuân Nam

Cấp thoát nước thuận lợi.
Nguồn nhân lực dồi dào.
2.2.
Vị trí đặt nhà máy
Nhà máy được đặt tại Khu công nghiệp
Long Thành:
+ Địa chỉ: Xã Tam An, huyện Long
Thành, Tỉnh Đồng Nai.
+ Điện thoại: 0643977074 hoặc
061.3514494/03514497.
+ Fax: 061.3514499.
+ Email: longthanhiz@sonadezi.com.vn
+ Website: www.sonadezi.com.vn
+ Tổng diện tích: 488ha.
+ Đất công nghiệp: 303.35ha.
+ Đất nhà xưởng: 4.1ha.
+ Đất còn trống: 96.41ha.
Khu công nghiệp Long Thành thuộc tỉnh Đồng Nai. Nằm trên đầu mối giao
thông quan trọng của khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, Đồng Nai có nhiều
điều kiện thuận lợi cả về đường bộ, đường thủy và đường hàng không để thu hút
đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội. Nhận thức được tầm quan trọng đó, trong nhiều
năm qua ngành Giao thông vận tải đã không ngừng phấn đấu, từng bước xây dựng
hoàn thiện hệ thống giao thông, phục vụ kịp thời nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội
của địa phương và của khu vực.
2.2.1 Đặc điểm tự nhiên của vị trí địa lý xây dựng nhà máy
Địa điểm nhà máy đặt trên khu đất tương đối phẳng có 82,09% đất có độ dốc
0
<8 , kết cấu đất có độ cứng, chịu nén tốt (trên 2kg/cm 2), thuận lợi cho việc đầu tư
phát triển công nghiệp.
Điều kiện tự nhiên:
- Khí hậu: nhà máy nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, khí hậu ôn
hòa, ít bão lụt và thiên tai. Có hai mùa tương phản nhau: mùa mưa và mùa khô.
Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3 hoặc 4 năm sau (khoảng 5-6 tháng), mùa mưa từ
tháng 5 đến tháng 11 ( khoảng 6-7 tháng). Khoảng kết thúc mùa mưa giao động từ
đầu tháng 10 đến tháng 12.
Nhiệt độ không khí trung bình hằng năm từ 25.7-26.7 0C. Mức độ chênh nhau
giữa các năm không lớn. Chênh lệch nhiệt độ cao nhất giữa tháng cao nhất và
tháng thấp nhất 4,20C.
Nhiệt độ trung bình mùa khô từ 25,4-26,7 0C, chênh lệch nhiệt giữa tháng cao
nhất và tháng thấp nhất là 4,8 0C. Nhiệt độ trung bình mùa mưa từ 26-26.8 0C. So
với mùa khô, mức dao động không lớn, khoảng 0.80C.
Lượng mưa tương đối cao phân bố theo vùng và mùa vụ. Mùa khô, tổng lượng
mưa chỉ từ 210-370mm chiếm 12-14,5 lượng mưa của năm. Mùa mưa, lượng mưa
từ 1.500-2.400mm, chiếm 86-88% lượng mưa của năm. Phân bố lượng mưa giảm
dần từ phía Bắc xuống phía Nam và từ giữa ra hai phía Đông và Tây của Đồng
Nai.

Nhà máy sản xuất bơ lên men

Trang 9